Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Bèo giạt (6) – Văn bút Bidong

1Nhà thơ Hoàng Vũ là một người rất yêu thơ, thích hoạt động văn nghệ. Mới đến đảo chưa lâu, Anh tìm gặp những người yêu thơ để thành lập nhóm “Thi Bút Bidong”. Anh cùng vài anh em gặp cố vấn Trương Mạnh Hùng, xin giúp đỡ trong việc sinh hoạt. Việc nầy xảy ra trước khi tôi làm việc ở phòng nầy.

            Sau khi tờ Sinh Hoạt Cộng Đồng ra số đầu tiên, việc sinh hoạt của nhóm “Thi bút Bidong” được xúc tiến mạnh hơn. Tôi không có công gì trong việc nầy. Đó chỉ là công việc giữa Anh Hoàng Vũ, ông Nguyễn Mạnh Dạn và Cố vấn Hùng. Sự có mặt của tôi ở phòng nầy chỉ có tác dụng làm cho anh em sinh hoạt văn nghệ văn gừng mạnh dạn đến với phòng PTCĐ, không e ngại đến sự dòm ngó của phòng SB như anh em đ ã từng e ngại. Cũng vì sự xuất hiện của tờ  SHCĐ, vì cần người viết, nên số anh em viết văn có mặt nhiều hơn nên anh Hoàng Vũ thay đổi tên nhóm “Thi bút Bidong” thành “Văn bút Bidong” cho phù hợp với tình hình thực tế lúc đó.

            Anh Hoàng Vũ không những làm thơ hay mà còn rành chữ Nôm, chữ Nho. Hôm nhóm “Văn bút Bidong” tổ chức sinh hoạt ở một lớp học của Trường Sinh ngữ, đến thăm, tôi thấy trên bảng đen lớp học, có một bài thơ viết theo hai cách chữ Nôm của Anh Hoàng Vũ, do Anh viết sẵn lên đó, bằng phấn. Chữ viết rất đẹp. Tôi đứng nhìn bài thơ đó, hỏi Anh:

            – “Một bài thơ nhưng Anh viết theo hai cách khác nhau, phải không Anh?”

            Hoàng Vũ cười:

            – “Tôi viết theo hai cách. Bài nầy,” – Anh chỉ bên phải, – “tôi viết chân phương. Bài nầy.” – Anh chỉ bài bên trái – “viết theo lối thảo.”

            Nhìn hai bản viết một lúc, tôi nói:

            – “Nhìn cách nào, Anh viết cũng đẹp. Tôi thích lối viết thảo, bay bướm hơn. Đúng là “Hoa tay thảo những nét, như phượng múa rồng bay.”

 

            –  “Đúng là người ta thường ưa cách viết thảo, bay bướm lắm. Chân phương là theo đúng bài bản. Viết thảo thì tùy hoa tay mỗi người.” Anh Hoàng Vũ giải thích.

            Cách viết thảo, sau nầy, ở hải ngoại, người ta thuờng mô phỏng theo để viết chữ quốc ngữ mà nhà  danh họa Vũ Hối gọi là “Thư họa”. Tôi cũng có một bản thư họa do anh Vũ Hối viết cho, về mấy câu trong kinh Hoa Nghiêm: “Từ nhãn thị chúng sanh.”

 

            Vì phục tài của Anh, tôi thường hỏi chuyện Anh khá lâu, mỗi khi Hoàng Vũ ghé lại chỗ tôi làm việc chơi. Có một buổi tối, nghe trên dài RFI, nhà phê bình văn học Thụy Khuê giới thiệu thơ Quách Tấn, bà Thụy Khuê cho rằng Quách Tấn là người cuối cùng làm thơ theo lối cổ điển. Đem chuyện ấy hỏi Anh Hoàng Vũ, Anh bảo rằng Thụy Khuê nói sai.

            Hiện giờ (khoảng các năm 1989, 90) ở Việt Nam còn rất nhiều người làm thơ theo lối cổ. Họ thành lập các nhóm thơ, có tên hội và sinh hoạt thường xuyên, tuy phải lén lút vì sợ Việt Cộng. Xin phép chính quyền Cộng Sản thì các vị nầy không muốn vì phải sinh hoạt theo đường lối, chủ trương, chính sách, làm thơ theo … chỉ thị. Họ không muốn.

            Hoàng Vũ kể cho tôi nghe một số người, và hội thơ, cũng như sinh hoạt của họ, như tôi có thuật lại trong bài “Những nhà làm thơ cổ điển”, xin trích lại một đoạn:

“Những thi sĩ âm thầm làm thơ cổ điển hiện nay ở Việt Nam không phải là ít: Lạc Nam, Trương Sư Xuyên, Nam Hà, Vọng Chi (tức Thái Can, thi sĩ, bác sĩ, đã đi Pháp), Vũ Khắc Văn (Trác Ngọc), Trúc Khê (mới, không phải Trúc Khê Ngô văn Triện, cũ) Trúc Phong (đã đi Pháp), Trình Xuyên, Thu Vân (nữ), bà Song Hường, bà Mỹ Linh, Liên Huê (nữ), Trương Duy Hy (có lẽ đã qua Mỹ theo chương trình HO), Tuyết Ngọc, Toại Khang, Đan Phượng, Hành Sơn Lưu Vĩnh Thuật (đã qua đời), Vũ Hân (đã qua đời) Chính Hà (cháu 7 đời Ôn như hầu Nguyễn Gia Thiều) , Thường Quân Vĩnh Mạnh, Hoàng Vũ …   Họ còn sống ở khắp cả  ba miền Trung, Nam, Bắc và sinh hoạt trong các hội thơ như Thạch Động Tao Đàn, Hồng Đô Thi Các, Tao Đàn Thái Hòa …

Để tránh sự theo dõi, chú ý và có thể bắt giữ của chính quyền Cộng Sản Việt Nam, họ sinh hoạt không thường xuyên. Theo Hoàng Vũ, buổi họp thơ cuối cùng của ông trước khi trốn khỏi nước là vào năm 1988, tại Saigon, tại nhà của Thường Quân Vĩnh Mạnh, có  Lạc Nam, Chính Hà (từ Bắc vào dự) và có cả Tô Kiều Ngân, nữ sĩ Cao Mỵ Nhân, mới tù  “cải tạo” về.” (Xin xem toàn bài ở phần phụ lục)

Mười ba ngàn người tỵ nạn. Lúc ấy, tổng số người tỵ nạn, tính chung là bằng con số ấy. Tuy nhiên, trong đó, không ít là “tinh hoa” của người Việt: Bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, nhà thơ, nhà văn, ca sĩ… Trong cái tổng số ít ỏi đó, so với mấy chục triệu dân Việt Nam, không ít là người có tài, không phân biệt tuổi tác, giới tính.

Vì vậy, tôi xin trích lại đây vài bài thơ hay. Tôi không thể trích hết thơ và cũng không trích lại văn vì… dài quá. Các quí vị định cư đâu đó, nếu các bài thơ bài văn của quí vị đã thất lạc, muốn có lại để làm kỷ niệm, xin liên lạc với tôi. Tôi sẽ photocopy, gởi đến quí vị.

Dĩ nhiên, bài thơ tôi trích lại đầu tiên là của Hoàng Vũ. Sau khi định cư, ở Cali, ông có xuất bản một tập thơ. Tôi có được tặng, nhưng rồi, ba năm trước, ba lần lên bàn mổ, tôi mang theo để đọc sau khi mổ xong. Việc di chuyển trong bệnh viện từ phòng nầy qua phòng khác, trong khi tôi chưa tỉnh thuốc mê, tập thơ ông tặng lạc mất, nay chỉ còn một bài, trích trong tờ SHCĐ.

Với bóng

 

Hoàng Vũ

 

                        Ta cám ơn mình đó bóng ơi!

                        Bên nhau từ thuở mới ra đời

                        Ngày xa cố quận không đành bỏ,

                        Buổi tếch trùng dương chẳng nỡ rời

                        Gắn bó một lòng chung số mệnh.

                        Bôn ba hai đứa khắp phương trời

                        Lâu nay ta đã vô tình quá!

                        Chẳng vỗ về nhau lấy nửa lời

                                                Pulau bidong, 1990

Bài Thơ Trong Nỗi Đau

                                    Nguyễn Mạnh An Dân

 

Trường học đã vắng người

                        Thư viện đìu hiu như ngày đóng cửa

                        Nụ cười từ lâu đã hiếm hoi mới nở

                        Giờ tắt hẵn trên môi

                        Mười ba ngàn trái tim cùng nói một lời

                        Hãy để chúng tôi làm người

                        Hãy cho chúng tôi được sống

                        Những giọt lệ buồn như lòng phải dấu

                        Sao tràn đổ bây giờ?

                        Này chị – Này anh – cụ lão – trẻ thơ

                        Ôi đồng bào tôi! Những người khốn khổ

                        Chúng ta muốn sống bình thường như tất cả

                        Sao đồng loại chối từ?

 

                        *

 

                        Sáng hôm nay điều ấy đến rồi!

                        Thảm họa – nhẹ nhàng gọi tên Thanh lọc

                        Rất ít nụ cười! Rất nhiều nước mắt!

                        Tám mươi phần trăm làm lại từ đầu

                        Hy vọng mịt mờ! Rất thật khổ đau!

                        Trăm tai biến đang thật gần, trước mắt!

                        *

 

                        Buồn có thể chia khi xảy ra khoảnh khắc

                        Rồi sẽ qua, sẽ hết trong đời!

                        Đồng bào tôi – Bidong – và khắp mọi nơi

                        Tai biến sẽ mang suốt trong cuộc sống

                       

                        *

 

                        Thế giới Tự do – Đồng loại có người

                        Sao đủ cả mà như không ai cả

                                     Pulau Bidong, 18-5-1990

            Nếu Có Một Ngày

                                                Mỹ Liên MC 404

                        Nếu có một ngày

                        Tôi trở về bên ấy

                        Tôi xin làm một cánh bèo trôi

                        Dòng nước chảy xuôi

                        Cánh bèo trôi giạt!

                        Tôi chẳng bao giờ hỏi han, thắc mắc

                        Vì một lần

                        Tôi đã ra đi!

                        Cũng không biết thế nào là Giải Thoát

                        Phải mua bằng Nước Mắt

                        Đốt cháy tháng ngày

                        Vẫn không thấy đâu là bờ bến

           

Quê hương ơi!

                        Sao tôi chạy trốn Người?

                        Có phải Người là nơi để thương để nhớ

                        Hay vì tôi đầu kiếp lầm nơi?

 

Sóng

                        Sóng mơn man bờ cát

                        Gió hôn làn tóc em

                        Vầng trăng soi sóng biếc

                        Thấm ngọt ngào hương đêm

                        Phương nào đi mỏi mắt

                        Lối về ngàn dặm xa!

                        Đường trường nhiều sương gió

                        Có gì nhắc nhở ta?

                                                Mỹ Liên MC 404

Màn Sương Biển Động

Có màn sương giá buốt ngoài kia

                        Ngoài khơi của biển đông thăm thẳm

                        Có linh hồn người đi viễn xứ

                        Giăng lên cánh buồm nhỏ nhoi

                        Chờ cơn gió – Ngọn sóng xô đi

                        Vào biển trời mênh mông

                        Có ray rứt kỳ lạ cõi lòng

                        Ôi! Đêm nay ta ra đi

                        Sau mười mấy năm trường mòn mỏi

                        Có thể là:

                        Tôi đã sống sót – Đất liền còn mịt mờ xa xăm!

                        Hay hải đảo xanh rì giữa biển mênh mông

                        Có Tự do – Phố chợ thị thành nhộn nhịp!

                        Và có những cánh chim lượn quanh hải đảo

           

                        Con thuyền

                        Đang tê buốt trong màn sương

                        Lẫn quất đi tìm thị thành làng mạc…

                        Tìm mua thực phẩm để làm Tiệc

                        Mừng Tự do tỏa ánh sáng Bình minh

           

            Hỡi!

                        Banthat, Bidong, Galang Bataan, Whitehead

                        Đang vui hay buồn?  Đang lên cơn sốt!

                        Vì tình người băng giá lạnh lùng

                        Sao thầm lặng ẩn mình trong lãng quên

           

                        Hôm nay!

                        Tôi cúi xuống, trong đêm trường hải đảo

                        Nhìn thân phận – thân xác phủ rong rêu

                        Những xác thân còn thở mà trái tim đã vỡ

                        Đang cúi gập trên thân thể, nơi bến bờ Tự Do

                        Tôi cúi xuống trong sương giá biển đông!

                        Đang dày đặc cho mất cả tương lai

                        Đang che mất con đường vào thế giới

                        Và che kín khốn khổ – những mảnh đời lưu vong

           

Tôi cúi xuống đếm tháng ngày trôi qua

                        Đợi chờ thanh lọc! Đợi chờ những lá thư

                        Đợi chờ Hội nghị! – Đợi chờ Phái đoàn

                        Và đợi chờ khai sinh lại trong Tự Do

           

                        Tôi cúi xuống – tạc thơ vào hải đảo

                        Để rêu xanh ôm kín những thuyền nhân

                        Khi quê hương không còn lẽ sống

                        Những mảnh đời rướm máu, dưới Độc Tài

                        Hỡi ngày 14 sao nghiệt ngã đắng cay

                        Sao ghì chặt đội chân ta vào hải đảo

                        Làm rã rời đôi cánh vừa thoát khỏi ngục tù

                        Sao nỡ rào hải phận, – Sao nỡ xua đuổi đồng minh.

                        Hỡi mây: Bay ngang đồi Bidong

                        Cho ta gởi: Lời thơ vào mầu trắng Tự Do

           

Ta gởi lời:

– Kêu gọi lòng nhân đạo, có lẽ đã ngủ quên ở: Luân Đôn, Hồngkông, Bangkok

 

Hỡi tình người

Tôi đi tìm tự do bạn đang có

Hãy chia xẻ cùng tôi bầu trời

Một chỗ đứng dung thân

Vì quê hương tôi dã biến thành ngục tù vây hãm

Hỡi tình người! Hãy mở cửa

“Thế Giới Tự Do”

                                                1990 – Phù Sa

Bởi vì 13 ngàn người tỵ nạn hiện đang sống trên đảo Bidong, kể từ tàu MC. 326 là đến sau 12 giờ đến ngày 14 tháng 3 là ngày “đóng cửa đảo” (Cut off date) nên phải qua “thanh lọc” (Screening). Ai “đậu thanh lọc” (được xác nhận là người tỵ nạn chính trị) mới được đi định cư ở nước thứ ba, còn như “hỏng thanh lọc” thì có nguy cơ phải hồi hương, không sẽ bị “cưỡng bức hồi hương”.

Thành thử, các bài thơ trích dẫn ở trên đều là tâm rạng, nỗi lo lắng, sợ hãi, v.v… trước tình trạng thanh lọc. Về sự kiện nầy, tôi sẽ nói tiếp sau.

Trong các tác giả trích dẫn ở trên, có những người lớn tuổi. Riêng Mỹ Liên MC. 404 thì còn rất trẻ. Cô ta vượt biên cùng một người em gái tên Cầm. Thân phụ của họ là bạn đồng ngũ với cựu thiếu tá Trần Văn Lễ, người sau nầy là trưởng phòng SB thế cho ông Nghiêm.

Phụ lục:

Nói Chuyện thơ:

Những Nhà Làm Thơ

Cổ Điển

            Hồi cuối năm 1990, bà (hay cô) Thụy Khuê của đài RFI (tiếng nói Quốc tế từ nước Pháp), nhân dịp thi sĩ Quách Tấn qua đời ở Việt Nam, có bài nói về nhà thơ cổ này và nhận định rằng: “Quách Tấn là nhà thơ cổ điển cuối cùng của thi ca Việt nam ở thế kỷ 20 này.”

            Nói vậy là không đúng đâu!

Thời tiền chiến, trong khi phong trào thi ca lãng mạn đang lan rộng ở nước ta, người ta đua nhau làm thơ mới, từ hình thức đến nội dung, chịu ảnh hưởng không ít của thi ca lãng mạn Pháp thì Quách Tấn đi ngược lại. Ông làm thơ cổ điển, xuất bản một tập thơ cổ điển (tập “Mùa Cổ Điển”). Ông là đóa hoa cô đơn và nổi bật trong thời kỳ đó về những bài thơ làm theo lối cổ của ông, mà nổi tiếng nhất là bài “Đêm Thu nghe quạ kêu”, với nhiều thành ngữ, điển cố – lối làm thơ chứng tỏ sự uyên bác cổ văn mà rõ nhất là “Cung Oán Ngâm Khúc” của Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều. Đây là một bài thơ hay, tôi xin ghi lại như sau:

                      Đêm Thu Nghe Quạ Kêu

                        Từ Ô Y Hạng rũ rê sang

                        Bóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng

                        Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng

                        Thu sông Xích Bích nguyệt mơ màng

                        Bồn chồn thương kẻ nương sông bạc

                        Lặng lẽ nhà ai rụng giếng vàng

                        Tiếng dội lưng mây đồng vọng mãi

                        Tình hoang mang gợi tứ hoang mang.

                                         (Quách Tấn – Mùa Cổ Điển)

Ô y hạng: Ngõ áo thâm, tức là ngõ nhà quan, người trong họ mặc cùng một màu áo. Tỷ dụ như giòng họ ông Phan Đình Phùng (12 đời, đời nào cũng có người đổ đại khoa – tiến sĩ), dòng họ đại thi hào Nguyễn Du, dòng họ Thân Trọng, Hà Thúc, Nguyễn Khoa ở Huế, nhiều đời đổ đại khoa và làm quan to trong triều.

Bến Phong Kiều: Ý từ trong bài thơ Đường nổi tiếng “Phong Kiều Dạ bạc” của Trương Kế.

Xích Bích: Chỗ đóng quân của Tào Tháo trên sông Trường Giang. Khổng Minh bày mưu hỏa công cho Tôn Quyền đốt cháy thuyền của Tào.

                                                &

Tôi không rõ bà Thụy Khuê rời Việt Nam năm nào và trong thời gian ở xứ người, dù bà thường hay bàn đến thơ văn Việt Nam, không chắc bà có dịp để tìm hiểu thêm về những nhà làm thơ cổ hiện đại. Tôi không nghĩ bà ấy cho rằng họ là người kém tài, không xứng để bà nói đến họ. Có thể bà chưa có dịp nói đến họ nhưng khẳng định Quách Tấn là “Nhà thơ Cổ Điển cuối cùng” thì hoàn toàn sai.

Những người làm thơ chân chính thì không về hùa với ai để dùng thơ làm nấc thang danh vọng như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, và cũng không làm thơ theo “Đơn Đặt hàng” của Hội nhà văn, nhà veo, của đảng (Cọng Sản). Bởi vậy, ngoài những nhà thơ và người ái mộ thơ với nhau, thơ của họ không được phổ biến rộng rãi và những Hội Thơ (Tao Đàn) của họ, đối với “Bác và Đảng” đều “Phi Pháp”. Họ phải hoạt động âm thầm, nhiều người không biết tới, nhất là “người nước ngoài”, “người có quốc tịch nước ngoài” thì không chắc biết tới.

Những thi sĩ âm thầm làm thơ cổ điển hiện nay ở Việt Nam không phải là ít: Lạc Nam, Trương Sư Xuyên, Nam Hà, Vọng Chi (tức Thái Can, thi sĩ, bác sĩ, đã đi Pháp), Vũ Khắc Văn (Trác Ngọc), Trúc Khê (mới, không phải Trúc Khê Ngô văn Triện, cũ) Trúc Phong (đã đi Pháp), Trình Xuyền, Thu Vân (nữ), bà Song Hường, bà Mỹ Linh, Liên Huê (nữ), Trương Duy Hy (có lẽ đã qua Mỹ theo chương trình HO), Tuyết Ngọc, Toại Khang, Đan Phượng, Hành Sơn Lưu Vĩnh Thuật (đã qua đời), Vũ Hân (đã qua đời) Chính Hà (cháu 7 đời Ôn như hầu Nguyễn Gia Thiều) , Thường Quân Vĩnh Mạnh, Hoàng Vũ …   Họ còn sống ở khắp cả  ba miền Trung, Nam, Bắc và sinh hoạt trong các hội thơ như Thạch Động Tao Đàn, Hồng Đô Thi Các, Tao Đàn Thái Hòa …

Để tránh sự theo dõi, chú ý và có thể bắt giữ của chính quyền Cọng Sản Việt Nam, họ sinh hoạt không thường xuyên. Theo Hoàng Vũ, buổi họp thơ cuối cùng của ông trước khi trốn khỏi nước là vào năm 1988, tại Saigon, nhà của Thường Quân Vĩnh Mạnh, có  Lạc Nam, Chính Hà (từ Bắc vào dự) và có cả Tô Kiều Ngân, nữ sĩ Cao Mỵ Nhân, mới “cải tạo” về.

Năm 1989, sau khi đến Bidong một thơi gian ngắn, Hoàng Vũ thành lập ở đó nhóm “Thi Bút Bidong”, tổ chức nhiều buổi nói chuyện thơ. Chủ tọa là Hoàng Vũ, người điều khiển chương trình rất khéo là Trịnh Hí Phùng. Nghe thông báo, tôi có đến nghe và rất ngạc nhiên trước nét chữ Nho bay bướm của Hoàng Vũ. Ông ta viết được cả 2 loại: viết thảo và chân phương. Với loại nào, ông cũng tỏ ra là người tài hoa. Tôi trích in lại sau đây cả ba bản: Bản chữ Nho viết theo lối Chân Phương, Bản dịch âm và Bản dịch nghĩa để độc giả nhàn lãm, cùng với một số thơ khác của ông. Đây là những bài thơ đầu tiên, tôi hy vọng sẽ có dịp giới thiệu với độc giả nhiều bài thơ khác làm theo lối cổ điển nữa.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: