Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Bèo giạt (8) – Sân Khấu Khu B

1            Sân khấu Khu B là một rạp hát lộ thiên. Người ta lợi dụng cái lòng chảo của ngọn núi Bidong, sườn núi hình vòng cung như một nửa cái nón lá lật ngữa, chôn lên đó những tấm sắt lớn, cũng hình vòng cung để cho khán giả ngồi hoặc đứng, ngó xuống dưới kia, chỗ thấp là một cái sân khấu bằng gỗ khá rộng.

Các cánh gà đã làm sẵn bằng ván ép, vẽ tranh. Phông màn thì chỉ khi nào có trình diễn mới dựng nên. Thời gian đầu, khi chưa có các cuộc thanh lọc “tàn sát” người tỵ nạn, lòng người tỵ nạn còn vui và nhiều hy vọng thì chương trình văn nghệ diễn ra đều đều, tháng nào cũng có, để đồng bào được vui.

Sau khi có thanh lọc rồi, người hỏng thì buồn, khóc và lo lắng cho tương lai, có người tuyệt vọng, tự tử; người chưa thanh lọc cũng đâm ra băn khuăn, lo lắng, nên chẳng còn văn nghệ, văn gừng gì nữa. Sân khấu khu B vắng hoe, như là chứng tích của “một cuộc hí trường”, nơi cũng từng diễn ra cảnh vua quan, binh tướng, tuy là trên sân khấu, không phải là đời thực, cũng làm vui buồn cho bao nhiêu người!

            Tôi định cư chính thức ở đảo ngày 4 tháng Sáu năm 1989. Chỉ mấy hôm sau, là được xem trình diễn văn nghệ ở sân khấu khu B.

            Vào chương trình, mọi người đứng nghiêm chào cờ. Nhạc và tiếng hát cất lên: “Nầy công dân ơi…” Và tiếp theo Quốc ca là bài “Việt Nam! Việt Nam! Nghe từ vào đời…”

Và tôi xúc động đến nỗi, có lúc, bỗng chốc, có mấy giọt nước mắt trào ra ở khóe mi.

            Quí vị không tin tôi!?

            Có thể!

            Nhưng chỉ có ai từng sống trong cảnh đọa đày đau khổ, trải qua những giờ phút nguy khốn nhứt trong cuộc đời. Những ai từng cầm từng lát khoai mì mốc cố ăn để mà sống. Những ai cầm cái cuốc không muốn nỗi, cũng phải giơ cao cuốc lên để làm cho xong, cho qua một ngày khổ sai. Những ai cầm dao đốn những cây rừng to để biến đất rừng thành trại tù giam hãm bạn bè mình. Những ai từng thấy bạn tù của mình hấp hối trong cơn bệnh hoạn ngặt nghèo mà không có thuốc thang, bác sĩ. Những ai từng thấy những ông già tù ngồi không vững, đi muốn xiêu té, chết dần từng ngày, từng giờ vì thiếu ăn… Những người đó sẽ cảm nhận một cách sâu sắc rằng thế nào là sống, thế nào là được sống, thế nào là thoát vòng lao lý, là không còn bị kềm kẹp, đe dọa, là những hãi hùng khi còn trong trại tù, là hy vọng, là tự do.

Giờ đây, tất cả những buồn phiền, đau đớn, tuyệt vọng đó đã qua rồi, đã biến khỏi tâm tư, tình cảm, chỉ còn lại những vui mừng, sung sướng vì “giải thoát”, vì được “giải phóng” đích thực, thật sự, không còn dối trá, lừa đảo, thủ đoạn, gian manh thì mới thấm thía như tôi khi nghe lại những bài ca quen thuộc, những lời ca mình từng hát, lời ca từng nung nấu, hun đúc tình cảm của mình đối với quê hương, xóm làng, với bà con, đồng bào, dân tộc, từ khi còn thơ ấu, thì sẽ thông cảm tôi, tại sao tôi khóc khi nghe lại tiếng hát bài Quốc ca sau một thời gian  dài sống trong cảnh ảm đạm, u tối, kềm kẹp, đau xót của một chế độ cai trị dã man và gian trá bậc nhứt trong lịch sử dân tộc.

            Đối với những đêm văn nghệ, có đơn ca, hợp ca, hợp xướng, hài kịch, ca kịch, tuồng tích cải lương, với sự giúp đỡ của Cao ủy Tỵ nạn, phương tiện không thiếu, nhưng ca sĩ, kịch sĩ, đạo diễn, tuồng tích, hóa trang, việc may sắm y phục, v.v… Tôi nghĩ là thiếu, là gặp khó khăn.

            Gặp khó khăn là điều không thể tránh, nhưng thiếu thì không thiếu. Không có những ca sĩ đệ nhứt hạng, đệ nhị hạng, nhưng người hát hay thì không thiếu: Vũ Nga, Thu Thủy, Thanh Thảo, v.v… Cũng có những người từng hoạt động trong lãnh vực văn nghệ trước 1975. Cũng có người mới được đào tạo mới đây, dĩ nhiên không phải ở thủ đô Saigon mà ở cái gọi là thành phố Hồ Chí Minh như Ngụy Vũ, những người vì yêu thích mà trở thành nghệ sĩ, đạo diễn cải lương như Lê Vĩnh Tường.

Những buổi trình diễn văn nghệ nầy trên một phương diện nào đó, rất thành công. Có nghĩa là khi buổi trình diễn xong rồi, đồng bào ra về vui vẻ, bàn tán náo nức, khen ca sĩ nầy, nghệ sĩ kia, cả nữ nghệ sĩ nhưng không chừng đó lại là một anh “đực rựa”, giả đóng vai khác giống, v.v…

            Tình trạng sinh hoạt ở đảo, về mặt quản lý có nhiều điều không đàng hoàng. Khi tôi tới trại thì ông cựu thiếu tá Nguyễn Văn Lỳ, khóa 12 Thủ Đức đang làm Trại trưởng. Ông nầy mang tai tiếng nhiều về các vụ quan hệ với mấy bà, nay bà nầy, mai bà khác. Cái chức vụ ấy như một phương tiện để mấy ông quan hệ tình ái bê bối. Lúc ấy, ông cựu trung tá Bùi Văn Xuẩn làm Trưởng khối An ninh, cũng mang tiếng không kém về các vụ dung chứa bọn làm bậy, như bao che cho những người nấu rượu lậu, bọn “bồ-tạt” (tiếng Mã Lai là du đảng) là bọn du côn trấn lột, v.v…

            Đúng ra, ông Nguyễn Văn Lỳ rời đảo đi định cư sớm – ông nầy tới đảo trước ngày “đóng cửa đảo”, khỏi bị thanh lọc, nên đi định cư sớm – nhưng, tuy làm trại trưởng, thường làm việc với Cao ủy nhưng văn phòng nầy không giúp đỡ ông ta khi ông ta bị phái đoàn Mỹ từ chối, không cho định cư ở Mỹ. Ông ta phải đi Úc, kéo luôn bà Đ. đi theo, sau khi tặng cho bà nầy một cái bầu. Bà Đ. là “người quen cũ” của nhạc sĩ Trường Sa ở Bidong. Vì tế nhị, sau nầy, tuy gặp Trường Sa nhiều lần, tôi chẳng bao giờ hỏi ông về chuyện “Con sáo sổ lồng” mà ông đã từng “Đem sáo sang sông.”

            Khi ông Nguyễn Văn Lỳ rời đảo, ông cựu thiếu tá Ngô Văn Thu lên thay. May mắn, ông Ngô Văn Thu là người chăm việc, đàng hoàng, có tư cách, nhiều người có cảm tình với ông, nhưng ông ta lại bị “đấu tố” ở Sân Khấu Khu B vì “không phải là người phe ta.”

            Hôm ấy, chẳng có văn nghệ văn gừng gì cả, chỉ là vì cái chức trưởng trại, nên các ông chế độ cũ bày loa, máy phát thanh ra sân khấu và đấu tố ông trại trưởng.

            Ông ta mới lên chức, đã có gì đúng sai đâu mà đấu tố? Không có lỗi gì cả? Dễ thôi! Muốn thì tìm, tất phải có… tì vết. Ấy là việc mà tổ tiên gọi là “Bới lông tìm vết.”  Vậy là có ông Trương Hồng Sơn, cựu sinh viên trường Đại Học CTCT lên cầm micro tố cáo ông Thu nào là nay “Anh” lên làm trại trưởng, có nhà ở riêng, rộng rãi, mát mẽ, có quạt máy, có radio, có ngược ngọt xài thoải mái, quên mất anh em, bè bạn, quên mất “chiến hữu, chiến tả” gì đó, v.v…

 

            Buồn cười chưa?!

Những thứ ấy do Cao ủy chu cấp cho, người trước sinh hoạt ra làm sao, ông Thu tiếp tục theo đúng tiêu chuẩn của Cao ủy cho như vậy. Tại sao lại đem bêu rếu ở đây?

            Thế là đồng bào, tưởng tới sân khấu Khu B coi văn nghệ, té ta “mấy ổng chơi nhau” nên đồng bào bất mãn, bàn tán, chê bai mấy ông chia phe, v.v…

            “Mấy ổng chơi nhau”. Có phải đó là “truyền thống” của…

            Hôm sau, trên đường đi làm, tình cờ gặp ông Cựu Đại tá Nguyễn Thiều, khóa 16 Võ Bị, cự Trung đoàn trưởng Trung đoàn nào đó thuộc Sư Đoàn 22, đóng ở Bình Định, từng bị chê là “tam thập lục kế” trước lính của ông; chào nhau xong, tôi nói:

            – “Hôm qua, vụ sân khấu Khu B., người ta cho rằng ông đứng đằng sau vụ tố khổ ông Thu đấy. Ông là người có cấp bậc cao nhứt trên đảo, là huynh trưởng, phải đứng ra dàn hòa thôi.”

            Thay vì trả lời tôi, ông cựu đại tá Nguyễn Thiều quay ngoắt bỏ đi, không nói gì cả.

            Lên tới phòng PTCĐ, tôi thấy nhiều người đang bàn tán sôi nổi chuyện sân khấu Khu B tối qua, phê phán khá nặng nề, cho là phe phái, gây chia rẽ nầy nọ.

            Tôi không tham gia, ngồi vào chỗ làm việc.

            Bửu Tộ tới ngồi trước mặt tôi, nói:

            – “Mấy cha nầy kỳ ghê, có gì cái chức trại trưởng tạm thời mà chơi xấu nhau dữ vậy!”

            – “Ham chức, háo danh là tâm lý thông thường. Ở loanghouse tôi, ông thiếu úy Lang, bạn ông đại úy Khoái, được chuyển đến trại Marang. Trại nầy là trại chuyển tiếp, chỉ ở tạm vài hôm, có cần chức chưởng gì đâu. Ai biết ít nhiều tiếng Anh thì xí xô xí xào với mấy thằng lính Mã Lai để lãnh gạo, lãnh củi giúp đồng bào. Cả trại nầy, lúc ấy phần đông là dân Long Phú (Sóc Trăng) và Bình Đại (Bến Tre), chữ nghĩa không có, ông ta chỉ đứng ra lãnh đồ giúp. Vậy mà khi tôi mới tới đảo, ông ta khoe: “Tôi là trại trưởng Marang” huống gì cái chức trại Bidong nầy là to lắm. Dù là cục xương khô, tranh nhau cũng không có chi lạ cả.”

Thực ra, càng về sau, người ta càng thấy khả năng và thiện chí của ông Thu với đồng bào, cả người sống, lẫn người chết.

Ngoài việc chăm sóc đời sống thường nhựt của người tỵ nạn, ông ta tổ chức nhiều đợt, kêu gọi đồng bào tham gia đi làm cỏ và sửa sang các khu nghĩa địa. Mộ nào có bia thì lấy sơn vẽ tên lại cho rõ. Mộ nào chỉ là nắm đất, ông cho lấy đá đắp chung quanh cho ra hình dáng mộ phần. Xong khu nghĩa trang ở gần khu Đ, ông lại cho lên sửa lại những ngôi mộ trên sườn núi Bidong, nơi nầy ít ai biết. Hơn cả chục năm trước, có một đợt dịch tả, Cao ủy lo không kịp, chết hơn chục người, chôn ở trên sườn núi đó.

Hầu hết những ngôi mộ nầy không có thân nhân. Họ vượt biên một mình hay thân nhân định cư đã lâu, chưa có dịp trở lại thăm viếng mồ mả người đã khuất.

            Mấy ông đối thủ thấy vậy, biết mình làm không xong gì, mới chịu nằm im.

            Sau đó ít lâu, ông cố vấn Hùng cho chúng tôi biết là ông cao ủy Francesco yêu cầu thay ông cựu trung tá Bùi văn Xuẩn trưởng khối An Ninh. Theo cố vấn Hùng thì ông cao ủy Francesco phê bình ông Bùi văn Xuẩn cho rằng làm việc không hữu hiệu. Không hữu hiệu chỉ là cách nói khéo. Theo dư luận thì ông ta bao che bọn “bồ tạt” và bọn nấu rượu lậu!

            Tôi đề nghị:

            – “Ông cố vấn nên cho tổ chức bầu cử đi, khỏi mang tiếng phe đảng.”

            Cố vấn Hùng nói:

            – “Tôi cũng nghĩ vậy, để cho đồng bào tập làm quen với đời sống dân chủ.”

            Cô Mỹ Duyên góp ý:

            – “Nếu đi định cư được, qua nước người ta có bầu bán, đồng bào cũng có ý niệm về bầu cử tư do. Còn như phải về, đồng bào có dịp so sánh bầu cử tự do với bầu cử độc tài. Đằng nào cũng có lợi.”

            Cô Mỹ Duyên là con gái bác sĩ Nguyễn Hữu Phần. Bác sĩ Phần từng theo học “hậu đại học” ở Mỹ, trước 1975, là Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ. Mẹ cô là hiệu trưởng một trường tiểu học tư, do chính bà làm chủ, đã bị Việt Cộng lấy mất trường, thành ra thầy cô bị “mất dạy”. – Chúng tôi hay nói đùa lén cô Mỹ Duyên như vậy -.  Cô Mỹ Duyên học rất giỏi, nhưng không vô y khoa được vì lý lịch số 13, phải học trung học y tế. Buồn tình, cô vượt biên với cậu em, tên Nhân. Anh nầy làm việc thiện nguyện ở văn phòng ông Bill, coi sóc các em “mai-no”, tức là bọn trẻ con vượt biên một mình, không có thân nhân cùng đi.

Hai chị em cô nầy hiện định cư ở Úc.

            Cô Mỹ Duyên là người làm việc giỏi, rất nhiệt tâm, thân cận với cố vấn Hùng. Cô có thành lập một đoàn gọi là “Thanh niên Chí nguyện” chuyên đảm trách các công việc xã hội, giúp đỡ các gia đình neo đơn. Gọi là “chí nguyện” nên không nhận thù lao bất cứ của ai, về việc gì. Công việc họ thường làm là đi dọn rác, hốt rác, vét cống rảnh nước dơ cho thông, từ các longhouse chảy ra suối, sửa sang những ngôi nhà bị hư hỏng. Tuy các công việc nầy do khối Vệ Sinh và Xây Dựng đảm trách, nhưng các khối nầy thường làm những công việc thường nhựt, có đám “Thanh niên Chí nguyện” giúp sức, các khối  giải quyết được những vấn đề lớn hơn, khó khăn hơn. Hôm tôi sửa nhà, mặc dù tôi không còn làm việc ở phòng PTCĐ nữa, bày tỏ yêu cầu với cô Mỹ Duyên, cô cho mấy “Thanh niên Chí nguyện” đến giúp đỡ, dựng mái hiên nhà rộng ra, buổi chiều có chỗ ngồi chơi.

Việc bầu trưởng khối An Ninh được tổ chức rất chu đáo.

Văn phòng trại cho người vận động đồng bào tham gia đông đảo. Còn những người ra ứng cử thì tự họ lo. Việc in ấn truyền đơn của các ứng cử viên thì thì do cô Mỹ Duyên đảm trách. Cô ấy thực hiện công việc nầy đứng đắn, công bằng, không ai trách cứ vào đâu được.

            Lần ấy, ông Cao Dai, cựu thiếu tá, đắc cử Trưởng khối An Ninh, cùng với ông Khoa, cựu trung úy, làm phó khối.

            Việc ông ta đắc cử cũng dễ hiểu thôi, bởi vì mọi người đã ngán ông cựu trung tá Bùi Văn Xuẩn lắm rồi. Ngay chính cao ủy Francesco cũng nói trong buổi hội nghị: “Mùa cũ đã qua rồi, nên cày xới đất đai lên để gieo hạt cho mùa mới.” Dĩ nhiên, ông phải nói khéo như thế.

            Tuy vậy, chỉ 1 năm, người ta lại ngán cái “mùa mới” nầy. Mùa mới cũng như mùa cũ. Hạt giống đã như thế rồi, mùa mới hay mùa cũ cũng chỉ gặt lên những sản phẩm như thế mà thôi.

Lại bầu lại, ông Cao Dai thất cử. Ông nầy cũng chẳng cao thượng gì hết. Đang khi kiểm phiếu, – cũng tại sân khấu Khu B. – phiếu đối thủ của ông càng ngày càng nhiều, vượt cao lên. Biết chắc mình thua, ông trưởng cùng ông phó, chui ra ngõ sau, lặn mất, không ở lại đó mà chúc mừng đối thủ như người Âu Mỹ thường làm. Ai cũng cười. Người ta cười ông Cao Dai làm thợ lặn hay người ta cười cho “Văn minh Việt Nam”?

            Bấy giờ, vì thấy số phận mình còn dan díu với trại tỵ nạn lâu dài, người ta càng tổ chức nhiều hội đoàn: Nào là “Hội cựu tù nhân chính trị” hy vọng với hội gốc ở bên Mỹ, bên Tây có giúp đỡ gì cho mình được chăng? Các hội Cựu Quân Cán Chính như hội Không Quân, hội Hải Quân, hội Sư Đoàn Bộ Binh, hội Biệt Động Quân, hội Thiết Giáp… Không thấy hội Nhày Dù hay Thủy Quân Lục Chiến, có lẽ số cựu quân nhân thuộc các binh chủng nầy không bao lăm người, không lý chỉ một hai người mà vừa làm hội trưởng, hội phó và hội viên..?

Lại cũng có người liên lạc với các “chính phủ lư vong” bên Mỹ. Các chính phủ nầy thì tôi không có ý kiến, – cũng có thể là không dám có ý kiến – nhưng cũng có người ở trại được phong chức. Ông Nguyễn Bửu Th., trại trưởng được chính phủ… gì đó ở Cali phong cho chức “Đại biểu Chính phủ” ở Malaysia. Tôi không rõ mấy tiếng “đại biểu chính phủ” nầy có ý nghĩa như thế nào, có giống chức đại biểu chính phủ của nước Việt Nam Cộng Hòa trước 1975 hay không? Nếu thế thì lãnh thổ và dân chúng ở đâu? Không lý dùng lãnh thổ và nhân dân Mã Lai mà làm “đại biểu”.

Sau khi đọc báo “Đường Sống?” thấy chính phủ công bố chức nầy chức kia cho người nầy người nọ, tôi hỏi ông Nguyễn Bửu Th., thì ông ta khoe cho tôi thấy cái giấy chứng nhận của chính phủ cấp riêng cho ông. Cách đây 20 năm ông ấy được cái chức “đại biểu chính phủ”, lâu ngày thăng quan tiến chức, không rõ bây giờ ông ta lên tới cái chức gì rồi. Còn cái giấy chứng nhận, như bọn tôi nói đùa “Cất cho kỹ, lỡ khi đau bụng, bỏ vào nồi sắc uống cho bớt đau.”

            Bên cạnh sân khấu Khu B là khu thanh nữ, tức là khu dành riêng cho các cô gái vượt biên một mình. Khu nầy hơi nghiêm nhặt, cấm đàn ông con trai léng phéng vào đây. Thành ra, ở cái sân khấu nầy, bên phía nhìn vào khu thanh nữ là nơi “phát tín hiệu truyền tin.”

            Longhouse tôi ở phía bên nầy sân khấu, phía bên kia là khu thanh nữ. Cứ mỗi sáng, tôi thấy hai cha con, hết người cha lên đứng bên hông sân khấu ra “tín hiệu” cho một cô nào trong đó. Sau cha là đến phiên anh con trai. Anh nầy cũng đến phát “tín hiệu” cho một ai đó trong khu trên. Sau nầy mới vỡ lẽ, người nhận tín hiệu của người cha có biệt danh là “Dung nhỏng nhẻo” cùng quê với Nguyễn Thị Định. Theo người ta nghĩ, cô nầy phải rớt thanh lọc vì là con cán bộ hiện dang tại chức ở Việt Nam, con cái có lý do gì mà gọi là “bị ngược đãi chính trị” như trong luật tỵ nạn chính trị của Cao Ủy Liên Hợp quốc qui định? Nhưng nhờ người cha là sĩ quan chế độ cũ, khéo vẽ phù phép mà lọt qua lưới của Cao ủy Tỵ nạn, sau định cư ở Úc. Thế còn anh con trai? Anh nầy có vợ đi theo nên hai bên vợ và bồ xảy ra… đánh ghen. Việc phải nhờ cao ủy gian xếp. Ôi! đời tỵ nạn, cũng không thiếu gì chuyện vui cười…

            Như tôi nói ở phần trên, do hoàn cảnh phải ở lại trại tỵ nạn lâu ngày, do tâm lý khi khó khăn thì người ta tìm đến nhau, do hy vọng những tổ chức của cộng đồng người Việt hải ngoại có thể giúp đỡ trong việc thanh lọc, các hội đoàn cựu quân cán chính được thành lập.

            Một hôm, nghe thông báo, tôi đi họp hội Thiết Giáp vì tôi vốn là sĩ quan Thiết Giáp trước khi biệt phái. Hội khoảng trên 10 người, gồm từ ông cựu thiếu tá Thái Văn Sang, khóa 12 Thủ Đức, cho tới anh binh nhứt, binh nhì nào đó, tôi không nhớ tên.

            Sở dĩ tôi nhớ ông cựu thiếu tá nầy, nói thật lòng, cũng bởi ông có loon lá nầy nọ, thứ nữa ông cũng thuộc hàng quái kiệt khó chơi. Trong một trận đánh nào đó, dĩ nhiên trước 1975, có lẽ M-113 của ông bị bắn cháy. Dấu tích còn lại trên mặt ông vì ông chưa kịp đi thẩm mỹ viện. Điều đó thì đáng thương cho ông, nhưng quả thật tôi không ưa ông là vì ông thuộc hàng đệ tử của cựu thiếu tá (sắp lên trung tá – như ông ta khoe – ) phó phòng 3 Sư Đoàn Dù nhưng cải tạo có hơi ít – chỉ 4 năm rưởi, nhờ giác ngộ cách mạng trước 1975 nên được về sớm. Quí vị có thể xem lại ở bài số 2, phòng SB thì rõ. Ngoài ra, ông nầy cũng thuộc hàng, như tôi có nói trong phần phát thanh hằng ngày trên đảo, cũng là người đi tìm lại “thời hoàng kim”. Tạm thời, ông tìm lại thời ấy ở mấy cô trong khu thanh nữ trước đã.

            Thế cũng cho qua đi. Nhưng hôm họp mặt “chiến hữu” lần đầu tiên, mỗi người tự giới thiệu mình cho mọi người biết tên họ cấp bậc, đơn vị, v.v… thì ông cựu thiếu tá Thái Văn Sang tự giới thiệu như sau:

            – “Tôi là người ai cũng biết…”

            Sau buổi họp, trên đường về nhà, cùng đi với ông Tuyên, cựu trung úy Thiết giáp, tôi nói với ông ta:

            – “Tới đảo rồi, mấy ông chế độ cũ nhiều người thấy mình lớn quá, cứ tưởng rằng ai cũng biết mình, ai cũng phải biết mình…”

            Từ đó, tôi chẳng họp hành “hội đoàn hội đúm” gì nữa cả, và cũng chẳng tham gia “cộng đồng, cộng kẽm” gì nữa cả, cứ lo làm báo, phát thanh cho thiên hạ đọc chơi, cho thiên hạ nghe chơi…cũng đỡ buồn nhiều lắm. Thời gian chờ đợi đi thanh lọc nhờ vậy cũng ngắn lại nhiều.

            Tuy nhiên, tôi biết có nhiều anh em rất tốt, thật lòng thương nhau. Ông Lê Hữu Thu, nguyên là thượng sĩ Cảnh Sát, tham gia hội Cảnh Sát Quốc Gia. Khi ở trại, ông cũng góp ý với những người chuẩn bị thanh lọc, giúp đỡ họ làm sao trình bày cho rõ ràng, mạch lạc những khó khăn vì chế độ trước khi vượt biên. Sau nầy, khi đi định cư rồi, từ Hạ Uy Di, nơi ông ở với các con đã định cư trước, nhiều lần gởi tiền về cho hội ở đảo để giúp đỡ các anh chị em gặp khó khăn.

            Ở phòng Phát Triển Cộng Đồng, nhiều việc phải đưa lên sân khấu Khu B như văn nghệ, bầu bán (kết thúc và công bố kết quả). Việc tôi làm, – báo bung và phát thanh -, chẳng phải lên sân khấu, cũng đỡ. Lên chỗ “hí trường” ấy, cũng ngại. Biết đâu lại có người tìm ra tôi có cái lỗi gì đó – Chắc gì tôi không có lỗi, mà còn lỗi nhiều lắm cũng nên – người ta đưa lên đó đê phê phán, phải tẻn tò, không ngán sao được!?

            Đời, quả thật là “Tạo hóa gây chi cuộc hí trường!” như Bà Huyện Thanh Quan nói vậy./

             hoànglonghải

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: