Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Bèo giạt (11) – Phong trào tranh đấu chống thanh lọc người tỵ nạn

1                Sau đám ma Hoàng, tôi đi lòng vòng vài nơi mới về phòng Phát Triển Cộng Đồng. Về tới nơi tôi thấy cha Quentin đang ngồi với Cố vấn Trương Mạnh Hùng. Thấy tôi, Cố vấn Hùng nói:

– “Bác Hải lại đây, tôi hỏi chuyện một chút.”

            Tôi đi tới. Sau khi bắt tay hai người xong, tôi vừa ngồi xuống ghế trước bàn cố vấn Hùng, đối diện với cha Quentin, cố vấn Hùng hỏi tôi:

            – “Bác Hải có nghĩ gì về cái chết nầy không?”

            Tôi trả lời:

            – “Việc tranh đấu là không thể tránh được. Đồng bào có nguyện vọng và “oan ức” của họ nên phải đấu tranh. Chỉ chờ có dịp là việc tranh đấu sẽ nổ ra. Đám ma nầy có thể là cái ngòi nổ, là giọt nước làm tràn ly.”

            Cố vấn Hùng nói:

            – “Có gì đâu mà “oan ức”. Ai đến sau ngày “cut off date” thì phải thanh lọc. Chỉ có vậy thôi!”

            – “Tôi không nghĩ đơn giản như Cố Vấn. Trước một ngày, sau một ngày, một bên thì cho đi định cư, một bên buộc thanh lọc. Trên một bình diện nào đó, có thể gọi là bất công. Người vượt biên, khác gì nhau ở người đến trước người đến sau?”

            Cố vấn Hùng ngồi im. Tuy nhiên, tôi không nghĩ ông đồng ý với tôi. Việc thanh lọc là do Cao ủy Tỵ nạn và một số nước trong Liên Hợp Quốc “sáng tác” ra. Văn phòng Cao ủy ở đảo, những người làm việc ở đảo như Cố vấn Hồng Bích, Cố vấn Hùng làm sao họ có thể làm khác. Thậm chí, họ cũng không thể nghĩ khác về các quyết định của Cao ủy Tỵ nạn.

            Ai cũng vì quyền lợi của mình. Thuyền nhân, không những nghĩ mà còn lo, rất lo cho tương lai của mình nên họ phải đấu tranh để giành cho được quyền định cư.

            Ngày 14 tháng 3 năm 1989 là ngày “đóng cửa đảo” ở Mã Lai và Indonesia. Thuyền vượt biên mang số MC 326 đến trước 12 giờ đêm 13 rạng ngày 14 nên khỏi phải bị thanh lọc. Tầu mang số MC 327 đến chậm hơn, sau 12 giờ đêm hôm đó nên phải thanh lọc.

            12 giờ đêm hôm đó là giờ định mệnh. Không cần phải cách nhau một vài ngày hay một vài giờ. Chỉ là phút. Phút trước 12 giờ đêm là vui vẻ, hạnh phúc. Phút sau 12 giờ đêm là nước mắt và chết chóc. Phi lý chính là ở cái phút đó, giây đó trên cái kim đồng hồ.

            Tôi thấy cần nói rõ hơn với cố vấn Hùng nên tôi trình bày:

            –  “Tất cả chỉ là ý đồ chính trị. Nói trắng ra là như thế. Cần đánh sập Cộng Sản thì thuyền nhân (boat people) cũng chỉ là một lá bài, dù đó là một gánh nặng. Nay thấy rõ chắc chắn thắng lợi rồi thì dẹp bỏ lá bài đó đi. Đó chính là nỗi uất của người Việt Nam. Người Việt đã bị lợi dụng trong chiến tranh, bị lợi dụng sau chiến tranh, bây giờ bị rẻ rúng, bạc đãi. Tôi sẽ bị thanh lọc. Tôi hy vọng là tôi sẽ đậu. Dù đậu, tôi vẫn cứ uất ức cho tôi và tất cả cho mọi người.”

            Cô vấn Hùng dặn tôi:

            – “Những điều bác nói, đừng viết trên báo Cộng Đồng, đụng chạm dữ lắm.”

            Tôi trả lời:

            – “Tôi biết, ông Cố vấn! Nó đụng chạm tới đường lối của Cao ủy. Nói cho thật, đó là đường lối của cái gọi là Thế giới Tự do, đứng đầu là Mỹ. Mỹ là con buôn. Có lợi thì nhào vô, không có lợi nữa thì lui ra. Bây giờ họ biến người tỵ nạn thành những đứa con vô thừa nhận. Vớt vài ba người để làm phúc, để được cái tiếng là nhân đạo!”

            – “Nhưng bác phải biết trong số thuyền nhân nầy có biết bao nhiêu là Việt Cộng, cũng phải loại họ ra chứ.”

            Tôi trả lời:

            – “Không loại ra được. Đã là cứu giúp người tỵ nạn thì ai trốn ra khỏi Việt Nam đều là nạn nhân Cộng Sản cả, không thể nói rằng Việt Cộng không phải là nạn nhân của Cộng Sản Việt Nam.

“Dù trong thâm tâm mình không muốn, nhưng cũng phải đón nhận họ. Nguyên tắc đặt ra là như thế, không thể làm khác được. Có khi họ là người chống Cộng, vì lý tưởng, vì thấy rằng chủ nghĩa đó là sai lầm, tàn ác. Nhưng không thiếu gì những tay tham nhũng, ăn cắp, ăn trộm, “bể bạt” chạy trốn ra ngoại quốc. Nhưng ở đây là ngoài Việt Nam, lấy gì để điều tra, xem xét vấn đề, để biết chuyện của mấy tên Việt Cộng ấy đã làm gì ở trong nước, biết rõ mà xét. Hỏi Việt Cộng cũng bằng không. Nó tạo dựng hồ sơ để cho định cư, sau làm tình báo cho nó, như Việt Cộng đã dùng con đường vượt biên nầy để gởi tình báo ra ngoại quốc. Nếu những người nầy chống Cộng thật sự, họ sẽ tạo hồ sơ để mượn tay tư bản giết kẻ chống họ.  Cộng Sản ghê gớm lắm, xảo quyệt lắm, nói không hết được. Tôi đã từng điều tra vài vụ khi còn làm ở Phòng SB.”

            – “Vụ gì?” Cố vấn Hùng tò mò hỏi.

            – “Nhiều tay là cán bộ, cướp tiền rồi vượt biên. Trường hợp Lê Hoàng Vốn chẳng hạn. Chủ nhiệm hợp tác xã huyện Long Phú, hốt một mớ tiền, xong đi Úc. Thứ hai là Trần Triệu, thiếu úy bộ đội, ra quân (giải ngũ), làm giám đốc xí nghiệp, cũng ở Long Phú, hốt một mớ tiền rồi dông ra khơi. Về những tay làm tình báo, tôi chưa gặp, nhưng theo Trần Văn Chính Mù, thông dịch viên cho phái đoàn Mỹ. Mỹ phát hiện một tên Việt Cộng, giả danh làm một đại tá Việt Nam Cộng Hòa.”

            – “Theo bác Hải, Việt Cộng ở đảo nầy có đông không?” Cố vấn lại Hùng hỏi.

            – “Chính danh Việt Cộng thì không đông, đếm chưa đủ năm ngón tay. Nhưng theo Việt Cộng để kiếm ăn thì đông lắm, toàn là thứ tép riu, không đáng quan tâm. Điều đáng nói là, Cố vấn có biết tại sao Bidong có một thời gian dài đã vắng người tỵ nạn, nay bỗng nhiên đầy nhóc như vầy không?”

            – “Không!” Cố vấn Hùng trả lời.

            – “Tại vì Việt Kiều gởi tiền về nhiều quá. Năm ngoái (1988 tg), gởi tiền mặt là gần một triệu. Còn “áo gấm về làng” mang tiền về nữa chi! Việt Cộng hốt một mớ tiền đã quá. Năm nay họ làm lơ, mở cửa cho đi. Vừa thu được tiền người đi, vừa nhận tiền người về. Vì vậy nên Mỹ phải bày ra thanh lọc, chận người đi. Toàn là đòn phép với nhau cả.”

            – “Bác Hải có tham gia tranh đấu không?” Cố vấn Hùng hỏi tôi.

            – “Với Cố vấn thì tui nói thiệt. Vì các con tui chưa qua, nên tui chỉ ủng hộ mà không tham gia. Tuy nhiên, những người có liên hệ đến chế độ cũ sẽ đấu tranh dữ lắm. Họ không thể về lại Việt Nam. Đấu tranh để mà đi, để sống! Về là chết.”

            Trong suốt cả buổi nói chuyện nầy, mặc dù cha Quentin cũng biết tiếng Việt, hiểu những gì tôi và cố vấn Hùng trao đổi với nhau nhưng cha không nói gì. Tới cuối cùng, cha mới nói:

            – “Người ta đi tìm tự do. Tìm ở đâu? Tự do là chính ở ngay trong tim mình.”

            Tôi chỉ cười, không trả lời ông!

            Thế rồi cuộc đấu tranh nổ ra!

            Hôm ấy, tôi không nhớ rõ ngày, có hai thanh niên lấy dao tự đâm vào bụng, máu chảy đỏ cả áo, cũng không nhiều lắm. Thế rồi những người trong nhóm hành động lấy cáng khiêng họ lên Văn phòng Cao ủy. Anh Vân, người đại diện cho những người tranh đấu đưa một thỉnh nguyện thư lên cho Cao ủy (trưởng) Allan. Ông nầy nhận thỉnh nguyện thư, hứa sẽ gởi lên cấp trên giải quyết.

            Thấy có máu đổ, có đồng bào tụ tập đông, ông ta vội vàng yêu cầu cho đưa mấy người đâm bụng đi bệnh viện Sickbay. Nhóm tranh đấu đã không chịu đưa đi, lại không cho băng bó cứu cấp. Việc ấy làm cho Văn phòng Cao ủy hoảng sợ.

            Nếu không cho cứu cấp, không đưa đi bệnh viện, lỡ có án mạng, sinh chuyện lớn thì Cao ủy sẽ chịu trách nhiệm, bị khiển trách. Dĩ nhiên, họ không muốn chuyện ấy xảy ra.

            Thứ hai nữa, dưới quan điểm của người Tây phương, bị thương, tự đâm dao vào bụng là một hành động hung dữ, những người gọi là văn minh không chấp nhận bao giờ. Lại không cho băng bó, không đưa đi bệnh viện thì dã man quá. Điều ấy cũng không thích hợp với những người có văn hóa cao.

            Thế rồi việc dàn xếp xảy ra. Hết Cao ủy trưởng Allan, đến Cao ủy Erick, Cao ủy Francesco ra gặp ông Vân, ông Tám. Ông Tám mới xuất hiện sau. Hai bên giải thích, trình bày, nói qua nói lại, v.v… suốt cả buổi chiều hôm đó nhưng không có kết quả gì.

            Tuyệt nhiên, tôi không thấy ông Cố vấn Hùng xuất hiện ở đây. Có lẽ, sau vụ ông vô ý bôi lọ ông Bửu Tộ, nhiều người chống ông, trong đó có cả tôi, nên ông tránh mặt. Ông biết, ông đang ở caí thế nhiều người chống ông, trước khi xảy ra vụ đấu tranh nầy.

            Thật ra, ông Vân, ông Tám là những người ở mặt nổi. Đằng sau đó, là một “bộ tham mưu”. Dĩ nhiên, những người tôi quen thân ở đảo, tôi từng làm việc với họ, đều ở trong “bộ tham mưu” nầy. Tuy nhiên, tôi cũng đã nói với họ, như tôi nói với Cố vấn Hùng trên kia rằng tôi chỉ ủng hộ, không tham gia. Vì vậy, khi mấy chả họp tham mưu, không có mặt tôi.

            Thật ra, tôi ủng hộ tranh đấu, nhưng phương cách đấu tranh như thế nầy thì tôi không đồng ý. Tôi không đặt vấn đề đấu tranh như thế có “dữ dằn” hay không, có “dã man” hay không nhưng tôi chú trọng tới một điểm khác: Tính bước tới thì phải tính chuyện lui, như đi đánh giặc vậy. Tấn công có hai cách lui. Lui trong thắng lợi hoàn toàn và lui khi không đạt thắng lợi.

            Việc thanh lọc không do quyết định của Cao ủy Tị nạn Pulau Bidong. Nó thuộc Cao ủy Tỵ nạn Liên Hợp Quốc. Tuy nhiên, ngay chính Cao ủy Tỵ nạn Liên Hợp Quốc cũng không có quyền quyết định đơn phương. Đó là quyết định của một Hội nghị Quốc tế có sự tham gia của Cao ủy Tỵ nạn. Nó là “luật quốc tế”.

Cao ủy Tỵ nạn và quốc gia liên hệ (thường gọi là nước thứ hai, có trại tỵ nạn) có nhiệm vụ thi hành. Vì vậy, việc Cao ủy Allan làm là đúng, là hết lòng, ông không thể làm gì hơn được, dù có thông cảm, có thương người tỵ nạn đến đâu, thì cũng chỉ làm được chừng đó thôi.

            Nếu biết quyền hạn họ chừng đó thì những người tranh đấu chỉ nên yêu cầu chừng đó. Làm quá hơn, có nghĩa là yêu cầu họ làm những điều mà họ không thể làm được, là tạo ra mâu thuẫn. Chính vì những người tranh đấu không tính tới chỗ đó, nên tạo ra mâu thuẫn với Cao ủy.

            Cao ủy biết rõ – do đâu mà họ biết rõ thì tôi không biết, vã lại có muốn biết việc nầy cũng không có gì khó – là những người lãnh đạo tranh đấu thì không xuất đầu lộ diện, đứng ở đằng sau giật giây. Những người tự đâm bụng thì tự họ xung phong sau khi nhóm lãnh tụ đưa ra yêu cầu. Những người như ông Vân, ông Tám (chủ tịch phong trào) thì chỉ làm bình phong.

            Vì vậy, khi mâu thuẫn xảy ra, thì mâu thuẫn là giữa những người lãnh đạo và cao ủy. Lãnh đạo thì tránh mặt, những người tiếp xúc với cao ủy thì vô quyền. Cho nên, hôm sau, khi đài BBC phỏng vấn Cao ủy Allan thì ông ta gọi những người lãnh đạo là đầu sỏ (“topdog” – tg (1). Nói như thế là xúc phạm những người tranh đấu, nói chung. Dĩ nhiên, tình hình càng ngày càng thêm căng thẳng.

            Cao ủy Allan đã gọi như thế thì phong trào không còn nhờ cậy, hy vọng gì nơi ông cao ủy nầy được nữa cả. Cao ủy thì tìm cách chống lại phong trào.  Những cuộc biểu tình tiếp sau đó trở thành những cuộc biểu tình “đã đảo Cao ủy” chớ không còn là đòi hủy bỏ thanh lọc. Thay vì những người tranh đấu nhờ Cao ủy tìm hiểu hoàn cảnh của họ, thông cảm họ và đệ đạt lên trên những yêu cầu, có biện pháp nào đó giúp đỡ người tỵ nạn thì lại đẩy nhau vào cái thế chống đối lẫn nhau, từ giúp đỡ trở thành chống đối, thành thử kết quả không những không có gì đáng khích lệ mà tạo thành mâu thuẫn giữa người tỵ nạn với nhau, giữa Cao ủy và người tỵ nạn, giữa người tỵ nạn và Lực lượng Đặc nhiệm Mã Lai. Lực lượng nầy gồm những binh lính, quen sự hung dữ, đàn áp, đánh đập tàn bạo, nhốt vào nhà giam (gọi là monkey-house) mà về sau, rất nhiều người là nạn nhận của bọn lính tráng nầy.

            Trước kia, khi những người bị nhốt vào “nhà giam” (monkey-house) thường được Cao ủy, giúp đỡ, can thiệp. Bây giờ thì ngược lại, Lực lượng đặc nhiệm Mã Lai, có lẽ có sự phối hợp với Cao ủy tỵ nạn như thế nào đó, mà những người tranh đấu bị giam không còn được Cao ủy chiếu cố nữa và những người hỏng thanh lọc bị chuyển trại. Thay vì còn ở lại Bidong như trước, họ bị chuyển qua trại Sungei Bési là trại nằm trong đất liền, gần thủ đô Kuala Lampur.

Sau nầy, khi Phong trào Tranh đấu lắng xuống, sinh hoạt rời rã, có dịp nói chuyện với các anh em đứng đầu cuộc đấu tranh nầy như Nguyễn Dương Hảo, Bửu Tộ, Hồ Đắc Liệu, Bác sĩ Hồng Khắc Xuân Vinh, Tăng Thanh Thảo, Nguyễn Văn Tám tôi cho rằng “Anh em mình có tính cực đoan, đấu tranh thì phải làm cho dữ vào mà không nhìn thấy bản chất đối tượng thành ra thất bại.”  Anh em có người không đồng ý với tôi, nhưng công nhận rằng nếu cho rằng Cao ủy Tỵ nạn trên đảo là đối tượng thì sai rồi.

Khi Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng là giám đốc hay chức vụ gì đó, của “People SOS” đến trại Sungei Beshi nói chuyện với các anh em ấy, – khi ấy tôi còn ở đảo – thì người ta thấy tuyệt vọng. Dù là Cao ủy Liên Hiệp Quốc cũng không làm gì được. Thanh lọc là kết quả từ một cuộc họp quốc tế về người tỵ nạn. Nhưng chắc chắn là người Mỹ và các nước Tây phương đứng đằng sau hội nghị nầy.

Khi người Mỹ buông tay, Miền Nam sụp đổ, “có súng mà không có đạn”, như người ta thường nói, thì còn đánh chác gì nữa. Vấn đề cứu người hỏng thanh lọc không còn chỉ là nhiệm vụ của người tỵ nạn mà của toàn thể Cộng đồng người Việt tỵ nạn, dù chưa được định cư hay đã được định cư rồi, đã lâu hay mới. Việc đó khó như bắt chim trên trời bằng tay không. Tuy nhiên, cũng nhờ tất cả những cuộc đấu tranh của tất cả người Việt, dĩ nhiên là không có Việt Cộng, cũng đã có kết quả đấy. Những người trở về, sau nầy cũng được định cư tại Mỹ, theo chương trình mà người ta gọi là “diện ROVR.”

            Việc mâu thuẫn giữa Cố vấn Hùng và anh em chúng tôi cũng làm cho sự hợp tác do ông Cố vấn Hùng kéo tôi về phòng Phát Triển Cộng Đồng cũng mau tan rã.

            Khi tôi về làm việc ở phòng nầy thì Cố vấn Hùng có sáng kiến thành lập môt Trung tâm Dịch vụ, đảm trách các công việc như hớt tóc, sửa và may quần áo cho đồng bào tỵ nạn, sản xuất các vật lưu niệm bán cho người đi định cư… Dịch vụ nầy có trả tiền, rẻ hơn các hàng quán tư nhân ở ngoài. Người điều hành trung tâm dịch vụ nầy là kỹ sư Nguyễn Dương Hảo. Khi anh Hảo qua trại Marang ở đất liền để thanh lọc, công việc được giao lại cho anh Bủu Tộ. Không hiểu do đâu, và do động cơ nào, một buổi tối, trời đã khuya, có phát thanh trên loa: Cố vấn Hùng yêu cầu anh Bửu Tộ phải trả chìa khóa Trung tâm Dịch vụ lại cho ông Cố vấn gấp, nội trong đêm nay. Nếu không, ông Cố vấn sẽ yêu cầu lực lượng Mã Lai truy tìm anh Bửu Tộ.

            Ông Bửu Tộ, kỹ sư canh nông, là người rất vui tánh, hòa nhã với mọi người, được nhiều người yêu mến, thế tại sao có thông cáo khẩn cấp nầy. Thông cáo lại có tính cách nhục mạ, làm như Bửu Tộ là tội phạm không bằng.

            Sáng hôm sau, đến làm việc, tôi hỏi ông Cố vấn Hùng tại sao lại có cái thông cáo lạ lùng như thế. Cố vấn Hùng không trả lời tôi. Tôi nói với Cố vấn Hùng, nếu ông không tôn trọng người khác, làm sao người khác tôn trọng ông được. Cố vấn Hùng cũng chẳng trả lời tôi. Chán nãn, tôi bỏ về. Tôi nghĩ rằng, nếu cần, ông ta sẽ gọi tôi lên giải bày sự việc. Nếu ông không cần tôi nữa, thì ông sẽ không gọi và tôi cũng nghỉ việc luôn, chẳng lên làm việc lại. Làm việc với ông ta, biết đâu, có ngày tôi cũng sẽ có một cái thông cáo giống như ông Bửu Tộ.

            Đời có nhiều tấn tuồng. Và đây cũng là một tấn tuồng!

Tuy nhiên, điều tôi thường suy nghĩ là khi Cố vấn Hồng Bích hết nhiệm kỳ, rời đảo, người đưa tiễn cô đứng đầy đặc cả bãi biển khu A. Có nhiều người đi theo cô tới đầu cầu jetty, nắm tay cô mà khóc.

Cố vấn Hùng rời đảo lặng lẽ, âm thầm, một mình, không một người tiễn chân, ngay cả cô Mỹ Duyên là người từng làm việc thân cận với ông.

Đó cũng là một tình người đáng buồn, chẳng có gì vui.

hoànglonghải

(1) Phải chi ông ta gọi họ là “ringleader” cho nhẹ một chút có hơn không?! Gọi là “topdog” nghe nặng nề quá, không thích hợp với một người làm công việc nhân đạo, cho người tỵ nạn. Thật ra, ông ta cũng làm vài việc đáng quí lắm. Có một dịp về Mỹ, ông ta đi “xin” các hiệu sách ở Cali, cho không một số sách đem về cho phòng Phát Triển Cộng Đồng. Tôi là người trông coi tủ sách nầy, cho nguời tỵ nạn đến mượn về đọc. Dĩ nhiên, cũng có người mượn mà “quên” trả. Trước khi rời đảo, ông kết hôn với Cao ủy Hồng Bích. Vợ trước của ông, cũng là một người Việt, đã qua đời.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

1 Comment on hoànglonghải – Bèo giạt (11) – Phong trào tranh đấu chống thanh lọc người tỵ nạn

  1. Già tôi được may mắn,không phải qua ải vượt biên mà được đi theo diện ODP vào năm 1985,dù cắm cúi vác cầy cho bầy trẻ học hành ,nhưng cũng đã biết nhiều tin tức trong vụ “Thanh Lọc” tại trại “Hồng Kông ” và “Mã Lai”,có thương tâm nhưng cũng chả biết làm sao giúp ngoài việc đóng góp chút ít cho các hội gây quĩ tỉ như sau đó có vụ xây làng VN ở bên Phi Luật Tân do Soeur (quên tên) chủ trương.Tiếc thay,công việc đó cũng có lắm điều dị nghị ,sau này có TS Nguyễn Đình Thắng chủ trương Boat People SOS có hiệu quả và rồi cũng tiếng chầy tiếng cối trên báo chí,mình nghĩ thật nản !! Cám ơn thầy Hải cho biết nhiều về tình trạng cũng như tình người của dân mình trên bước đường tị nạn cộng sản VN.Chính bản thân vốn xuất thân là lính con từ 14 tuổi ở Vũng Tầu cho đến ngày đi tù CS hết 6 năm,khi ở trại Bataan/bên Phi ,cũng bị chụp cho cái mũ “TR/U đặc công CS”chỉ vì không chịu vô nhóm có ông chủ tịch mà sao giống Hồ chí Minh quá !!

    Số lượt thích

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: