Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Bèo giạt (9) – Một buổi chiều buồn trên “Đồi Tôn Giáo”

1Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết!

(Than ôi! Mây tản, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết).

Mạc Đỉnh Chi (1)

Nhìn chung, nhóm “Văn Bút Bidong” chẳng có ban chấp hành, chấp tỏi gì cả. Chẳng có ai là chủ tịch, hội trưởng, lãnh đạo… chỉ là khi có sinh hoạt gì thì tới với nhau.

Bởi Anh Hoàng Vũ là người lớn tuổi nhất, lại là người có trình độ kiến thức về cả kim văn lẫn cổ văn, nhất là cổ văn, nên mọi người mặc nhiên coi anh như con chim đầu đàn. Anh nói gì, bàn gì thấy hay thì ừ, không thì đóng góp ý kiến rồi thực hiện.

Anh chị em trong nhóm văn bút ai có khả năng cứ làm thơ, viết văn thì tờ “Sinh Hoạt Cộng Đồng”, theo cách hiểu tự nhiên nào đó, về “tình anh em”, đồng hội, đồng thuyền, “đồng tỵ nạn”, trở thành diễn đàn chung.

Về, thơ, như tôi đã nói, nhận bài nào tôi đưa anh Hoàng Vũ đọc và chọn cho đăng lên báo. Về văn thì anh Nguyễn Mạnh Dạn trông nom. Có vài khi tôi góp ý về các bài văn do anh chị em gởi tới với anh Dạn, còn thơ thì tôi để anh Hoàng Vũ hoàn toàn quyết định.

Thỉnh thoảng, nhân dịp tết hay lễ lạc nào đó, như ngày lễ Hai Bà Trưng, Cụ Nguyễn Du thì chúng tôi tổ chức nói chuyện, mời anh chị em tham gia, và mời đồng bào đến nghe. Số lượng người nghe cũng khá đông, thường ngồi chật một lớp học. Phần nhiều là thanh niên, các giáo viên chế độ cũ hay đang dạy tiếng Anh, tiếng Pháp ở Khối Giáo Dục. Thành phần tham gia ít nhứt lại là quân nhân, sĩ quan chế độ cũ, ngoại trừ một vài người đang làm việc cho Cao ủy.

Việc mượn phòng ốc hay máy móc, có anh Võ Văn Loan bên Khối Giáo Dục của Cố Vấn Tieou lo liệu giúp. Phòng Phát Triển Cộng Đồng thông báo trên loa phóng thanh hay trên báo, dán thông cáo ở ngoài hành lang của phòng. Anh em trong nhóm Văn Bút thường đến trước giờ sinh hoạt.

Ngoại trừ một số người rất có nhiệt tình với sinh hoạt của trại tỵ nạn, tôi không thể quên một vài anh em, – không kể anh Bửu Tộ, anh Nguyễn Dương Hảo, anh Hồ Đắc Liệu đang làm tại phòng Phát Triển Cộng Đồng -, tôi cảm phục những người có nhiệt tình, thiện chí như Anh Trần Đình Nghị, cựu Đại úy Biệt Động Quân mà tôi đã có lần tôi nói tới, còn phải kể anh Trịnh Hí Phùng, cựu Đại úy thuộc Tiểu đoàn 610 Truyền Tin, đóng ở Đà Nẵng, là người điều khiển chương trình cho các buổi sinh hoạt khéo không ai bằng.

Dù không sửa soạn trước, anh Trịnh Hí Phùng hướng dẫn chương trình, giới thiệu diễn giả, tác giả vừa dí dỏm, vừa thành thật, nói được trọng tâm của vấn đề. Anh nói năng lưu loát, trôi chảy, rõ ràng, xuôi tai, không “ầm ừ, ì à”, như tôi từng thấy ở các “host” trên các đài truyền hình VN ở Mỹ sau nầy. Tôi nghĩ anh có thể đóng góp cho cộng đồng tỵ nạn hữu ích về sau, khi anh đã định cư. Nhưng rồi cả mấy chục năm nay, “biệt vô âm tín”. Tôi chỉ thấy nhạc sĩ Trường Sa xuất hiện trên Paris By Night một lần rồi thôi.

Quả thật, trại tỵ nạn không thiếu nhân tài, bởi vì Quân Lực VNCH ngày trước là nơi “gom” gần như hầu hết nhân tài của Miền Nam VN. Người tỵ nạn có khả năng, tài ba… cũng từ trong tập thể quân đội đó mà ra.

Bởi vì anh Hoàng Vũ là người lớn tuổi nhứt, so với các anh chị khác, tôi cũng là người lớn tuổi hơn họ, nhưng tuổi tôi chưa cao bằng tuổi anh Hoàng Vũ, nên hai chúng tôi thường gặp gỡ chuyện trò với nhau. Nói cho đúng thì môt tuần vài ba lần, anh Hoàng Vũ tới chơi với tôi ở chỗ tôi làm việc.

Một hôm tôi nói với anh:

-“Con gái tôi ở Mỹ mới gởi cho tôi mộ băng cassette nhạc Cổ Điển Tây Phương, anh muốn nghe với tôi không?”

Anh Hoàng Vũ hỏi:

-“Tôi tới nhà anh?”

-‘Không!” Tôi nói. “Chắc phải tìm một chỗ thanh vắng, nghe mới đã. Mình lên chỗ “Đài tưởng niệm thuyền nhân” đi! Chẳng ai quấy rầy mình.”

Xong, chúng tôi hẹn nhau chiều hôm sau.

&

Chiều hôm sau, anh Hoàng Vũ đến chỗ tôi. Tôi xách máy cassette cùng anh đi lên “Đồi Tôn Giáo”, rồi từ đó đi ra chỗ “Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân”.

“Đài Tưởng Niệm Thuyền nhân” – nói thêm cho đầy đủ là “tưởng niệm thuyền nhân bỏ mình trên đường vượt biên”, là một kiến trúc bằng ximăng cốt thép, nằm phía ngoài chùa và nhà thờ, v.v… trên đỉnh đồi, phía ngó vào bán đảo Mã Lai.

Đài gồm có một bệ hình tròn, tượng trưng cho thuyền vượt biển và ba cách buồm khoảng cách đều nhau ở ba phía trên bệ tròn. Ba cánh buồm cao thấp khác nhau, hình tam giác, đỉnh của tam giác là cột buồm, hướng về phía tâm của hình tròn. Công trình nầy do đồng bào tỵ nạn làm ở Khối Xây Dựng bỏ công xây cất, với sự hỗ trợ của Văn Phòng Trại, vật liệu do Cao Ủy Tỵ Nạn cung cấp. Tôi không rõ công trình được xây dựng lúc nào. Khi tôi tới Trại Tỵ Nạn Bidong vào tháng 6 năm 1989 thì công trình đã hoàn tất đâu vài ba năm trước rồi, có lẽ sau khi có nhiều thuyền nhân tử nạn vì “hải tặc Thái Lan”, nhưng chắc là sau công trình “Ông Già Bidong.”

Ngồi ở đây, nhìn ra biển xanh ngắt, sóng biển chập chùng, xa xa là rặng núi Mã Lai như hình răng cưa, cao thấp không đều, “rặng nọ rặng kia không dứt”, như Nhất Linh mô tả trong cuốn “Người Quay Tơ”, tôi nhớ Trường Sơn da diết. Nỗi nhớ chẳng bao giờ dứt được.

Tôi leo lên ngồi trên nền đài hình tròn, dựa lưng vào cánh buồm bằng xi-măng, phía có thể vừa nhìn ra biển, vừa nhìn vào núi Mã-Lai để nhớ đến rặng núi ở quê nhà. Ngồi phía bên kia, đối diện tôi là anh Hoàng Vũ. Tay anh cầm ly cà-phê mới mua ở quán “Lup” dưới chân đồi, trên bãi biển khu C. Tôi không uống cà-phê, nhưng tôi hút từng chặp cái ống vố tôi mang theo. Ống vố và thuốc “Seventy Nine” là do cha Quentin mua tặng tôi mấy bữa trước đây.

Chúng tôi không nói gì cả, sau khi tôi mở cassette nghe bài đầu tiên, Mai Hương hát: “Thôi buồn làm chi, nhớ tiếc làm chi…” Tiếp đó tôi nghe bài “Đã quên hết sầu chưa, lời nầy là tiếng xưa…” và rồi là bài “Chiều buông nhẹ xuống, người tình tìm đến người…” Những bài đầu như “Chiều tà” (Serenata) của Toselli, “Dạ Khúc” (Serenade) của Schubert và “Sầu” (Tristesse) của Chopin thì buồn. Những bài sau nhạc vui hơn như “Trở về mái nhà xưa” (Back to Sorriento) của Curtis, “Dòng Sông Xanh” (Danube Blue) của Strauss…

Băng cassette hết đã lâu mà chúng tôi vẫn ngồi trầm ngâm. Hình như lời ca trong các bài hát, cũng như âm điệu buồn bã, tiếng đàn, tiếng kèn réo rắt của nó hòa cùng cảnh trời chiều mênh mông, của biển xanh, trải rộng muôn trùng; như những lớp lụa mỏng và mềm bao trùm và ấp ủ tâm hồn chúng tôi lại, làm cho chúng tôi cảm thấy sự êm dịu của âm nhạc và cảnh bao la của vũ trụ, của thiên nhiên.

Chúng tôi không muốn nói gì với nhau cả. Rồi tôi chợt nhớ một bài thơ của ông Bùi Khánh Đản viết tặng Nhất Linh khi Nhất Linh đến thăm bạn. Bấy giờ, ông Nhất Linh đang chờ ra tòa, bị xử về vụ Nhất Linh dính líu vô cuộc đảo chánh 11 tháng 11 năm 1960 của ông Đại tá Nguyễn Chánh Thi.

Hai người gặp nhau mà không nói với nhau một lời, một tâm sự, ngoài lời chào hỏi thông thường:

            Chiều nào hiu quạnh đến thăm tôi

            Anh đã quên không nói một lời

            Tám hướng dần buông vào tịch mịch

            Hai lòng vẫn ngã chốn xa xôi

            Mắt theo dĩ vãng mơ hồ hiện

            Tai lắng thời gian thánh thót rơi

            Tất cả chìm sâu, sâu xuống mãi

            Vì anh chỉ thiếu một lời thôi

(Thiếu một lời)

Không phải tôi muốn so sánh tôi với các vị nào, nhưng tôi nghĩ bấy giờ trong trí Nhất Linh, có lẽ ông đã có ý định tự tử, như sau đó, ông đã uống thuốc độc vào sáng ngày 7 tháng 7 năm 1963, là hôm ông bị ra tòa.

Còn tôi cũng như mọi người trên đảo nầy, chúng tôi đang sống một đời lưu vong mà tương lai thì vô định. Đối diện với cái chết đang tới hay trước tương lai mù mịt và đầy bất trắc, tâm sự người ta cũng có điểm giống nhau, gần nhau.

Sự im lặng kéo dài quá lâu, khiến tôi có cảm tưởng như mọi sự có điều chỉ thêm nặng nề nên tôi mới lên tiếng:

-“Ngay từ khi 13, 14 tuổi, hồi ấy tôi đang học Đệ Lục, có cây đàn ghi-ta đánh chơi, tôi đã hát nghêu ngao những bài hát nầy. Hình như Phạm Duy mới ở chiến khu về, ông soạn lời nhạc cho các bản nhạc đó. Hồi ấy tôi thấy hay, mấy chục năm sau, tôi vẫn thấy hay. Bây giờ tôi vẫn thấy hay. Âm nhạc thật là kỳ diệu!”

-“Âm nhạc đạt được sự kỳ diệu của nó, khi nó vượt qua được những giới hạn bình thường.” Hoàng Vũ nói.

-“Anh làm tôi nhớ câu của Nhất Linh trong “Văn Hóa Ngày Nay”. Ông ta bảo phải “vượt không gian và thời gian.”

-“Đúng đấy chứ. Nó từ bên Âu Châu mà qua tới Việt Nam; rồi từ Việt Nam, theo chân người tỵ nạn mà tới Bidong. Ấy không là vượt không gian rồi hay sao?” Hoàng Vũ giải thích.

-“Còn vượt thời gian?” Tôi hỏi.

-“Anh thích nó khi anh hơn mười tuổi, bây giờ chừng nầy tuổi, anh vẫn còn thích nó. Ấy là vượt thời gian. Chưa kể những bài ca ấy được soạn ra từ Thế kỷ 18, 19 mà nay thì Thế kỷ 20.” Hoàng Vũ giải thích.

Tôi lại hỏi:

-“Theo anh thì khi nào thì văn chương, nghệ thuật “vượt không gian, thời gian như Nhất Linh bảo?”

-“Khi nó đạt tới Đạo, là thấu tới Vũ Trụ.” Hoàng Vũ lại nói.

Tôi cười:

-“Anh nói tôi hiểu rồi. Tôi nhớ hai câu thơ anh viết tặng nhạc sĩ Bửu Lộc. “Bên ngoài vũ trụ bao la, Bên trong vũ trụ có ta với đàn.” Khi bên trong vượt qua những giới hạn để đạt tới “bên ngoài vũ trụ bao la”, là khi đó văn chương nghệ thuật vượt không gian, vượt thời gian. Nhưng tại sao anh lại nói đến với Vũ Trụ là đến với Đạo?”

-“Vũ Trụ không là Đạo thì là cái gì? Chúa mong cho đạt đến Vũ Trụ, Phật cũng mong đạt đến Vũ Trụ. Hình Nhi Thượng của Khổng Tử không bàn đến Vũ Trụ thì bàn đến cái gì? Tôn giáo nào cũng muốn giải nghĩa cho được Vũ Trụ. Mỗi giáo chủ đều muốn giải cho được Vũ Trụ, nhưng không tôn giáo nào giải được cả. Âm nhạc thì đến được đấy, bởi vì người ta có thể theo đạo nầy, không theo đạo kia. Không theo vì chê chớ gì? Âm nhạc, thi ca thì ngược lại, khi nó đã đạt đến Vũ Trụ, người ta có muốn chê cũng không chê được. Hầu như mọi người đều yêu nó. Xưa người ta hát Chopin, nay người ta hát Chopin. Mai kia cũng vậy, còn tôn giáo thì chưa hẳn đạt được như văn chương nghe thuật đâu!” Thấy anh Hoàng Vũ giải thích tuy dông dài, nhưng tôi thích lắm. Tôi lại nói:

-“Theo tôi hiểu có hai Vũ Trụ. Vũ Trụ bên ngoài; đó là cái vô cùng của tầm mắt, là cuối cõi thiên nhai. Nói cuối cũng không đúng nữa. Nói như thế là đem cái giới hạn “thiên nhai” để so sánh, để đo đạc cái vô hạn vũ trụ thì trật lất. Nhưng còn một Vũ Trụ trong ta nữa phải không? Trong tâm hồn chúng ta là một Vũ Trụ sâu thẳm, mà ngay chính mình, mình cũng không bao giờ thấy được cái sâu thẳm của nó. Anh nghĩ sao?”

“Bên trong vũ trụ là ta với đàn”. Tôi nói là đàn, nhưng thực ra, đó là âm thanh. Âm thanh là biểu tượng Vũ Trụ ở trong mỗi con người. Vì vậy, mấy ai hiểu được hoàn toàn âm thanh đó? Mấy ai “tri âm”? Mấy ai hiểu mình để “Ai tri âm đó mặn mà với ai?” Người ta hiểu được câu chuyện khi nghe tin Tử Kỳ chết rồi thì Bá Nha “đập vỡ cây đàn” là có lý lắm! Nay còn ai nghe đàn để hiểu Bá Nha nghĩ tới cái gì khi đàn. “Nga nga hề chí tại sơn cao, Dương hề chí tại lưu thủy.” Hoàng Vũ nói.

-“Anh nói làm tôi hiểu thêm một điều. Trước nay, tôi vẫn thắc mắc trong đạo Cao Đài, người ta thờ chung ông Phật, ông Chúa với Voltaire, Montesquieu. Bởi vì người ta cho rằng văn học nghệ thuật đạt tới Vũ Trụ trong khi tôn giáo muốn giải thích nó mà giải thích không nỗi. Phải vậy không?”

Anh Hoàng Vũ nhìn tôi, chỉ cười. Anh là người theo đạo Cao Đài.

Một lúc, tôi nói:

            -“Thế kỷ Ánh Sáng” mở ra một con đường mới cho nhân loại, trong khi tôn giáo, nói rõ là Thiên Chúa Giáo La Mã, muốn đóng cửa con đường đó lại. Một bên thì mở ra, một bên thì đóng lại. Có phải cái “Ánh Sáng Tư Tưởng” của “Thế Kỷ Ánh Sáng” đã mở đường cho âm nhạc cổ điển Tây phương hay không? Tôi nói vậy là vì tôi chưa đối chiếu tiểu sử Chopin, Schubert nên tôi không biết, nhưng ở Việt Nam ta, anh nghĩ có ai có thể “theo được” Chopin, Strauss chẳng hạn?”

            -“Theo được” thì có, nhưng đi cho tới cuối đường thì ít lắm. Vả chúng ta không thiếu định kiến nên không thấy. Chẳng hạn anh thấy gì ở “Giọt mưa trên lá?”, ở “Tiếng nói tinh khôi” hay ở “Dĩ vãng xa xôi” hay ở “Xa cách nhau một đời”. Hiểu cho hết những ý đó là người ta thấy được Vũ Trụ trong tâm hồn của mình. Anh đồng ý không?” Hoàng Vũ giải thích.

            -“Đồng ý với anh, nhưng tôi cũng thấy nó trong “nghe những tàn phai”. Tôi băn khoăn hoài, suy nghĩ hoài mỗi khi hát và đồng ý với tác giả rằng“Thấy đời mình là những chuyến xe”, “Thấy người ta chia tay nhau cuối đường” với “Trăm tiếng hư không”, thấy “Bàn im hơi bên ghế ngồi” rồi “ngày đi đêm tới”... Cái tàn phai của đời người bao giờ cũng đi chung đường với tàn phai của Vũ Trụ. Vũ trụ nầy cuối cùng rồi cũng mất, như hai đường song song, kẻ cho tới cùng thì chúng sẽ gặp nhau ở một điểm cuối cùng nào đó, như ông thầy Toán giải thích trong hình học vậy.”

            -“Đồng ý với anh!” Hoàng Vũ nói.

            -“Nhưng nếu người ta đã thờ Voltaire, Montesquieu, nhắm bộ về sau người ta không thờ Phạm Duy hay Trịnh Công Sơn?”

            Anh Hoàng Vũ nhìn tôi cười, một lúc, anh nói:

            -“Tôi đã nói với anh rồi! Định kiến. Định kiến thật là ghê gớm. Ngay bây giờ, bên Nhật, người ta đã bỏ công nghiên cứu về nhạc Trịnh Công Sơn. Nhiều đời sau, khi người ta không còn nhìn Trịnh Công Sơn như một tên phản chiến, phản bội, một tên hoạt đầu chính trị, không nhìn Phạm Duy qua những bê bối tình ái của ông ta, thì người ta cũng có thể đối xử với họ khác đi, như đã đối xử với Voltaire, Montesquieu khi người ta tìm hiểu những gì thuộc về Vũ Trụ.”

            -“Ở đạo Cao Đài, người ta thờ các nhà tư tưởng, văn nhân, thi sĩ. Tại sao không thờ nhạc sĩ, Chopin hay Schubert chẳng hạn.” Tôi hỏi.

            -“Vấn đề là cái gì hay ai đã có thể làm thay đổi hay chuyển hướng để đóng góp cho nhân loại. Chúa hay Phật, hay Đức Khổng, ông Mo-ha-mát làm được việc ấy. “Thế Kỷ Ánh Sáng” không làm chuyển hướng nhân loại hay sao? Nó mở ra cho nhân loại một con đường mới, con đường “Xanh, Trắng, Đỏ” (2). Những người được thờ phải có một công trình lớn. Âm nhạc thì hay nhưng không đạt tới mức “đồ sộ”, cái sức to lớn, mạnh mẽ của nó như văn chương, tư tưởng. Vì vậy, trên bàn thờ Cao Đài, Chopin, Schubert còn chưa có, nói chi tới ông Phạm Duy hay ông Sơn. Sự nghiệp họ còn mỏng quá! Ấy là chưa kể âm nhạc dễ trở thành phương tiện tuyên truyền, cho chính trị cũng như cho tôn giáo. Ngay chính họ cũng làm như vậy. Việc đã có rồi, người ta đã lợi dụng nó rồi.” Hoàng Vũ trả lời.

            -“Anh muốn nói thánh ca?” Tôi hỏi.

            -“Tôn giáo nào cũng có Thánh ca, Phật ca. Tôn giáo nào cũng có dùng âm nhạc để truyền đạo. Đạo Chúa cũng vậy. Đạo Phật cũng vậy.” Hoàng Vũ nói.”

            -“Tôi không ưa những cái gì gọi là lợi dụng. Nhạc Thiền hay Thánh ca cũng hay vậy. Nó chỉ hay khi nó không tuyên truyền cho Chúa hay Phật mà chỉ hữu ích cho “con người”. Anh biết không! Khi tôi còn ở trong trại tù Cải Tạo, năm, bảy năm rồi mà chưa được tha về, buồn dễ sợ. Buổi sáng, kẻng đánh tập họp đi cuốc đất. Bên cạnh tôi là một đội trẻ, gồm một bọn thanh niên bị bắt về tôi vượt biên, trốn “nghĩa vụ”… Gần tới Noel rồi, nghe tụi nó hát “Đêm thánh vô cùng. Giây phút tưng bừng, Đất với trời…” tôi xúc động lắm, dù tôi không phải là người theo Thiên Chúa. Tôi nhớ những đêm Noel đi “ngao du” ở Huế, với bạn bè khi tôi còn độc thân hay với nhà tôi, khi tôi đã cưới vợ. Tôi cho rằng đó không phải là đạo. Đó là những cái gì rất là người, chữ người không cần phải viết hoa.” Tôi nói một hơi.

            -“Không viết hoa thì nó mới là người. Viết hoa nhiều khi nó thành quỉ.” Hoàng Vũ vừa nói vừa cười.

            Bỗng tôi buột miệng đọc câu thơ của Trần Dần: “Xưa nay, Người vẫn thiếu tin Người. Người vẫn kinh hoàng trước tương lai.”

            Rồi tôi nói tiếp: “Nói ra, người ta có thể cho tôi là kẻ vô thần. Thật ra, không phải vậy. Tôi tin ở Tạo Hóa, rất tin nữa là đằng khác, “Tạo Hóa nhiệm mầu” mà; nhìn vào thân thể mình hay nhìn cảnh vật chung quanh mình, cái gì cũng nhiệm mầu, nhưng đạo Chúa hay đạo Phật không phải từ Tạo Hóa mà từ con người, từ những nền văn minh của nhân loại mà ra. Ông Khổng là tinh hoa của văn minh Trung Hoa, Thích Ca là sản phẩm của văn minh Ấn Độ, đạo Thiên Chúa có gốc rễ từ văn minh Lưỡng Hà. Anh thấy đạo Hồi không? Khi ở trại Marang, buổi chiều, tôi nghe tiếng cầu kinh “ê a” phát ra từ trên những cái loa của nhà thờ Hồi giáo gần trại. Cái tiếng “ê a” đó nghe buồn dễ sợ, làm tôi nghĩ tới tiếng “ê a” của những người chăn dê, lùa bầy dê về chuồng sau một ngày cho dê đi ăn trên sa mạc. Văn minh Hồi giáo bắt nguồn từ chăn nuôi, “Văn Minh Ăn Thịt”; nó khác với văn minh của dân ta, là văn minh của ruộng đồng, lúa nước. “Văn Minh Ăn Rau.”

&

            Chúng tôi lại không nói gì.

Một chốc tôi hỏi:

            -“Anh nghĩ gì về nhạc Thiền, thơ Thiền?”

            -“Điều người ta muốn làm ra Thiền thì nó không thể là Thiền, chỉ là “giả Thiền”. Nó không thể hay được. Cứ làm thơ như thể “lững lơ con cá vàng” để cho nó là Thiền thì có bao giờ là Thiền đâu!

            -“Anh làm tôi nhớ năm tôi học Đệ Nhất, tôi học Triết dở lắm. Ông Trung bên Tây mới về, cho tôi chống gậy hoài (3). Gần cuối năm 1957, một lần đi chơi lăng, buổi trưa, nghỉ chân ở lăng Minh Mạng, các bạn học biểu tôi đọc thơ. Tôi đọc bài “Tiễn Biệt” của Nguyên Sa.“Người sắp đi chưa hay đi rồi”. Nghe xong, ông Trung bảo bài thơ hay. Sau nầy, tôi lại không thấy hay. Cái gì mà “lững lơ con cá vàng” như anh nói: “Đi chưa hay đi rồi?!” Sau nầy Trịnh Công Sơn cũng viết bắt chước như thế “Người đã đi xa hay người vẫn quanh đây?” (4) Cứ úp úp mở mở, rồi cho đó là Thiền. Phải vậy không? Thiên hạ cứ học nhau làm thơ như vậy rồi cho là thơ Thiền đấy.”

            -“Không phải vậy. Khi người ta cố ý làm ra Thiền thì nó không còn là Thiền nữa. Tự nhiên nó Thiền thì chính là Thiền.”

            -“Nói thế là mặc khải?” Tôi hỏi.

            -“Không. Mặc khải thì Thiền gì nữa. Nó gần giống như xuất thần, tự trong tiềm thức, hay tự trong cái thăm thẳm của vũ trụ trong con người của mình mà phát xuất ra thì hy vọng, hay có thể, tôi nói có thể, là Thiền.” Anh Hoàng Vũ giải thích.

            -“Tôi đại dốt về triết, khi học ở Dự bị Văn khoa, điểm Văn Học Sử của ông Mục (5) cứu tôi, vớt tôi khỏi điểm 1 của ông Trung. Tôi chán học là vì vậy. Nghe anh nói tôi càng rối trí.” Tôi trần tình.

            -“Tôi lấy ví dụ như thế nầy. Đặc điểm của Thiền là gì? Tỉnh lặng phải không? Khi mình muốn tỉnh lặng, chưa hẳn mình làm được, nói được, viết được cái gì đó về tỉnh lặng. Nhưng khi nghe “Bàn im hơi bên ghế ngồi”, đó không phải là tỉnh lặng thì là cái gì? Tỉnh lặng chỉ mới là im tiếng. Ở đây không phải là “tiếng” mà lại là “hơi”. Viết như thế là đạt tới cái tuyệt đối tỉnh lặng của “tỉnh vật”, không chỉ là im tiếng ở người. Thật là tuyệt cái ông Sơn nầy. Vẽ tranh, tranh tỉnh vật hay tranh phong cảnh, người ta có thể đạt tới cái vô biên của vũ trụ, đạt tới Thiền, đạt tới Đạo.” Hoàng Vũ giải thích.

            -“Người ta nói Thiền là đạt tới cái vô cùng của Vũ Trụ thì cái vô cùng ấy tôi đã từng thấy trong thơ. “Niệm thiên địa chi du du, Độc thượng nhân nhi lệ hạ” Thấy cái vô cùng của Vũ Trụ mà khóc, anh nghĩ có phải là Thiền hay không?” Tôi hỏi.

            -“Tôi nói với anh điều nầy, về Huy Cận. Thơ Huy Cận có cái mà người ta gọi là “Thiên Cổ Sầu”. “Sầu” dễ làm cho người ta “nhi lệ hạ” như Trần Tử Ngang. Có thể nói cái “sầu” trong thơ Huy Cận mênh mông hơn, sâu đậm hơn cả Thôi Hiệu trong “yên ba giang thượng”. Có “yên ba” Thôi Hiệu mới sầu. Huy Cận thì “không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”  Anh Hoàng Vũ so sánh.

            -“Huy Cận chỉ hay trước 1945 thôi. Theo Cộng Sản rồi thì dở ẹt. Ông ta không thoát khỏi “đấu tranh giai cấp”. Tôi nói. “Nói thật với anh, tôi con nhà nghèo, tự mò mẫm kiếm cơm ăn học mà cầm cục phấn, khỏi cầm cái bay, cái búa như “mạ” tôi dạy, nên mặc dù dạy môn văn chương, tôi vẫn không chịu được cái cảnh “Những người thiếu nữ buồn không nói, Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì.” (6) Đó là cảnh sống trưởng giả, cơm thừa cá dư. Không bao giờ tôi có thể hát bài “Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn”. Theo Cộng Sản, Nguyễn Văn Tý phủ nhận nó (“Dư âm”), cho là đứa con hoang. Không biết sau nầy ông ta có hối hận vì câu nói đó hay không. Người Việt mình, bảy tám chục phần trăm là nông dân, người nghệ sĩ yêu nước, yêu dân tộc nên viết cái gì cho chính họ, nếu chủ trương “Nghệ thuật vị nhân sinh”. Về điểm nầy tôi thấy những nghệ sĩ đi theo kháng chiến chống Pháp, có những tác phẩm rất hay, “Nhạc Tuổi Xanh”, “Về  Đồng Quê “, “Ra đi khi trời vừa sáng”, “Hò leo Núi”. Hay lắm anh.” Tôi nói.

            -“Nhiều người làm thơ, viết văn, một là vô tình để mất cái hay của mình. Hai là xu thời. Cái trước còn được, cái sau thì tệ lắm.” anh Hoàng Vũ nói.

            -“Anh nói vậy, tôi không hiểu rõ đâu. Rõ hơn đi.” Tôi đề nghị.

            -“Ví dụ như vậy!” Hoàng Vũ nói. “Bài hát có câu “Những thành phố em đã đi qua, Đây Paris, đây Luân Đôn, đây Vienne, nhưng có đâu bằng Saigon hôm qua, nhưng có đâu bằng Saigon mai sau.” (7) Viết như thế là hay lắm. Câu sau đó thì trật lất.”

            –“Em có mơ ngày hát câu hồi hương”. Tôi nói tiếp.

            -“Cái hôm qua, cái mai sau, chỉ là cái trong tâm tưởng. Đẹp lắm, đẹp vô cùng. Nhưng khi em “hát câu hồi hương” thì cái tâm tưởng biến thành cái hiện thực. Hiện thực không như tiềm thức, ít khi gây cho ta xúc cảm. Cứ để Saigon trong tâm khảm mình, đừng cho tôi thấy Saigon ngày hôm nay hay mai sau vì khi xa nó, Saigon chỉ có trong tâm tưởng.” Anh Hoàng Vũ nói.

            -“Thế những người không xa Saigon thì sao? Khi đang ở trong Saigon, Saigon ở trước mắt mà không ở trong tâm tưởng. Ví dụ Trần Văn Trạch hát “Đêm khuya trên đường Catinat” (8) có thể là từ 49 hay 50 gì đó. Sau 75 ông ta xa Saigon. Trong mấy chục năm đó, Saigon bao giờ cũng là của ông ta. Nó là Catinat hay đường Tự Do, nó là bùng binh chợ Bến Thành hay Công trường Quách Thị Trang, thì nó vẫn là của ông ta. Ông ta chưa đi, chưa xa Saigon, Saigon vẫn là của ông ta. Khi ông ta đi rồi thì Saigon chỉ còn trong tâm tưởng. Cái trong tâm tưởng là cái không thay đổi được.”

            -“Thế có người nói “Khi tôi chết hãy đưa tôi ra biển” thì sao?” Tôi hỏi.

            -“Đó chỉ là xu thời. Bấy giờ Việt Cộng mở cửa, đón Việt kiều hồi hương. Bài thơ xu thời theo cái phong trào “áo gấm về làng”, làm sao có thể gọi là thơ, là nghệ thuật.” Anh Hoàng Vụ nói giọng mai mỉa.

            Một lúc anh Hoàng Vũ nói:

            -“Anh nên nhớ rằng âm nhạc cũa có tác dụng mạnh mẽ về giáo dục. Không phải theo cái kiểu ca dao:“Ai bảo chăn trâu là khổ…” Bên Âu Mỹ, trẻ em mới biết khôn, người ta đã cho nó học đàn, tập làm quen với nhạc cổ điển. Đó là cách họ trau giồi nhân cách và đạo đức cho trẻ con đấy.”

            -“Hay nhỉ? Anh nói làm tôi nhớ nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba, khi ông còn dạy nhạc ở trường “Khải Định nhỏ”, nói cho học trò biết, khi vợ nhạc sĩ Nguyễn Đình Chiếu mới mang bầu, ông đã cho đứa bé còn ở trong bụng mẹ nghe nhạc cổ điển Tây Phương. Sau nầy, đứa bé đó là Thơ Thơ, đoạt giải dương cầm ở Pháp.” Tôi kể.

            -“Nếu dùng âm nhạc như một phương tiện giáo dục, trau giồi nhân cách cho trẻ em thì anh nghĩ sao về “Bésame Mucho”. Âm nhạc cũng có “giai cấp tính” vậy.” Tôi lại hỏi.

            -“Tôi không rõ bài hát ấy có đặt vấn đề giai cấp xã hội hay không, nhưng tôi nghĩ nó khác với “Dư Âm” của Nguyễn Văn Tý. Besame Mucho giống như “Mỹ nhân tự cổ như danh tướng” (9) vậy. Chỉ khác là bài hát ấy đặt vấn để giữa giai nhân và nghệ sĩ. Họ không thể ở chung với nhau.” Hoàng Vũ giải thích.

            -Việc anh nói làm tôi nhớ người anh cả của tôi. Năm 1950, anh ấy mới 21 tuổi, làm báo ở Huế. Anh vừa là ký giả vừa là nhà văn. Người anh ấy yêu là cô Nguyễn Thị Ngọc Lan, con gái của một gia đình Huế “kín cổng cao tường.” Bài thơ anh tôi làm, tôi tìm được trong số tài liệu cũ ở tòa soạn báo của anh, sau khi anh ấy bị Tây bắt đem thủ tiêu. Tôi chỉ nhớ được có 4 câu:

                        “Anh đã biết từ khi vừa gặp gỡ

                        Tình đôi ta không thể ở chung đời.

                        Anh con chim phiêu bạt bốn phương trời.

                        Em là đóa hoa hồng trong biệt thự.” (10)

 

            Đó là giai cấp phải không? Tôi hỏi.

            -“Tôi không nghĩ như anh. Tôi cho rằng đó là giai nhân và nghệ sĩ.” Anh Hoàng Vũ giải thích.

&

            Một lát sau, tôi lại hỏi: “Tôi vẫn có một thắc mắc về anh?”

            -“Việc chi? Anh nói đi!” Anh Hoàng Vũ hỏi tôi:

            -“Anh là một người có kiến thức về đạo Phật, về Thiền. Tâm hồn anh là tâm hồn một người thấm nhuần đạo Phật. Tại sao anh theo đạo Cao Đài?” Tôi hỏi.

            -“Có hai lý do. Trước hết, tôi muốn về “tam giáo đồng nguyên”. “Tam giáo đồng nguyên là Nho, Phật, Lão ở chung với nhau được. Không ai kỳ thị hay muốn triệt hạ ai. Như anh thấy, trong Cao Đài, thờ đủ hết, nhưng chính yếu vẫn là ba ông: Lão tử, Khổng tử và Thích ca. Người lương hay tín đồ đạo Phật theo đạo Cao Đài là thường tình, dù trên hình thờ vẫn có Chúa, thờ ông Mô-Ha-Mát hay ông nào khác. Nhưng nếu như một tín đồ Thiên Chúa Giáo hay Hồi Giáo thì không bao giờ theo đạo Cao Đài. Tại sao? Tại giáo lý hay tại sự cuồng tín của tín đồ? Người cuồng tín là người khép kín tâm hồn mình lại với tất cả cái gì khác với giáo chủ của mình. Khi “Ta là Ánh Sáng” thì cái không phải là Ta là Bóng Tối. Phải xua tan Bóng Tối đi. Đó là nguyên nhân của Thập Tự Chinh, người Hồi hay Thiên Chúa giáo La Mã thì cũng vậy. Hai là, anh là giáo sư dạy môn lịch sử! Phải không? Anh có dạy lịch sử Pháp xâm lăng và cai trị nước ta hay không? Nếu anh biết lịch sử đó, anh có thể hiểu con đường tôi chọn.” Hoàng Vũ trả lời.

            -“Việc Tây xâm lăng nước ta,” Tôi nói. “vừa có tính cách chính trị, vừa có tính cách tôn giáo. Nghĩa là các giáo sĩ, nói như nhiều người từng nói, là “những tên Thực Dân mặc áo thầy tu”. Người Việt bị đàn áp, bị nô lệ, qua đó, đạo Phật bị đàn áp, bị tàn phá vì những tên “Thực dân giả, mặc áo thầy tu” cùng với những tên Thực Dân chính cống. Từ đó, chùa chiền bị phá, đạo Phật bị đàn áp và suy vi. Đầu thế kỷ 20, nhiều người muốn chấn hưng đạo Phật, “Hội Phật Học” được thành lập ở miền Trung, miền Bắc. “Phật giáo Hòa Hảo” là sự trỗi dậy của đạo Phật trong giới bình dân ở miền Tây Nam Bộ. Đạo Cao Đài của anh cũng là một hình thức chấn hưng đạo Phật trong giới trí thức miền Nam, theo cái tinh thần “Hòa Đồng” của người Nam Bộ. Phải không?” Tôi giải thích.

            -“Vậy thì còn hỏi tôi gì nữa! Nhưng anh nhớ rằng, sự trỗi dậy đó không chỉ vì tôn giáo mà còn lý do chính trị nữa. Dù không muốn, vì sự tồn vong, tôn giáo phải dính líu vào chính trị. Việc ấy, không phải chỉ thời Ngô Đình Diệm mới có, mà từ trước đó, từ khi Tây đô hộ nước ta. Anh không nhớ rằng Cao Đài từng đi với Nhật, từng có quân đội riêng. “Thất phu hữu trách…” huống gì tôn giáo. Vận nước cả.” Hoàng Vũ giải thích.

            -“Tôi hiểu rồi, nhưng anh nhớ Phật giáo không muốn ở trong chính quyền bao giờ. Muốn đi tu thì phải rời ngai vàng, làm thái thượng hoàng.” Tôi nói.

            -“Nhìn sâu hơn cũng đúng như thế. Anh nhớ bây giờ, những cuộc cách mạng không đổ máu thì người ta gọi là cách mạng ôn hòa. Cả ngàn năm trước, đạo Phật ở nước ta đã làm công việc ấy.” Anh Hoàng Vũ nói.

            -“Tôi không hiểu! Anh muốn nói việc ông Lý Công Uẩn cướp ngôi nhà Trần phải không?” Tôi hỏi.

            -“Không phải cướp ngôi. Triều đình nhà Lê suy vi, các quan họp bàn với nhau, nhất là nhờ công sức của Sư Vạn Hạnh, mời ông Lý Công Uẩn lên làm vua. Gọi là “mời”, thực chất đó là một sự thay đổi bằng chính trị, không cướp ngôi, không đổ máu. Việc thay đổi triều đại như thế, từ cái xấu qua cái tốt, từ cái ác qua cái thiện, đó không phải là cuộc cách mạng thì là cái gì? Chỉ có đạo Phật, mà phải là đạo Phật ở nước ta, mới làm được công việc đó. Hồi đó, trong triều thì có Sư Vạn Hạnh, ngoài thì có Sư Lý Khánh Văn; trong ngoài hợp đồng. Thời đại ngày nay, đạo Phật không làm cái công việc đó được nữa, các sư cụ, sư ông, những người tu hành chân chính, không thể ở trong triều, trong chính phủ. Họ rút vô chùa, cúi gầm đầu vào kinh kệ, vào “sắc không”. Những người như chúng tôi, vừa muốn bảo tồn đạo Phật, vừa muốn dấn thân vào một cuộc cách mạng cho đất nước thì phải theo đạo Cao Đài. Một người vừa là “chức sắc” đạo Cao Đài cũng vừa là một nhà cách mạng hay chính trị gia. Anh hiểu không?”

            -“Anh muốn nói trường hợp cụ Phan Khắc Sửu?” Tôi hỏi.

-“Trong đạo Cao Đài, không phải chỉ một trường hợp cụ Phan Khắc Sửu. Nhưng anh phải nhớ một điều, Cao Đài không đưa thần quyền vào thế quyền như đạo Thiên Chúa hay đạo Hồi.” Anh Hoàng Vũ nói thêm.

-“Như vậy là anh đặt vấn đề “chính trị và tôn giáo”. Mục đích chính trị hay cách mạng thì rõ rồi: Cứu cánh là Dân Tộc. Còn người ta phải thấy cho được cái vĩ đại của tôn giáo chứ, người ta theo đạo nầy, đạo kia để làm gì? Cái vĩ đại nhất của tôn giáo là gì?” Tôi hỏi.

-“Anh thử đưa ra vài ví dụ đi.” Anh Hoàng Vũ đề nghị tôi.

-“Cái vĩ đại đó là “cứu rỗi?” Tôi nói.

-“Cứu rỗi là cứu khỏi tội lỗi, sự trừng phạt để sống đời đời với Thiên Chúa, phải không?” Anh Hoàng Vũ hỏi.

-“Mấy ông cha nhà thờ giảng như vậy chớ chi?” Tôi nói.

-“Vậy thì trật lất.” Anh Hoàng Vũ đáp lại.

-“Là “giải thoát”, như trong Phật giáo.” Tôi lại nói.

-“Tức là “siêu xuất trần thế, thoát khỏi luân hồi sanh tử, tới cõi “nát bàn”. Phải không?” Hoàng Vũ lại hỏi tôi.

-“Vâng! Tôi nghĩ vậy.” Tôi nói.

-“Cũng trật lất nữa.”

Một lúc sau Hoàng Vũ nói:

-“Cái vĩ đại của tôn giáo là “Vị Tha”. Vị tha là vì người khác. Khi mình buồn. Mình phải nghĩ tới có người đang buồn hơn mình. Khi ta khổ, phải nghĩ tới có kẻ đang khổ hơn mình. Khi ta đói, phải nghĩ tới kẻ đang đói hơn mình. Khi ta đau, phải nghĩ tới kẻ đang đau hơn mình… Cứ như thế mà nghĩ?” Anh Hoàng Vũ giải thích.

-“Chỉ nghĩ tới thôi sao?” Tôi hỏi.

-“Nghĩ tới là bước thứ nhất. Kế đó là tìm cách giúp người khác. Chia cái ấm cho người đang lạnh, chia cái ăn cho người đang đói. Chia cái vui cho người đang buồn…” Anh Hoàng Vũ giải thích.

-“Thì cũng giống như ông bà ta dạy “Lá lành đùm lá rách.” Ở trong trại tù, ai cũng đói thì chúng tôi “Lá rách đùm lá nát.”

-“Đó là cái vĩ đại của tôn giáo đấy. Đạo Phật chỉ có ý nghĩa khi có “Từ bi-hỉ xã”. Đạo Khổng thì có Nhân ái, Kiêm ái. Đạo Thiên Chúa cũng vậy, chỉ có ý nghĩa khi có “Bác ái”. Ngoài những điều đó ra thì đều vô nghĩa. Tôn giáo mà không có tình thương, tự nó sẽ tiêu vong.” Hoàng Vũ nói.

-“Tôi không ưa mấy ông cha, mấy ông giám mục. Giám mục Ngô Đình Thục thì người Huế “ẹ” lắm. Nhưng “Bác Ái Công Giáo” thì thật là vĩ đại. Cái đó nó ở trong văn hóa của người Âu Mỹ. Không có “Bác Ái Công Giáo” thì không có tại tỵ nạn nầy anh à!” Tôi góp ý với Hoàng Vũ.

&

            Anh Hoàng Vũ không trả lời, nhưng tôi biết anh đồng ý với điều tôi vửa nói. Chúng tôi lại im lặng.

Tôi nhìn vô rặng núi xương sống của bán đảo Mã Lai. Mặt trời chạm vào đỉnh đỉnh, tung toé muôn ngàn tia lửa đỏ, dội lên những đám mây chiều đang sũng nước.

Trời muốn mưa.

Khung cảnh nầy sao quá giống cảnh hồi nhỏ, tôi hay ngồi bên bờ sông Thạch Hãn, nhìn lên rặng Trường Sơn. Tôi thấy nhớ nhà da diết, nhớ như khi còn nhỏ, tôi theo gia đình chạy tản cư lên núi vậy.

Một lúc, một nửa mặt trời chìm sau đỉnh núi. Hễ mặt trời khuất hết sau núi, trời sẽ bất thần tối hẳn đi. Nghĩ vậy, tôi buồn bã đứng dậy, vừa trụt xuống khỏi nền đài cao, vừa nói với anh Hoàng Vũ:

-“Mình về thôi anh!”

hoànglonghải

(1)-Thanh thiên nhất đóa vân

Hồng lô nhất điểm tuyết

Thượng uyển nhất chi hoa

Dao trì nhất phiến nguyệt

Y! Vân tán, tuyết tan, hoa tàn, nguyệt khuyết!

(Một đóa mây giữa trời xanh

Một giọt tuyết trong lò lửa

Một cành hoa giữa vườn thượng uyển

Một vầng trăng trên mặt nước hồ

Ôi! mây tản, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết!)

(2)-Xanh, Trắng, Đỏ: Ba mầu cờ của nước Pháp. Trượng trưng cho Bác ái, Bình đẳng, Tự do là mục tiêu của cuộc Cách Mạng Pháp 1789. Tư tưởng bắt nguồi từ “Thế kỷ Ánh sáng”.

            (3)-Gậy, tức điểm 1, điểm Giáo sư Triết Nguyễn Văn Trung thường cho ở bài “luận Triết” của tôi. Tôi thường nói đùa với bạn: “Ông cho tao chống gậy!”

            (4)-Một câu trong bài “Tình Nhớ” của Trịnh Công Sơn

            (5)-Giáo sư Lê Hữu Mục dạy (tôi) môn Văn Học Sử ở lớp “Dự Bị Văn Khoa” Đại Học Huế năm 1958.

            (6)-Câu trong bài thơ “Đây Mùa Thu tới” của Xuân Diệu.

            (7)-“Em còn Nhớ Mùa Xuân”, Ngô Thụy Miên.

            (8)- Đêm khuya trên đường Catinat –Trần Văn Trạch.

(9) Diễm Tuyết (Đời Thanh):

Mỹ nhân tự cổ như danh tướng
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu

            (10) Tôi không cho rằng mấy câu thơ nầy hay, nhưng đó là “di cảo” của người anh quá cố khi còn rất trẻ. Ông là bạn thơ của Thi sĩ Thanh Thanh (Lê Xuân Nhuận)

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: