Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Bèo giạt (10) – Hai lần chết

1Giới thiệu:

            Trước khi viết về việc “Thanh Lọc Người Tỵ Nạn”, tôi xin giới thiệu độc giả truyện ngắn sau đây, là một sự kiện có thật, về một thanh niên tự tử ở đảo Pulau Bidong, sau khi bị từ chối quyền tỵ nạn chính trị, nôm na là “hỏng thanh lọc”.

 

            Bài viết theo thể tự truyện.

 

 

            1)- Nếu nói theo nghĩa đích thực của hai tiếng bạn bè thì tôi và Hoàng là bạn. Có thể là bạn theo nhiều ý nghĩa nữa: Bạn thời thơ ấu, bạn học ngay từ hồi ấy, bạn cùng phường, cùng xóm, đồng hương… Và bạn “truyền thống gia đình”, có nghĩa là ba Hoàng và ba tôi, hai người là bạn của nhau. Hai gia đình là bạn, hai ông là bạn học, bạn đồng ngũ và cuối cùng là bạn “tù cải tạo”… Tôi và Hoàng không có tình yêu, chúng tôi yêu nhau theo tình bạn, hoàn toàn không phải tình yêu trai gái như mọi người.

            Vượt biên, nhất là sau khi đến đảo, chúng tôi đang hướng tới tương lai: Định cư, tiếp tục học hành, có công ăn việc làm và giúp đỡ gia đình, bà con… Bao nhiêu gánh nặng đang chờ trước mặt, và sẽ nghiêng vai gánh lấy vì tình yêu thương và trách nhiệm. Làm sao tôi có thể nghĩ khác đi được, làm sao có thể yêu nhau được, cưới hỏi, lo riêng cho đời mình, trong khi bao nhiêu gánh nặng đang chờ!

            Ngày “giải phóng”, nói cho trung thực là ngày 30 tháng Tư, ngày Cộng Sản ngoài Bắc vào chiếm miền Nam, tôi và Hoàng mới 7 tuổi. Tôi và Hoàng cùng tuổi.

            Tôi và Hoàng đang cùng học lớp ba trường của phường.

            Ba tôi và ba Hoàng đều là sĩ quan chế độ cũ nên cả hai ổng kéo nhau đi ở tù. Tới đó, cuộc đời tôi và Hoàng bước qua một khúc ngoặt, nghĩa là từ đó, tôi và Hoàng đã cùng trường, cùng lớp thì nay cùng cảnh ngộ, cùng là nạn nhân của chế độ nên tôi và Hoàng gần gũi nhau hơn.

            Ở Việt Nam, không phải lên tới đại học, học sinh mới bị kỳ thị, xét lý lịch, thành phần giai cấp. Ngay ở bậc tiểu học, tôi và Hoàng là “một cặp nạn nhân kỳ thị của chế độ” rồi. Cô giáo vẫn là cô giáo cũ, được lưu dung. (1) Lúc ấy cô chưa vượt biên. Tuy nhiên, hiệu trưởng là người mới, ở trong rừng mới ra. Ông ta là đảng viên. Ông hiệu trưởng cũ được lệnh đi “học tập 7 ngày”. Thế rồi ông đi luôn, không trở lại, không trở về trường cũ. Tuy nhiên, một năm sau, một ông đảng viên ngoài Bắc vào “chi viện” thay thế cho ông người Nam ở trong rừng ra.

            Thay hiệu trưởng có nghĩa là thì vòng xiết vào cổ thành phần giai cấp chặt hơn, “triệt để” hơn. Nói rõ ra thì tiêu chuẩn lao động phải cao hơn những học sinh khác, những học sinh mà cha mẹ chúng không quan hệ gì tới chế độ cũ cả. Lao động nhiều hơn thì dĩ nhiên bị phê bình nhiều hơn, tự phê, tự kiểm điểm nhiều hơn,  chẳng qua vì là trẻ con, sức yếu như tôi với Hoàng làm sao có thể hoàn tất chỉ tiêu lao động ngày càng cao lên.

            Tôi và Hoàng còn bé quá, thường rất vô ý, thiếu cẩn thận, nên dễ phạm khuyết điểm. Ví dụ như quét lớp, các bạn khác quét dơ một chút cũng không sao, nhưng tôi với Hoàng, dù vô tình còn sót lại một cọng rác, cũng bị phê bình nặng nề. Rất nhiều khi tôi và Hoàng bị phạt, tái phạm ra đứng cột cờ. Cách trừng phạt thường mang tính sĩ nhục, làm đau đớn tâm hồn trẻ thơ.

            Nhà trường cố ý như thế đối với thành phần con em chế độ cũ. Làm nấm rơm chẳng hạn, chỉ tiêu cao hơn. Cuốc đất trồng rau, thành phần nầy cuốc một diện tích lớn hơn. Con cái nhà bóc lột, khinh lao động thì nay phải lao động cho biết giá trị lao động.

            Đối với việc kỳ thị, phân biệt đối xử như thế, không bao giờ Hoàng có ý kiến. Hoàng hiền lắm. Tôi thì tức, nói với mẹ, lại càng tức hơn. Mẹ bảo: “Lao động càng nhiều càng tốt, có chết chóc gì đâu mà lo. Làm việc không chết ai!” Đại khái mẹ bảo thế nhưng tôi biết mẹ tôi không vui. Chẳng qua mẹ nói như thế là vì sợ tôi chán học, bỏ học.

            Đáng buồn hơn nữa là những đứa bạn học cũ. Ngày trước chúng nó cũng dễ thương. Nhưng vì cha mẹ không liên quan gì tới chế độ cũ nên chúng được “cách mạng ưu tiên”, giao cho nhiệm vụ nầy nhiệm vụ khác, chỉ huy các bạn. Có đứa lên mặt, ta đây và tỏ vẻ “khinh khi con nhà phi lao động”, nhất là những khi tôi và Hoàng bị “treo khăn”, nghĩa là không cho quàng khăn đỏ một hay hai tuần. Đó cũng là một hình thức trừng phạt, sĩ nhục. Đã bị “treo khăn”, khó đạt tới danh hiệu “Cháu ngoan bác Hồ.”

            Những người cùng chung hoàn cảnh thường đến với nhau để tìm sự an ủi. Hoàng và tôi trở thành một “cặp nạn nhân”, nên gần gũi nhau hơn. Đi học, chúng tôi đi với nhau. Hoàng tới nhà gọi tôi hay tôi tới nhà Hoàng, để thấy mình bớt cô đơn, lạc lõng giữa một ngôi trường chúng tôi đã theo học từ khi còn thơ ấu, đã mấy năm nay rồi. Có chỗ dựa nhau như thế, tôi và Hoàng mới đủ can đảm đến lớp, đủ can đảm di thẳng vào chỗ ngồi trong lớp.

            Tính tình Hoàng hiền. Cũng từ đó, Hoàng “bi quan” về cuộc đời, về việc học, về tương lai, về gia đình. Tôi cũng vậy thôi, mặc dù hai đứa chúng tôi chưa đứa nào quá mười tuổi.

            Có một lần Hoàng bị té, trặc ty, đau lắm, ôm không đủ tiêu chuẩn rơm để làm nấm, bị phê bình. Khi bị gọi tên, Hoàng đứng lên. Từ chỗ đứng, Hoàng ngó về hướng tôi. Mắt Hoàng buồn và đau khổ không thể tưởng tượng được. Tôi nhớ hoài cái nhìn đó, cũng khó mà quên cặp mắt đó, của một đứa bé chưa tới mười tuổi, đau khổ đến như vậy. Cặp mắt biểu lộ sự đau khổ vì thân phận, vì “tội tổ tông” – tội cha ông theo “ngụy” – không phải tội của nó. Nó như cặp mắt của một con nai con bị thương, một vết thương đau đớn lắm, một vết đâm, một vết dao trí mạng. Cặp mắt biểu lộ một sự tuyệt vọng vô bờ bến, như muốn kêu cứu mà không kêu được. Cái nhìn hôm ấy làm tôi nhớ một đời.

            Về hoàn cảnh gia đình, Hoàng có những cái đáng thương hơn tôi. Tôi gần út, có nhiều anh, nhiều chị, cũng có em để chơi với em. Mẹ tôi có cửa tiệm buôn bán từ trước, nên bây giờ cũng đỡ vất vả. Hoàng chỉ có hai chị em. Người chị lớn hơn Hoàng hai tuổi. Ba Hoàng đi tù cải tạo chưa bao lâu thì gia đình Hoàng sa sút thấy rõ. Đến chơi, tôi thấy một số đồ đạc trong nhà vắng dần đi. Còn bé,  tôi không biết, bèn hỏi. Mẹ Hoàng dấu, dấu cái nghèo. Mẹ Hoàng bán dần đồ đạc để có tiền đi thăm nuôi chồng. Mẹ tôi biết tôi tò mò, rầy tôi một trận dữ. Tò mò chuyện nhà người khác là thiếu giáo dục. Nó hoàn toàn đối nghịch với điều cách mạng giáo dục là “đấu tranh”. Tò mò để biết, để đấu tranh với những biểu hiện xấu của hàng xóm. Tò mò đến cái nghèo của người khác, mẹ bảo là bất nhân, bất nhẫn. “Đèn nhà ai, nhà nấy rạng”. Có biết cũng chỉ để trong lòng.”

            Đầu năm 1976, sau khi ba Hoàng đi ở tù được nửa năm, để nuôi con, mẹ Hoàng phải đi buôn, gọi là buôn chuyến. Mẹ Hoàng mua hàng từ miền Tây lên bán Saigon, mỗi thứ một ít để tránh con mắt bọn kiểm soát kinh tế. Gạo, đậu, tôm khô, cá khô, đậu đem lên Saigon. Vải, xà bông, thuốc lá từ Saigon về miền Tây. Cứ mỗi chuyến đi, mẹ Hoàng thường ngủ đêm ở Saigon. Do công việc, buôn bán, mẹ Hoàng thường vắng nhà. Ở nhà chỉ còn hai chị em với nhau, lo chẻ củi, lặt rau, quét nhà và nấu cơm. Tối lại, vắng mẹ, hai chị em học bài xong thì ôm nhau nằm ngủ. Hoàng không có nội, không có ngoại, là con trai độc nhứt, vai em, muốn ngủ thì lăn ra ngủ, chị Hoàng phải treo mùng, đắp mền cho em, rầy em như mẹ rầy con tuy lớn hơn em có hai tuổi.

            Nhà thật vắng, nhiều lần tôi đến nhà gọi Hoàng đi học, trong nhà không nghe một tiếng động, im vắng đến độ tôi nghe được cả tiếng con mọt đục trên sà nhà. Nói với Hoàng chuyện đó, Hoàng có những ý nghĩ rất tức cười. Hoàng nói đêm nghe tiếng mọt đục mái nhà rõ lắm. Hoàng sợ sập nhà, đè chết người. Lỡ Hoàng chết, ba hoàng về, chác ba buồn lắm.

            Cuộc sống đó kéo dài được ba năm, đến khi ba tôi được tha về. Ba Hoàng thì không bao giờ về nữa cả. Ba Hoàng chết trong trại cải tạo vì cuốc nhằm mìn. Mìn nổ, ông chết ngay tại bãi lao động. Mấy năm mẹ Hoàng buôn bán thất bại, nhà nghèo lắm. Mẹ Hoàng không đi thăm chồng được. Mãi đến khi ba tôi về, kể chuyện, gia đình Hoàng mới biết ba Hoàng qua đời rồi. Mẹ Hoàng dẫn con trai lên thăm chồng, chỉ còn là nấm đất, mộ hoang, không ai chăm sóc, cỏ sậy um tùm.

            Mẹ Hoàng xin bóc mộ về, ban chỉ huy trại không cho, sợ gây “dư luận xấu” ở địa phương. Năm sau, mẹ Hoàng lên thăm, Hoàng cũng được theo mẹ. Đơn vị quân đội quản lý trại giam đã rút đi, ra biên giới. Khu mộ ba Hoàng bị cày mất, không còn dấu tích gỉ nữa cả. Vốn đa cảm, hay buồn, Hoàng lại càng buồn hơn vì sự việc mất mồ của cha. Đó là những biến cố lớn, rất lớn đối với Hoàng. Còn tiếp tục đi học được phải là một sự cố gắng rất lớn của Hoàng.

            Năm hết lớp chín, lên cấp ba, Hoàng dự tính bỏ học. Cha chết rồi, sức khỏe của mẹ cũng xuống lắm. Hoàng sợ mẹ khổ, kiếm việc làm để mẹ bớt khổ. Thế rồi bao nhiêu người xúm lại khuyên: Mẹ Hoàng, chị Hoàng, cả tôi nữa. Tôi cũng khuyên Hoàng đi học. Mẹ Hoàng khóc vì con bỏ học. Chính giọt nước mắt của người mẹ đã làm cho con suy nghĩ lại, lại cố gắng. Hoàng tiếp tục, học cấp ba. Không những tiếp tục học, Hoàng lại học giỏi nữa. Cái đáng thương của Hoàng là ở chỗ ấy. Khi biết mình học sẽ làm nhiều người vui nên Hoàng cố gắng học. Có lần Hoàng nói với tôi: “Học cho giỏi. Còn không học được nữa là ở chế độ, không phải do mình.”

            Tôi và Hoàng học chung với nhau thêm ba năm nữa, tốt nghiệp trung học, cùng thi vào đại học nông nghiệp và cùng hỏng.

            Hỏng là vì  “thi lý lịch”. Cách mạng là vậy thôi! Thi hỏng nhưng tôi có điều an ủi. Học giỏi như Hoàng, làm bài giỏi như Hoàng, còn hỏng, huống gì tôi.

            Thi hỏng rồi, cả hai đành bỏ học. Mỗi người kiếm một việc kiếm sống.

Dòng sông chung một nguồn, từ trên núi tuôn về, qua bao nhiêu ghềnh thác. Nay dòng sông chia hai, mỗi người một phương. Cuộc kiếm ăn tất bật, từng ngày, từng bữa, cũng không còn thì giờ để nhớ, để nghĩ đến nhau nữa!

            Điều bất hạnh, cái buồn bao giờ cũng dai dẵng, lịu bịu. Tôi đi xin việc làm, chẳng nơi nào nhận. Những đứa bạn lý lịch tốt còn đầy ra đấy, chưa tìm ra việc, huống gì những đứa như tôi, như Hoàng. Chúng tôi chỉ có một nơi để tới mà không cần khai lý lịch: Chợ Trời! Chợ trời là nơi tập họp những ai thuộc chế độ cũ, thuộc “giai cấp bóc lột”, “phi lao động”.

Thật ra, Chợ trời là đầu não của sự phát triển thương nghiệp của miền Nam Việt Nam sau 1975. Chợ Trời là nơi có đủ mặt hàng, từ hàng quí như vàng, bạc, hột xoàn, cho tới những mặt hàng nặng và có “tính chiến lược”như sắt thép, ximăng và cả tới mì lát, bột khoai, rau cỏ cho thực phẩm gia súc. Mặt hàng được giới thiệu ở đó, giá cả, trao tiền ở đó, và nhận hàng giao hàng ở một nơi khác, không ít khi là từ kho của nhà nưóc, công ty, xí nghiệp, v.v…

            Tôi hụp lặn trong cái chợ Trời đó, bị nó hớp hồn, làm cho quay tít, và gặp Hoàng một lần chót: Hôm đám cưới chị Hoàng.

            Chị Hoàng đi lấy chồng. Tôi biết Hoàng thêm cô đơn, thêm buồn. Nhưng trong sự quay cuồng, đầu tắt mặt tối của một cuộc sống giành giật và hết sức tất bật, tôi lo thân tôi còn chưa xong. Tôi không lo gì cho Hoàng được, dù một lời an ủi như khi còn đi học.

            Nhà Hoàng chỉ có hai chị em. Chị em hơn nhau hai tuổi, dễ gần gủi và tâm sự, có khi được vài câu nói đùa. Chị lấy chồng rồi, em lại lui cui một mình.

            Hoàng lại rất đa cảm và ủy mị nên thưòng tìm một chỗ dựa tinh thần. Ở trường, chỗ dựa tinh thần của Hoàng là tôi. Cặp mắt buồn và cầu cứu là một hình ảnh ám ảnh tôi chẳng bao giờ nguôi. Ở nhà, Hoàng có mẹ, có chị.

            Chị Hoàng nổi tiếng đẹp ở xứ tôi. Chị kén không lấy chồng xa, lấy chồng gần để được gần mẹ, gần em. Chị biết mình lấy chồng, em mình buồn nhiều hơn.

Chị Hoàng sắp đặt cho Hoàng và chị ấy cùng chồng vượt biên. Tránh khỏi chế độ là trốn dược một nỗi buồn triền miên. Được đi học, thấy tương lai, mẹ và chị hy vọng Hoàng sẽ vui tươi hơn trong cuộc sống tự do.

            May mắn, tôi đến Bidong nửa tháng trước cái ngày oan nghiệt ấy, ngày 14 tháng 3, ngày đóng cửa đảo. Hoàng lại đến sau ngày ấy. Thật tội nghiệp cho Hoàng. Tôi và Hoàng gặp nhau ở đảo là hoàn toàn tình cờ. Chuẩn bị, rồi ra đi, không ai hẹn với ai cả.

            Gặp lại Hoàng trên đảo, tôi rất vui, rất mừng, coi như trời sắp đặt cuộc hội ngộ bất ngờ nơi xứ người, trên một hòn đảo xa xôi, giữa đại dương. Đường đi thì gần tới. Đường về thì mịt mù, xa cách.

            Hoàng thì ngược lại. Trong khi tôi mừng đến phát khóc thì Hoàng vẫn trầm ngâm. Lại hai con mắt buồn như thuở nào. Tôi không tìm thấy trong mắt Hoàng một chút hy vọng gì ở tương lai, một nỗi vui mừng nào. Một tai nạn lớn đã xảy đến cho Hoàng. Chị của Hoàng bị nạn trên đường vượt biển.

&

            2)- Chị tôi lấy chồng, nhà chỉ còn mẹ và tôi. Tôi muốn mãi mãi sống bên mẹ. Khi nào mẹ qua đời rồi, việc gì tới sẽ hay. Tôi không muốn vượt biên một mình, không có mẹ đi theo. Để mẹ lại cho ai? Tôi là nguồn vui, an ủi của mẹ, là nơi mẹ nương tựa. Vậy mà rồi tôi đi, để mẹ lại. Bây giờ mẹ một thân một mình ở quê nhà.

            Tôi lớn lên trong một xã hội đầy những kỳ thị bất công mà tôi gánh chịu từ khi còn ấu thơ. Tôi đã trải qua những năm tháng dài dằng dặc với những nỗi nhục nhằn hằn trên vai, trên tâm hồn tôi. Nói như người ta hay nói, tôi lớn lên trong xã hội nầy với những vết hằn ăn sâu vào tâm hồn tôi bằng cuộc đời đầy sĩ nhục, đau đớn vì mẹ tôi gian nan vất vã, đầy uất hận vì cha tôi đã chết trong tù.

            Tôi cố quên đi những thù hận. Người dân quê tôi không quen thù hận, chỉ biết tu hiền. Tôi cố bắt chước ông bà cha mẹ bà con xóm làng, quên đi thù hận để lớn lên và kiếm tìm một cuộc đời tươi sáng hơn.

            Thế nhưng anh chị của tôi lại khác. Sau khi cưới, cuộc sống anh chị ấy càng ngày càng khó khăn. Dĩ nhiên, khó khăn là do động cơ chính trị. Tôi biết anh chị tôi yêu nhau lắm. Nếu một trong hai người mất đi, người còn lại khó sống nỗi. Thế rồi anh chị ấy quyết định trốn đi.

            Chị tôi về nhà bảo tôi cùng vượt biên với anh chị ấy. Dĩ nhiên, tôi trả lời rằng tôi không đi. Mẹ đó, còn mẹ đó, không thể nào tôi đi được.

            Biết tôi vì mẹ nên không muốn đi, chị tôi nói chuyện ra đi với mẹ. Mẹ tôi đồng ý cho tôi đi nhưng tôi vẫn không chịu đi. Nghĩ đến chuyện đi, nhiều đêm, thương mẹ, tôi không ngủ được. Có những đêm, khuya lắm, tôi vẫn nằm co bên mẹ, như những năm ba tôi ở trong trại tù cải tạo.

            Một hôm, mẹ tôi lục những thư và hình cũ của ba má. Hình ba tôi khi còn nhỏ, hình khi học năm đầu ở đại học Saigon, hình sinh viên sĩ quan ở quân trường. Tôi để ý hình nầy nhiều nhứt, với cái huy hiệu gắn trên mũ có mấy chữ “Cư An Tư Nguy”. Hỏi, mẹ giải thích. Đó là châm ngôn của trường: Khi sống trong an lành, phải đề phòng những gì nguy hiểm sẽ xảy đến. Mẹ nói khéo: “Như bây giờ mình nên nghĩ tới những nguy khốn ngày mai.”

            -“Nguy khốn gì, mẹ” Tôi hỏi. Mẹ nói: “Mình thuộc chế dộ cũ, sống bình yên trong chế độ nầy làm sao được!”

            Ít hôm sau, mẹ tôi lại bảo: “Ba có một ước vọng, nhưng vì chiến tranh, ba không thực hiện được.”

            Tôi lại hỏi mẹ: “Ước vọng gì vậy mẹ?”

            – “Học! học cho thành tài. Ba đang đi học thì bị gọi động viên. Ba đi lính, không than oán, không hứng thú, nhưng đất nước như thế thì ba không đi không được. Khi con sinh ra, ba bảo ba hy vọng con sau nầy sẽ thực hiện được ước vọng của ba. Ngày con không vào được đại học, Mẹ cũng buồn. Nhưng mẹ hiểu cả.”

            Tôi hỏi:

            – “Nếu con vượt biên, con tiếp tục học thêm nữa được không?”

            – “Cơ hội tốt đó con. Thời ba, muốn du học đâu phải dễ. Qua bển, nhiều người đi học lại, thành công. Sao con không đi, học cho xong. Ba vui lòng lắm.” Mẹ nói.

            Tôi nói:

            – “Bỏ mẹ lại một mình không được đâu!”

            – “Có gì không được. Có con đây mẹ mới lo. Con đi rồi, mẹ một mình, buôn bán qua loa, sống được chán!”

            Một tuần sau, cô tôi về ở chung với mẹ. Bà cô nầy là chị ba tôi, góa chồng khi còn trẻ, không có con cái gì, mấy chục năm nay bà vào chùa tu. Sau mấy vụ phản kháng ở chùa của các tu sĩ, chùa bị niêm phong. Bà cô tôi về ở tạm chùa tỉnh. Để gián tiếp khuyến khích tôi vượt biên, chị tôi mời bà cô về ở chung với mẹ. Hai bà già góa chồng ở chung với nhau, làm cho tôi yên lòng.

            Định mệnh! Tôi nghĩ như là một định mệnh.

Mọi việc đâu cứ tuần tự đi tới, từ những ước nguyện vô hình của ba tôi khi ông còn trẻ, cho tới những sự kiện liên tiếp xảy do mẹ tôi sắp đặt, đẩy tôi vào cái thế không đi không được. Thế là tôi vượt biên.

            Ra khỏi hải phận Việt Nam, ai cũng mừng! Rời xa quê hương, bỏ quê hương mà đi, lại mừng? Kỳ không? Nhưng sự thật là vậy, ai đau lòng mặc ai! Ghe tôi gần ba chục người kể cả anh chị tôi và tôi.

            Bốn bề là biển mênh mông. Sóng nhẹ! Tài công cứ hướng mặt trời mọc là hướng đông thì nhắm hướng nam mà chạy. Chiếc ghe nhỏ, máy nhỏ, tiếng máy xình xịch mệt nhọc, đưa chiếc ghe vượt biên cũ kỹ đi về hướng nam.

            Đến chiều, mặt trời sắp lặn xuống chân trời. Màu biển đậm dần, chân trời màu tím dâng cao lên. Tôi không còn tâm trí nào để thưởng thức cái đẹp lạ lùng của biển vào lúc chiều hôm.

            Xa xa, cuối chân trời, có mấy đốm đèn. Người ta chỉ chỏ, biểu tài công chạy về hướng ấy. Người ta đoán chừng đó là giàn khoan dầu. Tới được giàn khoan, người vượt biên hy vọng sẽ được giúp đỡ.

            Bỗng có hai chấm đen hiện ra, càng lúc càng to dần. Đó là hai chiếc ghe đang hướng về ghe của tôi. Tới gần thì rõ là ghe Thái Lan. Trên cabin tầu viết những chữ Thái, thứ chữ, có lần, khi còn đi học, tôi đã nghe bạn bè nói đùa: “Chữ như con rắn nằm vắt hàng rào.” Ở mũi ghe, tấm nylon che mất số tàu. Bọn hải tặc Thái Lan sợ người ta thấy số tàu của chúng.

            Ghe hải tặc Thái Lan. Bây giờ thì rõ là ghe hải tặc Thái Lan, không còn nghi ngờ gỉ nữa. Bọn chúng biết ghe vượt biên hay tìm tới các giàn khoan để xin giúp đỡ, nên chúng cũng lẩn quất quanh đó để tìm ghe vượt biên.

            Hai chiếc ghe Thái Lan cặp hai bên ghe vượt biên. Ba tên hải tặc cầm dao sắc nhảy qua. Cả mấy chục người vượt biên ngồi im, cúi đầu, chịu trận. Không ai có một tấc sắt, một cái gậy để phản ứng. Một tên hải tặc nhảy lên cabin. Tài công chấp tay lạy, bị chém một dao ngang lưng, té sấp xuống sàn, máu tuôn lai láng. Chúng làm thế để tàu không còn ai điều khiển. Xong cả ba tên đi lùng sục tìm con gái. Một cô bị nắm đầu tóc, lôi ra. Cô ta la khóc, lạy lục. Bên ghe Thái Lan, một tên quăng qua một sợi giây. Tên hải tăc chụp sợi giây ấy, cột quanh lưng cô gái, xong đạp cho cô ta rớt xuống biển. Chưa kịp la thì cô rơi ùm xuống nước. Tên ở bên kia nắm giây kéo lên. Người cô gái oằn lại gần như xếp đôi ở lưng, chỗ cột giây. Cô ta ướt sũng, hình như cô ấy cũng đã bất tỉnh.

            Chúng lùng sùng tiếp, lại lôi ra một cô gái khác. Cô nầy trì xuống, không chịu đi. Khi tên hải tặc khác đến phụ, nắm tay cô tay. Cô ta vung tay lên. Thấy thế, tên nầy bèn đâm cô ta một dao vào bụng. Vừa lúc hai tên hải tặc buông cô ta ra thì cô gục xuống sàn.

            Chúng lại lùng sục tiếp. Chị tôi ngồi sau lưng anh rể tôi, lấy cái nón lá che đầu. Tên hải tặc nghi, dừng lại trước anh rể tôi, rồi chụp cái nón lá quăng đi. Y chụp ngay tóc chị tôi, kéo lên, chị tôi trì xuống, khóc to. Nghe tiếng khóc, anh rể tôi đứng lên, Tôi ngồi bên cạnh anh rể tôi, cũng đứng lên. Thấy cả hai người đứng lên một lượt, tên hải tặc sợ, đâm một lát dao vào ngực chị tôi rồi bỏ chạy ra phía đằng mũi ghe.

            Anh rể tôi ngồi xuống, ôm lấy vợ. Rồi anh ngồi bệt xuống sàn, duỗi hai chân, đặt đầu vợ lên hai chân. Máu từ ngực tuôn ra từng luồn, theo nhịp tim. Tôi cởi áo, đưa cho anh tôi rịt vết thương của chị. Máu đẫm cả áo, vẫn cứ tiếp tục tràn ra. Tôi thấy thất vọng. Cả ghe không ai là y tá, bác sĩ, không có phương tiện cứu thương gì cả.

            Một chốc, chị tôi mở mắt, đờ đẫn, rồi từ từ nhắm mắt lại. Tôi biết thế là hết, và ngồi xuống bên cạnh. Anh rể tôi đã vuốt cho mắt chị khép lại.

            Trời đã tối. Và tôi cũng thấy hình như tất cả mọi thứ đều tối sầm lại, xóa đen hết những hy vọng tôi mang theo khi rời nhà ra đi.

&

            3)- Hôm ấy tôi ngồi với Hoàng mấy tiếng đồng hồ ở bãi biển khu C.

            Kể xong câu chuyện người chị bị giết một lúc thật lâu rồi mà Hoàng vẫn ngồi im. Hoàng không nói một lời, cũng không thở dài. Nỗi đau của Hoàng xa mẹ, mất chị mênh mông quá, bao la quá, cao quá, làm cho tôi thấy ngại, không nói một lời an ủi. Tôi kính trọng nỗi đau của Hoàng. Nói ra một lời nào là xúc phạm nỗi đau đớn ấy, dù là một lời an ủi chăng nữa!

            An ủi?

            Bằng gì? Bằng lời nói?

            Tiếng nói của con người thật là kỳ diệu, nhưng trong trường hợp nầy, nó trở nên vô nghĩa, không có ý nghĩa gì hết, không an ủi được gì hết.

            Người ta thường nói cái nầy vĩ đại, người kia vĩ đại nhưng trước nỗi đau khổ của Hoàng, những cái vĩ đại ấy trở thành nhỏ bé, vô nghĩa, khôi hài. Cái người ta gọi là vĩ đại, rất nhiều khi mang tính tuyên truyền. Nỗi đau của Hoàng là sự thật. Dĩ nhiên, cái tuyên truyền trở thành vô nghĩa, lố bịch trước sự thật.

            Tôi là bạn của Hoàng từ thời thơ ấu, tôi biết Hoàng là người như thế nào. Tình thương gia đình, thương cha mẹ, thương chị của Hoàng lớn lắm. Ba Hoàng lại mất xác trong tù nên nỗi đau của Hoàng lớn lắm.

            Ngồi trên tảng đá, bên bờ biển, hằng giờ Hoàng nhìn ra biển xa, qua khỏi đảo cá Mập ở ngoài kia, xa hơn nữa, chỗ trời và nước gặp nhau, chỗ thăm thẳm của không gian mà Hoàng không nói một lời.

            Tôi có cảm tưởng như Hoàng nhìn ra chỗ cuối chân mây mà hình như Hoàng không thấy gì cả, không nhìn gì cả. Hình như ở chỗ chân trời góc biển, Hoàng chỉ thấy có hình ảnh cha mẹ chị của Hoàng. Hoàng thấy bằng cái trí tưởng của Hoàng. Có phải Hoàng nghĩ tới ngôi nhà Hoàng ở từ khi còn thơ ấu, tới chỗ đất bằng phẳng không biết nơi nào là mộ cha, và khuôn ngực đầy máu của chị Hoàng.

            Biển vẫn động. Buổi chiều, gió lộng nên sóng dữ. Những ngọn sóng bạc đầu đang xô đẩy nhau ngoài xa. Những ngọn sóng xua đuổi nhau, vượt qua những mõm đá đen trông xa tưởng như những cái đầu người nhấp nhô trên sóng, hay biết đâu dấy, Hoàng tưởng như là xác của chị Hoàng trôi theo những ngọn sóng ấy.

            Sóng xô đẩy nhau chạy vào bờ, bò lên bờ cát rồi kéo lui. Khi ngọn sóng vào bờ thì xô đẩy, chồm lên, hung dữ, nhưng khi sóng kéo lui thì rất nhẹ nhàng, không gây một tiếng động. Chúng để lại trên bờ cát những rác rưởi, vỏ dừa, những chiếc lá khô.

Thủy triều càng lúc càng xuống, ngấn sóng đổ trên bờ cát lùi dần, và ngoài xa, những mõm đá đen càng lúc càng nhô cao hơn.

            Hoàng nói thầm: “Kiên nhẫn, kiên nhẫn…. không có gì hết.”

            Tôi đoán Hoàng đang nói đến những ngọn sóng. Nhưng tôi lại nghĩ tới một ý khác, một điều, từ khi đến đây, tôi từng chú ý, từng tìm, nhưng không thấy: Biển ở đây không có dã tràng. Buột miệng tôi nói với Hoàng, nhưng tôi cứ tưởng như không nói với anh ta. Tôi nói một cách vu vơ: “Ở đây không có dã tràng.”

            Nghe tôi nói, một lúc lâu, Hoàng mới trả lời tôi: Ờ! Không có dã tràng.” Rồi Hoàng hỏi tôi: “Nguyệt có nhớ câu nói về dã tràng.”

            Tôi biết câu đó, nhưng tôi không muốn nói ra câu đó lúc nầy. Một lúc lâu, Hoàng lại hỏi: “Nguyệt có nhớ không?”

            “Nhớ chứ”. Tôi nói, và tôi đọc, chỉ cho tôi và Hoàng vừa đủ nghe, lớn hơn tiếng sóng biển đang dạt dào:

                        “Dã tràng xe cát biển Đông

                 Nhọc mình mà chẳng nên công cán gì!”

            Mặt trời đã lặn sau dãy núi xương sống của bán đảo Mã Lai. Biển càng lúc càng đậm màu, rồi đen thẩm lại. Ngoài kia, hình dáng đảo cá mập mờ dần trong bóng đêm, không còn thấy các mõm đá đen trồi lên trên mặt nước nữa. Bóng đêm xóa hòa tất cả. Tôi biết thế là hết. Bất chợt, tôi thấy đau đớn. Hoàng đã chết một nửa đời người!

&

            4)- Từ chỗ Hoàng và Nguyệt ngồi bên nhau chiều hôm ấy, đi dọc theo bờ biển khu C, thêm khoảng một trăm thước nữa thì bờ biển dốc đứng, cao hơn hai chục mét. Trên là bờ cỏ, dưới là đá mọc lỡm chỡm.

            Hoàng đứng từ trên bờ biển cao, đâm đầu xuống bờ đá, tự tử sau khi nhận giấy từ chối tỵ nạn chính trị.

            Mấy thanh niên đánh cá phát hiện xác Hoàng nằm ở đó. Đầu bị vỡ vì va phải đá. Có lẽ Hoàng chết liền. Mấy thanh niên báo cho khối An Ninh biết. Nhân viên an ninh cùng nhân viên bệnh viện SickBay ra ngay chỗ Hoàng tự tử, đem xác anh ấy về. Khối xây dựng được lệnh đóng một cái hòm bằng ván ép, liệm rồi chôn trên đồi khu C, càng sớm càng tốt. Cao ủy Tỵ nạn lo ngại sợ có biến động xảy ra.

            Tin Hoàng tự tử làm chấn động 14 ngàn người tỵ nạn trên đảo. Ai ai cũng thương cảm, than vãn, tội nghiệp cho Hoàng. “Sao đến nỗi như vậy. Còn nước còn tát, tranh đấu thật dữ vô, Cao ủy sẽ nhượng bộ.” Người ta còn tin như vậy.

            Nghe tin dữ đó, tôi qua bệnh viện gặp Bác sĩ Hồng Khắc Xuân Vinh và Bác sĩ Vũ Ngọc Khuê. Biết nhau từ trước, khi thấy tôi, bác sĩ Khuê lắc đầu, thở dài.

            Buổi chiều, khi đem quan tài an táng trên nghĩa địa, tôi lên trễ. Thầy Thích Nguyên Đạt đang đọc kinh trước khi hạ huyệt. Linh mục Queentin, người Úc, đứng vòng ngoài những người đang vây quanh huyệt mộ. Tôi đến đứng bên cạnh ông. Ông đang lầm thầm cầu kinh, một mình.

(Còn tiếp – Phong trào Tranh đấu Chống Thanh lọc)

hoànglonghải

(1) dung tha (Cộng Sản tha tội) và dùng trở lại.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: