Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Bèo giạt (5) – Phòng Phát Triển Cộng Đồng

1            Sau khi anh em chúng tôi nói chuyện với nhau về việc viết bài phải hết sức tránh dùng “Danh từ Việt Cộng”, một hôm, ông Ngô Văn Quảng gọi tôi tới, lưu ý tôi tờ báo phải tránh dùng những “từ Việt Cộng.”

            Bực mình vì cái ông Quảng nầy, tôi hỏi ông:

– “Anh thấy bài nào trong tờ SHCD có dùng “danh từ Việt

Cộng”?

– “Chưa thấy!” Anh ta trả lời, thật thà.

Tôi hỏi tiếp:

– “Theo anh nghĩ, những tiếng nào là “danh từ Việt Cộng”?

– “Chẳng hạn như “đảm bảo, “bảo đảm.” Anh đưa ví dụ.

– “Anh còn thấy tiếng nào nữa không? Anh cho tôi ví dụ đi!”

Anh ta lúng túng, không trả lời thêm được.

Tôi tự kềm chế cho khỏi nổi nóng bất tử:

– “Khi anh nói “Từ Việt Cộng” là anh đã dùng “danh từ Việt Cộng.” Hồi trước, khi còn đi học, tôi chỉ nghe thầy cô giảng “danh từ” chớ không nói trổng “từ”. Từ “danh từ” mới nảy sinh thêm “chủ từ”, “động từ”, “túc từ”, v.v… Ở vùng Quốc gia, sau nầy là miền Nam, chúng ta nói theo cách hồi xưa. Ngoài Bắc, họ gọi chung là “từ” sau đó mới có “danh từ”, “đại từ”, “túc từ”, v.v… Tôi không nói ai đúng ai sai, nhưng khi chúng ta bỏ cách nói của ngươi miền Nam mà nói theo cách của người miền Bắc là chúng ta đã bị “Việt Cộng hóa” rồi đấy. Vì tự ái, tôi không nói “Từ Việt Cộng” như anh. Tôi nói “Danh từ Việt Cộng” theo cách của chúng ta ngày trước. Sau nầy, khi không còn Việt Cộng, chính quyền Việt Nam có nhiệm vụ lập ra những hội đồng để xét lại việc nầy, mới thống nhứt được. Bây giờ, tôi không tự động “thống nhứt” với Việt Cộng như anh được.”

Nghỉ một lúc, tôi nói tiếp:

– “Thật ra, tôi đã viết một bài như vầy để lưu ý anh em. Bây giờ, không ít người dùng “Danh từ Việt Cọng” mà họ không hay. Này nhé:

– “Trước gọi là Sự việc, bây giờ gọi là Vụ việc,

– “Trước gọi là “Khoảng cách”, bây giờ gọi là “Cự ly”. Anh biết cự ly là cái gì không?” –

Thấy ông Trưởng Phòng ngồi ngẩn mặt ra, tôi giảng giải: “Cự ly là khoảng cách giữa hai cái cựa gà. Cự là cựa, ly là khoảng cách. Đó là danh từ Hán Việt. Việt Cộng không ưa dùng danh từ Hán Việt, không gọi “máy bay trực thăng” mà gọi “máy bay lên thẳng”, nhưng tại sao không dùng “khoảng cách” cho dễ hiểu mà lại dùng “cự ly”? Còn nhiều nữa, như “khắc phục khó khăn”. “Khắc phục khó khăn” là cái gì? Tại sao không nói vượt qua, hay giải quyết khó khăn như chúng ta dùng trước 1975”?

Tôi ít ưa ai dạy tôi một cách trịch thượng như thế. Ngồi ở văn phòng, gọi tôi tới trình diện, dạy tôi một cách ngớ ngẩn như vậy, làm sao tôi chịu được.

Khi tôi tới làm việc ở phòng PTCĐ, tôi chỉ nghĩ tới việc làm phát thanh, làm báo, v.v… chớ tôi có nghĩ tới cái ghế trưởng phòng. Các anh em tôi quen, như Hảo, Tộ, Liệu, Tường, ngoài việc nghĩ tới những công việc như tôi nói, chẳng ai xúi tôi làm trưởng phòng, chẳng ai đề nghị Cố vấn Trương Mạnh Hùng để tôi làm trưởng phòng cả. Cái chức trưởng phòng nầy là do đề nghị của Vĩnh Việt Phước. Có lần Phước nói với Hảo: “Để ông Quảng làm trưởng phòng PTCĐ vì ông ấy thiếu tá, anh Hải mới đại úy.”

Hảo cũng chẳng quan tâm tới việc đó, vì Hảo muốn tôi làm đúng việc tôi ưa thích mà thôi.  Vì vậy, sau khi ông Quảng làm trưởng phòng, Hảo nói với tôi:

– “Đ. mẹ, cái thằng Phước nầy lưu manh. Tụi nó nói với tui thằng cha Quảng nầy khóa 12 Thủ Đức, mới loon đại úy mà nó phong thằng chả lên thiếu tá để cho làm trưởng phòng.”

Tôi cười, nói với Hảo:

– “Yên tâm học tập cải tạo đi” – tôi thường nhại câu cán bộ Việt Cộng thường nói ở trong các trại “tù cảo tạo”. Gì mà nóng rứa! Thằng cha Phước nầy chưa từng đi lính mà sao nó rành chuyện “lấy loon đè người” trong chế độ cũ. Nó làm gì thì làm, đừng đụng tới công việc của mình là được rồi.”

– “Nó mới gọi anh tới dằn mặt về việc “danh từ Việt Cộng” chớ sao không? Nó biết con mẹ gì? Nó dám dạy anh cách viết văn. Tui nóng chớ!”

– “Kệ mẹ nó, vui thì làm chơi, không vui thì nghỉ, ngày ngày ra thư viện đọc sách, có sao đâu!”

Thật ra, tôi cũng bực mình việc làm của Quảng. Tôi đi dạy trung học từ năm 1958, không ít học trò của tôi đi Thủ Đức từ khóa 11, 12. Tới 1975, có người đã là thiếu tá, cũng còn có ông còn đại úy. Ngô Văn Quảng cũng khóa 12 Thủ Đức, cũng đại úy, lại tính chuyện “lấy chức đè người”, gọi tôi dằn mặt để chứng tỏ anh ta có quyền thì anh ta dại lắm, không biết mình, biết người chút nào cả. Tuy nhiên, cũng từ đó về sau, không bao giờ anh ta nói gì với tôi nữa, nhất là sau khi tờ báo SHCĐ đăng bài tôi viết “Danh Từ Việt Cộng”. Bài nầy tôi gởi cho báo “Lửa Việt” ở Canada. Họ cũng đăng trên báo ấy. Họ thường gởi báo cho phòng PTCĐ.

Thật ra, tôi quá lo xa, cứ sợ thiếu người viết cho tờ SHCĐ. Dĩ nhiên, văn hào, thi hào thì khó kiếm nhưng người có khả năng viết thì cũng không thiếu. Hôm anh Nguyễn Ngọc Bảy thay ông Lê Chiêu Thông, giữ nhiệm vụ quản lý  Bệnh Viện SickBay, (không rõ ông nầy có trùng tên với ông Lê Chiêu Thông trong vụ “Còi hụ Long An” hay không?!) (4) tình cờ tôi gặp cô Thủy, bạn ông Bảy. Qua nói chuyện công việc, cô Thủy nói hồi còn đi học, cô có viết tập san cho trường, tôi nói:

– “Đã viết báo hồi trước! Sao bây giờ lại không?”

Cô Thủy hứa sẽ gởi cho tờ SHCĐ một bài.

Không ngờ bài báo cô ta viết hay quá.

Nội dung câu chuyện thì không có gì gay cấn cả. Một người đàn bà đến đảo với một đứa con 5 tuổi. Ngày ngày, người mẹ lên làm thông dịch viên cho Cao ủy Tỵ nạn. Một hôm, trời nổi cơn bão nhẹ. Thấy gió thổi quá, người mẹ nghĩ tới con ở nhà khôg ai chăm sóc, đâm lo, không rõ thằng bé đang ở nhà hay bỏ đi chơi đâu đó, lỡ có chuyện gì xảy ra thì sao?! Người mẹ bèn xin phép Cao ủy về với con. Về tới nơi, té ra thằng bé đi chơi đâu đó, không có nhà. Người mẹ bỗng hốt hoảng đi tìm con, từ longhouse nầy qua longhouse khác, cứ “Cún ơi! Cún!”, tên đứa con trai mà gọi. Người mẹ đi giữa cơn bão biển, gió thổi ào ào, cây cối rung chuyển. Nhứt là những cây dừa lão, cây nào cũng trên dưới 50 tuổi, cao ba bốn chục mét, ngọn dừa lắc lư, những trái dừa cao gần muốn rớt. Lỡ có một trái rớt trúng đầu thì cũng không khác chi bị thiên lôi giáng cho một lưỡi tầm sét. Trong cơn giận dữ của ông trời như thế, người mẹ vẫn chịu khó đi tìm con, ướt át, bồn chồn, lo lắng, sợ hãi, mệt mõi…

Cái hay của câu chuyện là tác giả mô tả được tâm lý của người mẹ đi tìm con, vừa sâu sắc, vừa chi tiết, vừa cảm động, đầy tình mẫu tử.

Tôi đăng truyện ngắn ấy. Khi đem báo tới tặng cô Thủy làm việc ở văn phòng Cao ủy, tôi yêu cầu cô ta viết tiếp, không hiểu tại sao cô ta “lặn” luôn, không có bài thứ hai.

Tôi lại đi tìm người viết!

Nhớ hôm đầu tiên đi họp về việc làm tờ đặc san, khi còn làm việc ở phòng SB, ngồi trước mặt tôi là hai cô gái còn trẻ. Trước khi họp có người đến bắt tay tôi, thấy người gọi tên tôi, một cô quay lại hỏi:

– “Bác là ba của Hoàng-Hà Long?”

– “Vâng”, Tôi nói: “Hà Long là con gái đầu của tôi.”

– “Cháu là Hồng, bạn với Hà Long ở trường sư phạm.” Cô ta nói.

Tôi cười:

– “Cháu cũng ở trong nhóm “lục bình trôi”?

Cô ta cười:

– “Bác cũng biết, cháu ở trong nhóm. Hà-Long thứ tám.”

            Bọn chúng có 8 đứa, chơi với nhau rất thân vì hai lý do: Ngụy, mà lại ngụy ròng, “ngụy chăm phần chăm”, tức là không có đứa nào bà con chi với “cách mạng” cả. Thứ hai, chúng nó thi vào y khoa. Điểm đậu là 18, chúng nó đứa nào cũng trên 20 nhưng không được học y, bị đầy qua sư phạm, như người ta đẩy lục bình nên 8 đứa chúng nó tự đặt tên là lục bình. (Việt Cộng gọi là lý lịch số 13). Lớn tuổi nhứt, đẹp nhứt, và điểm đậu cao nhứt là Phạm Thị Thanh Mai, con gái Bác sĩ Chuẩn tướng Phạm Hà Thanh. Hoàng-Hà Long, nhỏ tuổi nhứt, nhỏ con nhứt, – vào đại học mới 17 tuổi, được bọn chúng đặt tên là Tám. Đám nầy hao mòn lần lần: Vượt biên, bỏ học, ODP, v.v…

            Hồng ở trong nhóm nầy, qua bạn bè, biết tên tôi nên quay lại chào hỏi tôi. Ngồi bên cạnh là Mỹ Liên, cùng trạc tuổi.

Tôi cũng lên Cao ủy, tìm hai “đứa” nầy, khuyến khích viết bài về phụ nữ. Mấy cô làm bên Trung Tâm Phụ Nữ của cô Cố vấn Hồng Bích, tôi đã thăm dò, không có khả năng viết. Phụ nữ trên đảo đông hơn đàn ông. Làm báo bỏ qua họ sao được. Trong hai cô nầy, Mỹ Liên viết được lắm, nhứt là những nhận định, phê bình, giải thích về gia đình, vệ sinh, ăn uống, chăm sóc trẻ con, v,v…

            May mắn, tôi được nhiều người viết: Tự động họ đem bài đến cũng có, tôi đi tìm, yêu cầu viết, khuyến khích cũng có. Người viết càng ngày càng đông. Đó là vị: Vương Quân, Hồng Sơn, Hoài Ân, Hà Giang, Hồ Quang Đặng (Cựu Hiệu trưởng QĐ Quang Trung), Thúy Mỹ, Quỳnh Tân, Nguyễn Bình Định, Hoài Nhân, Trần Đình Nghị, Phạm Nam Quan, Nguyễn Phan Thái, Hoài Minh, Việt Cường – Bửu Phôi (nhạc), Xuân Minh, Vũ Nga, Nhật Di, Định Nhơn Hương (Cố vấn Trương Mạnh Hùng), Vương Quân, Đỗ Xuân Nguyên, Bảo Quốc, Hải Hồ, Long Huyền Thông, Ngọc Long, Hoàng Ngọc, Nguyễn Huy Phước, Trần Ngọc, T. Mỹ, Mỹ Liên MC 404, Phù Sa, Ngũ Liêm, Nguyễn Vĩnh Ngọc, T. Sơn, Tây Thành, Khôi Nguyên, Nguyễn Thanh Hoàng, T. Hải, Hoài Vân, Lam Thi, Minh Nam, Thế Nguyễn, Phạm Trần, Nhất Lam, K. Hùng, Phan Bình, Hùng Long. Việt Linh, Đại Bường, Hồng Gấm, Vi Vu, Lam Thi, Trần Nguyên Hãn, Ái Khanh, Như Hạnh, và nhạc sĩ Trường Sa (cựu Hải quân thiếu tá Nguyễn Thìn)…

Xin nói đôi điều về Trường Sa. Con người ông và cá tính ông rất tương phản. Ông có thân hình cao lớn; thông thường, ít ra, cao hơn người khác nửa cái đầu. Thân mình cũng “dềnh dàng” (Nói theo kiểu người Nam), nhưng cách nói năng, giọng điệu, bộ tịch thì bao giờ cũng nhỏ nhẹ, dịu dàng. Làm chung phòng SB với ông, tôi chưa từng thấy ông nói to với ai bao giờ. Nói to chứ đừng nói là “lớn tiếng”.

Hôm tầu MC 516 cặp cầu Jetty Bidong, giữa chính quyền Mã Lai và Cao ủy tỵ nạn tranh chấp: phía Cao ủy yêu cầu cho đồng bào lên bờ, phía Mã Lai không đồng ý, phải chờ cấp cao hơn của Mã Lai giải quyết.

Nó có một nguyên tắc rất “kỳ cục”: Ghe tuy cập vào cầu, nhưng chưa có ai lên cầu hay bờ biển. Nếu có một thuyền nhân nào đó, nhảy xuống biển, bơi vào cầu hay đất liền, là coi như Mã Lại “thua”. Còn ghe tuy cặp vào cầu, nhưng mọi người còn ở trên ghe thì coi như chưa tới đảo, có thể bị đẩy ra khơi. Người lái chiếc ghe vượt biên nầy là cựu Hải Quân Trung tá Châu Ngọc Tuấn, quê ở Quảng Tín, bạn thân của Trường Sa. Thương bạn, lại sợ ghe bạn bị đẩy ra khơi, vì chưa ai được lên bờ cả, Trường Sa cứ loay hoay, lo lắng suốt ba hôm tàu bị neo ngoài đầu cầu jetty như thế. Trông ông ta, nói theo thông tục, như “gà mắc đẻ”, vừa tội nghiệp cho ông (hơn là bạn ông còn ngoài ghe) vừa buồn cười. Trường Sa tìm mọi cách, kể cả việc nhờ mấy em thanh, thiếu niên làm việc cho khối tiếp liệu, hay cho tàu buôn hàng Mã Lai đem hàng từ đất liền ra cho “Cửa hàng Mã” (tiệm chạp phô trên đảo), những người nầy có thể ra tận đầu cầu jetty, tiếp tế lương thực và nước ngọt cho ông Tuấn đang kẹt trên ghe vượt biên.

Cũng thời gian nầy, thấy người ta tiễn đưa nhau đi định cư, ra tới cầu jetty, kẻ vui người khóc, nhạc sĩ Trường Sa sáng tác bài hát “Tiễn Em Ra Cầu Nhung Nhớ”. Có lẽ tôi là một trong những người đầu tiên, hân hạnh được ông ta tìm tới (ở văn phòng) hát cho nghe bản nhạc mới của ông.

Trường Sa thì đã nổi tiếng từ trước 1975, và bài hát mới nầy, cũng hay lắm. Phải chi có Lệ Thu hát nhạc Trường Sa thì hợp quá, hay quá. Đằng nầy, chính Trường Sa hát nhạc Trường Sa bằng cái giọng ồ ề của anh, cái hay mất đi 90%.

Nghe xong, tôi nói với anh ấy: “Hay lắm. Tôi nói thiệt, không phải lấy lòng. Mai mốt có nhạc hội, anh nhờ cô Vũ Nga hát cho. Anh đừng hát. Khó mà được người ta vỗ tay.”

Nghe tôi nói, Trường Sa cười hền hệt, như cái cười thông thường của anh. Những người chung quanh, nghe chuyện, chẳng ai không cười.

Cũng xin nói thêm về anh Trần Đình Nghị. Anh Nghị nguời Bắc, Đại úy Biệt Động Quân, nhà ở khu cư xá trên đường Trần Quí Cáp, gần ngã tư Hai Bà Trưng Saigon. Anh Nghị rất khoái làm phóng viên, bất cứ sinh hoạt quan trọng nào trên đảo, anh đều có mặt, chụp hình, viết bài. Viết bài xong, đưa tôi đánh máy, cho phát thanh và đăng lên báo, còn hình anh chụp thì chịu, in ra làm sao được, anh đành cất đem theo khi đi định cư, làm kỹ niệm. Sau khi định cư ở Úc, anh vẫn giữ liên lạc với tôi, vẫn làm phóng viên truyền hình. Hình anh chụp ở Úc, vác camera trên vai, to như một cái vali.

            Ban Biên Tập tờ báo thì ghi:

Chịu trách nhiệm tổng quát: Hoàng Long Hải, Hoàng Vũ, Phụ trách ban biên tập: Nguyễn Mạnh An Dân,

Thường trực tòa soạn: Đỗ Xuân Nguyên, Hà Giang, Ngọc Hảo, Thanh Hữu.

Bìa: Hồ Kim Phong.

Minh họa: Hồ Kim Phong, Kim Phượng.

Việc chọn thơ thì nhận bài nào, tôi đưa cho ông Hoàng Vũ chọn lấy.

Văn, tôi đưa cho ông Nguyễn Mạnh An Dân, cũng làm như ông Hoàng Vũ.

            Trên thực tế, chẳng ai chịu đánh máy bài (Không biết “đã tự” hay không có thì giờ… gì đó). Tôi là người cuối cùng, vừa chủ bút, vừa chủ nhiệm, chủ đánh máy, chủ đánh dấu, chủ ấn loát (đem đi quay roneo), chủ đóng tập, chủ phân phối. Cái gì tôi cũng “chủ” hết. Tôi nói đùa: “Nhân dân làm chủ chính là tui. Tôi làm chủ nên tôi là nhân dân…”

            Tôi tự đánh máy vào giấy stencil, tự đánh dấu vì máy chữ ở trại tỵ nạn không có dấu chữ Việt, đem đi quay Roneo ở văn phòng Cố vấn Tieou, phụ trách giáo dục, sắp trang và đóng thành tập, đem phân phối cho các cơ quan và các khu người tỵ nạn cư trú A, B, C, D.

Thật ra, ngoại trừ đánh máy và đánh dấu, các việc khác đều có anh em phụ giúp, làm việc chung với nhau nên thật vui! Có một việc tôi không làm được, tôi mù tịt về việc nầy là vẽ bìa và vẽ trang trí các trang trong, phải nhờ các anh em có hoa tay vẽ giúp.

            Sau khi ra số đầu, tôi bàn với anh em số tới phải có hình của trại Bidong. Bidong cũng có nhiều cảnh đẹp và hùng vĩ vì một bên là núi, một bên là biển. Có tới ba bốn bãi biển mà bãi khu C là đẹp nhứt. Đứng nơi bãi C, nhìn ra khơi là hòn Cá Mập, đảo hoang vì không có nước ngọt. Gọi là hòn Cá Mập vì hòn đảo kéo dài ra, một đầu cao, một đầu thấp như con cá mập đang ngóc đầu lên. Ngồi ở bãi biển khu A nhìn ra biển thì phía trước mặt, xa xa là dãy núi dài, tôi không biết tên, xương sống của bán đảo Mã Lai. Tuy nó không gần như khi tôi còn trẻ ngồi bên bờ sông Thạch Hãn nhìn lên rặng Trường Sơn, nhưng dãy núi nầy hùng vĩ cũng không kém gì Trường Sơn ở nước ta. Nhìn rặng núi ấy, tôi thấy nhớ nhà da diết, nhất là nhớ thời niên thiếu, khi 14, 15 tuổi, chưa xa xia đình, ngày ngày vui chơi cùng bạn bè, tắm táp, đùa giỡn trong dòng nước trong xanh của sông Thạch Hãn.

            Về chuyện vẽ hình cho trang bìa số báo sắp tới, tôi nói với anh em:

            – “Nên có hình “Ông già Bidong”. Hình đó có ý nghĩa nhứt.”

            Thế rồi ông Nguyễn Mạnh Dạn nhận đảm đương công việc ấy. Không rõ anh ấy tự vẽ lấy hay nhờ ai vẽ giúp, mấy hôm sau, chúng tôi có được bức vẽ hình Ông già Bidong và đứa cháu gái nằm chết vắt trên tay ông. Hình vẽ đẹp lắm, nhưng khi “can” vào tờ stencil để in, thì bức hình không còn đẹp như trước. Khi in ra thì hình lem nhem, không rõ nét. Phương tiện in ấn khó khăn đành chịu vậy. Nếu như bây giờ thì khỏe quá, scan vào máy là xong. Bức hình ấy, sau đem triển lãm, rồi không biết nó thất lạc về đâu. Bất cẩn làm xảy ra nhiều điều đáng tiếc là vậy!

            Một hôm, anh Hồ (bút hiệu Hà Giang), người thường cộng tác bằng các bài báo, vì không tham gia từ đầu nên không biết những ý tôi đã trình bày về tên tờ báo, hỏi tôi:

– “Sao anh không đặt tên tờ báo nghe cho hay hơn một chút.”

– “Tên gì bây giờ?” Tôi hỏi.

– “Niềm tin.” Anh Hồ nói.

– “Niềm Tin.” Tôi nhắc lại. Bỗng tôi hát đùa với anh câu hát trong một “Bài không tên số mấy đó” của Vũ Thành An. “Tôi biết tin ai bây giờ!!!” Rồi tôi nói tiếp: “Thời đại chúng ta, người ta gọi là thời đại khủng hoảng niềm tin, không ai tin ai được cả. Anh tin ai mà anh muốn đặt tên là “Niềm Tin”?

Hồ cười:

– “Tôi tin tôi!”

– “Anh tin anh thì quí lắm.” Rồi tôi nói đùa: “Nhiều khi tôi cũng chẳng tin tôi. Có điều chắc chắn là không bao giờ tôi tin “bác” hay “đảng”. Bọn xạo không!”

Ông Hồ cứ cải:

– “Nhưng người ta sống là phải có niềm tin chứ?”

Tôi nói:

– “Niềm tin là lẽ sống, mất niềm tin là mất lẽ sống, là tuyệt vọng, là đi tới cái chết. Không có niềm tin làm sao người ta định hướng cuộc đời. Không có niềm tin, “Tôi biết tin ai bây giờ” thì dễ phản bội.”

Một lúc tôi nói tiếp:

– “Kẹt một cái là khi nói niềm tin thì cái “tin” ấy, nội dung nó không phải là nhỏ. Nó ở trong tâm lý học, trong văn chương, trong giáo dục… mà tôi thì tấy khả năng chúng ta hạn chế. Viết như ông Dạn “Tự ái dân tộc” là cao lắm rồi. Thành phần tỵ nạn ở đảo thì anh biết rồi đấy, độc giả ở đảo của mình là ai? Tôi muốn thực tế, cứ “Con Trâu” (5) của Trần Tiêu mà viết là thiết thực hơn cả. Vì vậy, tôi mới lấy tên là “Sinh hoạt Cộng Đồng.”

Có lẽ nhiều người không đồng ý với tôi về cái “tính thực tế” đó. Họ muốn cái gì cao hơn, đẹp hơn, nên sau khi tôi rời tờ báo, thì nó được đặt tên là “Niềm Tin.”

Về chương trình phát thanh hằng ngày, tôi lấy tin, đánh máy rồi đưa cho cô Mỹ Duyên. Cô ta có vài “đệ tử” làm xướng ngôn viên. Họ cũng chịu khó tập nên đọc ít bị vấp váp khiến cho nhiều người vừa lòng. Đọc tin vấp váp, đọc trật, gián đoạn nhiều khi sai lạc cả ý nghĩa. Những bản tin do thông cáo của Cao ủy hay Task Force (lực lượng đặc nhiệm Mã Lai) hay của Khối An Ninh, Vệ Sinh, v.v… thì cứ nội dung của họ mà đọc.

Có lần tôi kể chuyện vui. Khi tôi còn làm việc ở Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp Binh, Trung Úy Nguyễn Đăng Đức kể: “Có thằng bé lớp Ba học bài như thế nầy “Năm nay em đã lớn, em không còn chơi bời lêu… em không còn chơi bời lêu… lổng, lổng…”

 

Đấy, kể xong câu chuyện, tôi nói với cô Mỹ Duyên: Nhớ nhắc chừng mấy “đệ tử” của cô, đọc cho hết câu! Đọc sai, cứ tự nhiên nói: “Xin lỗi thính giả, tôi xin đọc lại”, rồi đọc lại cho đúng cả câu; cũng như khi giới thiệu ban phát thanh hay ban nào đó trong nội bộ, xướng ngôn viên phải giới thiệu các bạn của mình ở trong ban trước, sau chót mới giới thiệu tên mình. Nếu tự giới thiệu mình trước tiên, người ta cho mình có “văn hóa Chí Phèo”. Sợ cô Mỹ Duyên chưa rõ, tôi nói thêm: “Văn hóa Chí Phèo là Văn hóa Vô sản đấy!”

&

Về tin tình hình quốc tế, Việt Nam, mỗi đêm, tôi nghe đài BBC, đài VOA, đài Úc, thu băng rồi sáng hôm sau, lên phòng làm việc, tôi vừa nghe lại, vừa đánh máy. Công việc chỉ một mình tôi làm, cũng vất vả. May mắn, có một người quen rời đảo, đi định cư, cho tôi một cái radio cassette hiệu Sony, còn mới, nên tôi có phương tiện làm tin. Khi rời trại tỵ nạn, tôi tặng cái radio cassette nầy cho bác sĩ Vũ Ngọc Khuê. Vả lại, tôi có thói quen nghe radio từ mấy chục năm nay, ngoại trừ hơn 7 năm trong trại tù Việt Cộng, nên tuy vất vả mà cũng thích thú.

Làm công việc phát thanh, tôi khám phá ra một điều mới lạ và thích thú khác nữa. Lúc bấy giờ đang có tranh giải bóng tròn Euro. Làm bản tin, tôi cũng ghi lại các cuộc tranh giải ngày hôm trước, các đội gặp nhau, đội nào thắng, đội nào bại, thua bao nhiêu bàn, ai đá hay nhất, ai làm bàn nhiều nhứt, ai vua phá lưới… Cứ Xuân Hồng, Vĩnh Phúc, Đỗ Văn nói như thế nào, tôi ghi lại y chang như vậy.

Sau khi phát thanh, có lẽ vì những lý do nào đó, người ta nghe không kịp, nhứt là đám thanh niên. Họ tranh cãi nhau và kéo nhau lên phòng PTCĐ hỏi lại cho rõ. Tôi bèn xin ông Cố vấn Hùng kéo ra ngoài hành lang của phòng một tấm bảng đen có chân đứng, rồi dán bản tin trong ngày lên đó, để ai muốn xem thì cứ đến đó đọc lại. Vậy nên, cứ mỗi sáng sớm, đám thanh niên chen nhau đọc bản tin thể thao tranh giải; họ cãi nhau, khen chê, rất vui… Tất cả anh em chúng tôi vui lây cảnh đó. Để họ khỏi chờ đợi, tôi phải đi làm sớm, làm bản tin sớm, dán bản tin lên bảng sớm để “khán giả bóng đá hàm thụ” khỏi chờ đợi. Giờ phát thanh thường trễ hơn, 11 giờ trưa.

Sự kiện nầy cũng chứng minh lòng ham chuộng môn bóng đá của người Việt Nam.

Việc phát thanh cũng gây đụng chạm. Một hôm tôi nhận một bài, phê phán một cách gay gắt một số người, nhờ có thân nhân ở hải ngoại gởi tiền về nhiều, sinh ra ăn chơi, nay cặp cô nầy, mai cặp cô khác. Một số người chế độ cũ, thay vì làm gương, phải chứng tỏ rằng mình là người đi tìm tự do, chống Cộng sản thì cũng lại sinh tật. Câu cuối trong bài viết đại ý là “Chúng ta không phải là những người đi tìm lại “thời hoàng kim”. Tôi để ý câu nầy lắm và trước khi cho phát thanh, tôi có trình bày với ông Cô vấn Trương Mạnh Hùng rằng câu nầy sẽ có người phản ứng đây. Có thể ai đó cho rằng mình nói xấu họ, nhưng đây là thực tế của trại.

Việc “sinh tật” nầy đáng phê phán lắm. Ông Cố vấn Hùng bảo cứ phát đi, đừng ngại. Hễ ai có phản ứng, ông ấy sẽ giải thích với họ. Cô Mỹ Duyên, người phụ trách phát thanh cũng đồng ý như thế. Quả nhiên, phát thanh lúc 11 giờ trưa, chưa đầy nửa giờ đồng hồ sau, ông Cựu Đại tá Nguyễn Thiều, gặp ông Cố vấn Hùng yêu cầu bỏ câu ấy. Ông Cố vấn Hùng không đồng ý, khi về phòng nói lại với chúng tôi. Ai nghe cũng cười.

Cô Mỹ Duyên nói: “Sợ thì đừng làm.” Không rõ cô ta nói ai? Dĩ nhiên khi chúng tôi đã cho phát thanh là không sợ mấy ổng. Còn mấy ổng sợ bị người ta phê phán thì mấy ổng đừng sinh tật. Vậy có phải là hay không???!!!

Đang ngồi làm việc, nghe chuyện “phản ứng” Cố vấn Hùng nói lại với mọi người ở trong phòng, tôi bỗng nhớ một câu trong Lục Vân Tiên, bèn đọc to cho mọi người nghe:

                        “Ở đây nào phải trường thi,

                  Ra đề, hạn vận, một khi buộc ràng.

Bửu Tộ, vốn hay đùa, nói to lên:

“Tới đảo rồi ông ơi! Tới đảo rồi, đâu còn Việt Cộng nữa!”

Thấy vui, các anh em khác cũng nhao nhao lên: “Tới đảo rồi! Tới đảo rồi.” Đó là câu reo vui của người vượt biển khi tàu vượt biên tới được đảo tỵ nạn.

Khi mới tới đảo, tôi có đi xem một buổi triển lãm do phòng Phát Triển Cộng Đồng tổ chức. Bây giờ, tôi đề nghị với Cố vấn Hùng tổ chức thêm một lần nữa. Phương tiện như giấy, bút, màu, v.v… do phòng PTCD cung cấp cho ai muốn tham gia. Phần đông là những tranh vẽ, hoặc hàng thủ công như những chiếc ghe vượt biên bằng gỗ mỏng, v.v… Phòng Dịch Vụ của Nguyễn Dương Hảo và chính anh ấy đảm trách việc triển lãm nầy. Hôm khai trương, tôi thấy nhiều hàng thủ công làm rất kheo tay. Nhiều người tỏ ý muốn mua để khi đi định cư mang theo làm kỷ niệm. Cũng từ đó, nhiều người phát triển việc làm thuyền gỗ thủ công tại chỗ ở để bán cho người đi định cư.

Về tranh vẽ, bức tranh đoạt giải nhứt rất có ý nghĩa. Bối cảnh bức tranh là nửa nước: màu xanh đậm; nửa trời: màu xanh nhạt, không có núi non hay bờ bến gì cả, mênh mông giữa biển trời. Ở giữa là hình ba bàn tay màu trắng hồng có ba vị thế khác nhau: Bàn tay thứ nhứt, buông các ngón ra, coi như chịu thua số phận; bàn tay thứ hai là nắm đấm; bàn tay thứ ba là hai ngón tay hình chữ V: Thắng lợi. Buông xuôi thì chết, đấu tranh sẽ thắng lợi. Đó là số phận người tỵ nạn trước “rào” cản thanh lọc

hoànglonghải

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: