Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Bèo giạt (4) – Phòng Phát Triển Cộng Đồng (PTCĐ)

           1 Khi tôi nhận việc ở phòng Phát Triển Cộng Đồng thì một vài anh em trước kia làm việc cho phòng SB nay cũng đã qua làm việc cho phòng PTCĐ rồi, như kỹ sư Nguyễn Dương Hảo, anh Hồ Đắc Liệu, nguyên Trung úy phòng 2 Sư Đoàn 1/ BB. Những người mới vô làm thì có Bửu Tộ, kỹ sư canh nông. Ông Nguỵ Vũ, ông Lê Vĩnh Tường, hai người nầy phụ trách ban Văn Nghệ. Người cũ thì tôi không biết ai không, ngoại trừ cô Nguyễn Thị Mỹ Duyên. Ông Vĩnh Việt Phước, không làm gì ở đây nhưng là người đứng sau lưng Cố vấn Trương Mạnh Hùng, ưa giựt giây ông nầy.

            Ngay sáng hôm tôi nhận việc, ông Cố vấn Trương Mạnh Hùng kêu mọi người lại họp ngay tại bàn tôi làm việc. Họp ở đây rất tiện. Đó là một cái bàn dài bằng gỗ ép, hai cái băng dài đặt hai bên. Tôi ngồi trong góc, sát cửa sổ.

            Nội dung buổi họp là bàn về việc phát thanh, làm tờ đặc san, v.v…

            Truớc hết, tôi nói chuyện làm tờ đặc san.

            Khi tôi mới tới đảo ít lâu, nghe trên loa gọi chung, ai có nhiệt tình hay khả năng gì đó, đến văn phòng trại tham dự buổi họp để bàn việc làm một tờ đặc san cho trại.

            Tại buổi họp đó, trước hết, người ta bàn về việc đặt tên cho đặc san. Ông Cựu Đại tá Nguyễn Thiều thì đề nghị một cái tên nghe rất kêu: “Khát Vọng Tự Do.” Một người ngồi bên tôi, không nhớ là ai, nói đùa: “Mấy hôm ở trên ghe, không có nước uống, khát thiệt! Nay tới đảo rồi, mỗi ngày Mã Lai phát cho mỗi người môt xô nước ngọt, khát gì nữa.”

Có người đề nghị đặt tên là “Vượt Sóng”. Và người ta còn đề nghị nhiều tên nữa, tôi không nhớ hết.

            Về nội dung, tờ báo nói cái gì, không nghe bàn kỹ, chỉ nghe kêu gọi ai có bài nào xin gởi tới, sẽ có ban tuyển chọn để cho đăng vô đặc san. Tôi không có ý kiến chi cả, họp cho biết và cũng không nghĩ rằng tôi sẽ gởi bài.

            Từng viết bài viết bung hồi còn đi học, tôi thấy việc làm báo làm bung thường “phe đảng”, chọn bài phe ta, và hay “mặc áo thụng vái nhau.” Thứ hai nữa, không tìm được những người có khả năng để mời cộng tác, thì tờ đặc san sẽ rất “tào lao”, nội dung chẳng nói lên được chi cả.

            Tuy nhiên, trong số những người đến họp, tôi để ý một ông già, – cũng chưa già lắm, nhưng vì gầy nên trông già vậy thôi -, nói năng mạch lạc, rõ ràng, giọng Quảng Nam. Tôi nghĩ thầm: “Mấy ông ngũ phụng tề phi, Quảng Nam hay cãi (2), nhưng có khả năng lắm đây.” Ấy là kinh nghiệm hồi còn đi học với mấy anh “trong Quảng ra thi” (3).

Hồi ấy Quảng Nam chưa có đệ nhị cấp, mấy tay Quảng Nam phải ra học chung với dân Huế và Quảng Trị ở Khải Định, sau vài năm đổi tên trường Quốc Học Ngô Đình Diệm; và hồi cộng tác với tờ “Mùa Lúa Mới”.

Các ông Võ Thu Tịnh, Đỗ Tấn, Vũ Hân, Kỳ Quang là dân Nam Ngãi Bình Phú hết. Sau khi ông Võ Thu Tịnh vào Nam, tờ báo giao lại cho giáo sư Lê Hữu Mục, đổi tên là Rạng Đông, mấy ông Nam Ngãi Bình Phú không cộng tác nữa, tờ Rạng Đông như đứa bé thiếu dinh dưỡng, không mấy hồi thì “tiêu diêu.”

            Kiểu nầy thì Khát Vọng Tự Do hay Vượt Sóng, chưa sinh đã tử, mặc dù ông Cố vấn Trương Mạnh Hùng hứa hẹn giúp đỡ việc in ấn.

            Về tờ báo, tôi phát biểu:

            “Về in ấn, có tiền thì đưa qua đất liền in, không thì quay roneo cũng được. Việc ấn loát hay đấy nhưng không quan trọng lắm. Trước hết là mục đích của tờ báo và người tham gia viết bài.

Làm báo để làm chi? Làm cho đồng bào có cái đọc. Họ muốn đọc gì? Trước hết là tin tức sinh hoạt trên đảo; thứ đến là việc định cư; thứ ba, điều bây giờ ai cũng lo lắng là phải thanh lọc. Thanh lọc như thế nào chưa ai biết! Vậy tờ báo phải đáp ứng những cái đó.

Ấy cũng là kinh nghiệm hồi tôi nhận lại tờ “Kỵ Binh”, viết cho lính Thiết Giáp đọc, từ tay ông bạn học cũ giao cho: Đại úy Lương Thúc Trình, khi ông nầy biệt phái về bộ Giáo Dục.

            Thứ hai là giáo dục. Không phải dậy chữ nghĩa hay tiếng Anh, tiếng Pháp. Điều ấy có khối Giáo Dục của Cao ủy lo. Giáo dục chúng tôi nói ở đây là vệ sinh, trật tự… Phải phối hợp với Khối Vệ Sinh, cổ động, tuyên truyền cho công việc của họ. Longhouse nào cũng phải sạch sẽ, tránh bệnh, tránh dịch. Phát động một phong trào diệt chuột, chuột nhiều quá, đông gấp ba gấp bốn số người tỵ nạn, kinh quá. Phối hợp với khối An Ninh trong việc giữ gìn an ninh trật tự, gìn giữ văn hóa phong tục của người Việt Nam. Mấy bà mấy cô ở đảo, không ít người hiểu lầm “giải phóng người phụ nữ” và “tự do”, “tự do” và “lang chạ”, nên việc phá thai xảy ra thường ngày, bừa bãi, vô luật pháp, không hợp y tế vệ sinh… Cuối cùng mới là văn nghệ văn gừng, đọc giải trí, sinh hoạt văn chương, văn nghệ, v.v…  Liệu chừng đó việc có làm được không với chừng nầy người, hay phải tìm thêm người có khả năng viết lách. Tôi nói khả năng viết lách, không hy vọng có nhiều nhà văn nhà thơ. Nếu có thì cũng chỉ vài ba người, không có nhiều đâu.

            Sau khi bàn bạc, mọi người đồng ý với cái tên tôi đề nghị, lấy tên tờ báo là “Sinh hoạt Cộng Đồng”  (SHCĐ) vì mục đích tờ báo là nói tới các “Sinh hoạt” của “Cộng đồng”. Đặt những cái tên nghe thật gồ ghề mà nội dung không có gì, sợ người ta cười cho. Thứ hai là tìm người cộng tác, chừng nầy người không làm nỗi.

            Tìm người?

Tôi qua văn phòng trại tìm “ông già” tôi để ý hôm trước, mới biết đó là ông Hoàng Vũ. Tôi mời ông Hoàng Vũ lên phòng PTCĐ, nói rõ mục đích việc ra tờ báo. Ông Hoàng Vũ lôi thêm một người đi theo, còn trẻ, là ông Nguyễn Mạnh Dạn, tức nhà văn Nguyễn Mạnh An Dân.

            Tôi trình bày với hai người nầy việc làm tờ “Sinh hoạt Cộng Đồng” và việc phải “tấn công” vào cách sinh hoạt của một số đông đồng bào trên đảo, từ vệ sinh, quan hệ trai gái, thậm chí không ít cô chịu “làm tiền” với đàn ông trên đảo, với nhân viên Mã Lai, v.v… Ông Nguyễn Mạnh Dạn hứa sẽ viết một bài.

            Tôi nói:

            – “Những bài về mục đích nầy, anh em mình sẽ phát thanh trước, trong buổi phát thanh hằng ngày, cho nóng, thời gian tính. Đăng báo sợ chậm vì còn phải in ấn lôi thôi.”

            Chiều hôm đó, ông Nguyễn Mạnh Dạn đưa một bài, nhan đề là “Tự Ái Dân tộc”. Bài viết không những hay mà sát với thực tế nên hôm sau phát trong chương phát thanh. Tôi đề nghị với cô Mỹ Duyên, người phụ trách chương trình đọc, là nên đọc đi đọc lại nhiều lần, người ta mới “thấm”. Bài ấy đăng ngay trong tờ “SHCĐ số 1, cùng với một bài thơ hay của Hoàng Vũ: “Chùm Thơ treo đỉnh gió” Bài thơ không chỉ có 4 câu, hay lắm. Tiếc rằng, tôi đã để lạc tờ SHCĐ nầy đâu đó, tìm mãi không được. Bốn câu sau đây là hay nhứt, nói lên tâm trạng người tỵ nạn trước ngưỡng cửa thanh lọc thuyền nhân:

                        Chín tầng lồng lộng cao xanh ấy,

                        “Chúa, Phật ngài đang ngự nơi nào

                        Muốn mượn chùm thơ treo đỉnh gió

                        Gọi tình người bốn biển năm châu.”

            Hoàng Vũ làm bài thơ nầy lúc tình trạng đồng bào tỵ nạn đang lơ lững, chưa biết tương lai sẽ ra sao! Ở hải ngại, người ta đang vận động để bỏ thanh lọc, ai tới được đảo rồi sẽ cho đi định cư. Tuy nhiên, xem ra tình hình cũng khá tuyệt vọng.

            Bidong là một hòn núi nổi lên giữa biển. Khu định cư ở phía đông đảo, ít gió. Nhưng khi ai trèo lên tới đỉnh núi thì gió bên phía Tây thổi tới lồng lộng nên người ta gọi là “Đỉnh gió.” Không rõ ai đặt ra cái tên nầy. Chữ đỉnh gió trong bài thơ trên là nói tới cái đỉnh núi ấy. Nó khác với “Đỉnh Gió Hú” hay còn gọi là “”Đồi Gió Hú” củ Emily Bronté.

            Ông Hoàng Vũ chỉ làm thơ, không viết văn. Ông Nguyễn Mạnh Dạn thì viết văn, không biết có làm thơ hay không. Có lẽ ở Bidong, ông chưa từng cho đăng bài thơ nào lên tờ SHCĐ. Thấy cần thêm người tham gia, ông Hoàng Vũ, ông Nguyễn Mạnh Dạn cũng như vài anh em khác tìm tòi ai có khả năng thì mời tham gia viết báo. Sau đó, cũng có thêm một ít vị nữa, trong đó có hai người cháu của ông Hoàng Vũ, cũng thuộc quê hương “hay cãi” (2). Tuy nhiên, người làm thơ thì nhiều mà người viết văn thì ít nên việc ra một tờ báo hàng tháng, dày không bao nhiêu trang, cũng khá vất vả cho tôi.

            Tôi liên lạc được với ông Phạm Đình Chiến, tu xuất, cử nhân Anh Văn, một người rất năng nổ trong công việc thiện nguyện, hợp tác với tờ báo, nhưng anh ấy chỉ tham gia những gì cần có Anh ngữ mà thôi.

            Một hôm, đoàn Thanh Niên Thiện Chí của cô Mỹ Duyên làm công tác dọn vệ sinh ở con suối từ trên núi chảy xuống, ngang giữa khu B và khu D. Con suối nầy dơ lắm vì người Việt có thói quen rất “truyền thống”, hễ cái gì dư thừa, không muốn giữ trong nhà mình nữa thì quẳng ra đường, nơi công cộng, sân bóng, công viên và con suối như ở Bidong.

            Tôi nói với Cựu Trung úy Hồ Đắc Liệu:

            – “Ông xuống coi người ta làm như thế nào rồi viết một bài phóng sự đi. Tụi mình cần mà!”

            Liệu nói:

            – “Tui mà viết cái gì. Xưa tới giờ, tui có viết khi nào đâu!”

            – “Ông cứ viết như hồi mình còn đi học viết văn tả cảnh vậy. Thấy chi viết nấy! Khó gì đâu!”

            – “Lỡ mình viết tối nghĩa, viết sai chữ, dùng “danh từ Việt Cộng” để người ta chưởi cho.”

            Tôi khuyến khích:

            – “Cứ viết đi, tui sẽ xem lại, cần thì tui sửa giúp ông. Mình cứ ngại ngùng thành thấy khó.”

            Nghe tôi xúi, Liệu cầm cuốn sổ tay đi. Trưa, ông ta về, ngồi bên cạnh tôi, lúi húi viết. Tôi giả bộ làm lơ, tránh không nhìn, sợ ông ta mắc cở.

            Chiều ông Liệu cho tôi xem bài viết. Xem xong, tôi cười:

            – “Thấy chưa! Học trò Huế viết văn hay lắm! Viết vậy chớ còn gì. Tui chỉ sửa vài chỗ, ông sợ “danh từ Việt Cộng” thôi.

            Quả thật bài phóng sự ông ta viết hay lắm. Đọc ở trong phòng, ai cũng khen hay. Sau đó, đem phát thanh và đăng báo SHCĐ.

            Sau đó thì ông Liệu hăng hái lắm. Hễ đâu có những sinh hoạt gì, như “Phong trào diệt chuột”, các buổi họp của trại, của Cao ủy Tỵ nạn giải thích về thanh lọc, v.v… ông Liệu tham dự về viết lại đầy đủ, chi tiết. Đồng bào ai đi họp về quên mất hay muốn tìm hiểu trở lại thì tìm trong báo SHCD mà đọc. Việc ấy khiến tôi phải xin Cố vấn Trương Mạnh Hùng gia tăng số lượng in, từ 150 lên 300 cho đồng bào khỏi mất công chạy quanh tìm báo hay lên xin ở phòng SHCĐ.

            Sau đó, có lần kỹ sư Nguyễn Dương Hảo nói với tôi:

            – “Thằng Liệu (Liệu với Hảo là bạn thân, Liệu bỏ phòng SB về phòng PTCĐ là nghe lời Hảo) nó nói làm việc với anh học được nhiều cái hay lắm. Anh chịu khó và tận tình với công việc, với anh em.”

            Tôi nói:

            – “Bây giờ là lúc mình có thể làm việc cho người khác, cho đồng bào mà mình khỏe re. Ở Việt Nam hay mai mốt đi định cư, lo làm lo ăn, không còn thì giờ đâu! Ở đây cơm ngày ba bữa có Cao ủy lo, áo quần cần bao nhiêu có bấy nhiêu, có lo gì đâu!”

            Sau đó, trong một buổi họp đông ngưòi, tôi nói lại ý kiến ấy để khuyến khích anh em tham gia những việc thiện nguyện. Quả thật, nhận xét tôi không sai. Sau nầy, khi đồng bào phải thanh lọc, nhiều người hướng dẫn giúp đồng bào, hoặc khi đồng bào hỏng thanh lọc, phải làm “request” (bằng tiếng Anh) nhiều người tôi quen như anh Phạm Đình Chiến, kỹ sư Bửu Tộ, Trương Như Thanh Tùng… (gọi tôi bằng chú) làm giúp cho đồng bào; đọc, dịch các bài request liền tù tì ngày nầy qua ngày khác, chẳng nhận của ai một đồng bạc hoặc ly cà phê mà cũng chẳng than van bao giờ.

            Do công việc, chỗ tôi ngồi thành nơi của nhiều anh em đến phòng PTCĐ ngồi nói chuyện chơi. Tôi cũng là người ưa thích bạn bè, chuyện trò nên tôi rất vui khi có ai tới chơi. Có bận lắm thì tôi vừa làm việc vừa nói chuyện.

Sau khi tờ SHCĐ ra số 1, anh em đến chơi nhiều hơn. Chúng tôi cũng có nhiều chuyện để nói, để bàn.

Một hôm, anh Lê Vĩnh Tường, phụ trách phần cải lương của ban Văn Nghệ. Ban văn nghệ do hai người phụ trách: Ông Ngụy Vũ phụ rách bên tân nhạc. Anh Vĩnh Tường tính tình chất phát, thật thà, tuy đôi khi cũng có “nổ”.

Tôi từng làm trong nghề tình báo, đôi khi cũng xem tướng người để dùng người hay quan hệ công việc. Không hiểu vì sao, tôi có cảm tình với anh Lê Vĩnh Tường hơn với ông Ngụy Vũ. Do đó, đã có lần, trong một buổi họp, ông Ngụy Vũ phê bình tôi gay gắt vì tôi không giúp đỡ gì cho băn Văn nghệ của ông cả. Một lần ông Cố vấn Trương Mạnh Hùng chê ca sĩ của của ông Ngụy Vũ hát nhạc ngoại quốc sai be bét. Tôi nói: “Họ mới học tiếng Anh, hát sai là đương nhiên. Ông cố vấn nên mời họ lên, tập cho họ hát cho đúng tiếng Anh.”

Tuy nhiên, việc tôi đề nghị vẫn không xảy ra.

Một hôm, Lê Vĩnh Tường lên chơi, ngồi đối diện với tôi, bỗng nói:

– “Tiếng Việt mình không hay như tiếng Anh.”

            Tôi cười:

            – “Ông là nghệ sĩ cải lương, lại có viết tuồng. Ông nói vậy là chết rồi! Tiếng Việt tinh tế lắm.”

            Tường nói:

            – “Cháu viết tiếng Việt, nhiều khi thấy nó dễ dàng, không như tiếng Anh.”

            Tôi giải thích:

            – “Viết thoại kịch nhiều khi dễ mới đúng hơn. Người ta viết những tiếng thông thường. Trong cải lương, nhiều khi người ta viết theo cách xưa, dùng nhiều danh từ Hán – Việt mới khó hơn chứ! Tại sao ông lại nói vậy. Tiếng Việt tinh tế lắm.”

            – “Tinh tế là sao?” Tường hỏi.

            Tô lại giải thích:

            – “Tôi ví dụ. Tiếng Anh black là đen. Con ngựa đen gọi là gì?”

            – “Black horse.” Tường trả lời.

            – “Mèo đen gọi là gì?” Tôi hỏi tiếp.

            – “Black cat!” Tường nói.

            – “Ông dịch chữ black horse ra tiếng Việt là gì?” Tôi hỏi.

            – “Con ngựa đen.” Tường trả lời.

            Tôi nói:

            – “Ông dịch trật lất! Vậy black cat là gì?”

            – “Con mèo đen.”

            Tôi cười to:

            – “Lại trật nữa.”

            Lúc ấy có nhiều người đến chơi ngồi quanh, thấy tôi hỏi đố Tường, ai cũng cười. Bửu Tộ, ngồi sát tôi, nói nhỏ với tôi:

            – “Anh để tôi dợt thằng cha nầy một trận cho nó trắng mắt ra.”

Xong, Tộ hỏi Tường:

            – “Con gà đen, tiếng Việt gọi là gì?”

            Lúng túng môt lúc, Tường nói:

– “Thì con gà đen chớ gì?”

Tộ cười:

– “Gà quạ ông ơi!”

Tôi nói một hơi:

– “Mèo mun, đũa mun, gà quạ, ngựa ô, chó mực. Thằng

Mỹ nào học tiếng Việt, nội một chữ đen nầy cũng đủ điên đầu.”

            Hảo hỏi Tường:

            – “Ông có rành danh từ Hán Việt không? Trong Nam người ta học Việt Văn ẩu tả lắm. Chữ Hán, một gạch thì gọi là gì?”

            – “Một gạch là nhứt.” Tường nói ngay.

            – “Hai gạch là gì?” Hảo hỏi tiếp.

            – “Là nhị.” Tường cười.

            – “Ba gạch là gì?” Hảo cười hỏi.

            – “Ba gạch là tam.” Tường trả lời ngay.

            – “Gạch gạch một đống là gì?” Hảo hỏi.

            Tường cười ha hả:

            – “Gạch gạch một đống là đống gạch.”

            Ai cũng cười. Tôi nói:

            – “Mấy ông ăn cắp bài bản của Phi Thoàn. Cái nầy Phi Toàn diễn hài.”

            Rồi tôi nói:

            – “Tôi hỏi tất cả mấy ông. Con cò có lông cổ đỏ thì người ta gọi là gì?”

            – “Cò lửa.” Tộ trả lời, rồi cười nói tiếp: “Tui cử nhân canh nông mà anh.”

            – “Chưa xong đâu,” Tôi nói. “Vậy chớ con cóc, đầu mình chân da gì cũng cóc mà không gọi là con cóc thì con gì?”

            Tường cười:

– “Cũng Phi Thoàn nữa! Cóc con chớ gì!”

– “Ông thấy không. Tiếng Mỹ người hay vật gì đều gọi là

children. Mình thì khác. Con gà, gà con. Con tôm, tôm con. Có gọi là children đâu. Chỉ cần đổi vị trí trước ra sau, gọn bưng.” Tôi nói.

            Tộ cười:

– “Đâu phải lúc nào cũng vậy. Con bò con không gọi bò

con, gọi là con bê. Con trâu con gọi là con nghé. Mình cũng điên cái đầu, nói chi tới người ngoại quốc.”

– “Người ngoại quốc chớ không phải người nước ngoài.

Mấy ông viết bài, nhớ cẩn thận, đừng dùng danh từ Việt Cộng, người ta chưởi cho.” Tôi nói.

            -“Đề nghị anh Hải viết một bài về đề tài nầy, nhắc chừng mọi người. Không chừng mai mốt thay vì “Hải ngoại thương ca” người ta sửa thành “Nước ngoài thương ca” thì nguy quá.”

            Câu cuối của Hảo làm ai nấy cùng cười. Tôi cũng vậy và nghĩ bụng, chắc phải viết một bài về đề tài nầy.

Nhưng đó là chuyện “Xem hồi sau sẽ rõ.”

hoànglonghải

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: