Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Bèo giạt (3) – Hải tặc Thái Lan

1Tại sao tôi gọi “Hải Tặc Thái Lan”?

Dễ hiểu thôi bởi vì hầu như tất cả các vụ cướp biển, chận bắt tầu vượt biên, giết người, bắt đàn bà con gái, lục soát cướp đoạt tài sản người vượt biên, đánh đắm tầu, không cho ai sống còn để khai báo, v.v… là do ngư phủ Thái Lan cả. Ngư phủ Mãi Lai chỉ xàm xở với đàn bà con gái, cướp dầu, mì gói, lương thực, chứ không giết người, bắt người như ngư phủ Thái Lan.

Bọn ngư phủ nầy tung hoành trong vịnh Thái Lan, không ai làm gì chúng được, vì chúng có dù che!!!???

Để ngăn chận tệ nạn nầy, Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hợp Quốc, mỗi năm chi ra một triệu đô la cho chính phủ Thái Lan để chính phủ nầy có thêm phương tiện hoạt động, nhưng từ khi có thêm tiền thì tệ nạn hải tặc không bớt đi mà lại gia tăng! Ấy là tại sao? Xin đọc hồi sau sẽ rõ.

Cô cao ủy Daeng, như tôi giới thiệu trong phần trên, là người đặc trách về hải tặc của cao ủy tỵ nạn, là người rất có lương tâm, rất tận tâm, cũng phải sợ những cái dù của đám ngư phủ hải tặc Thái Lan.

Việc truy tìm hải tặc Thái Lan không thuộc sở trường của cao ủy Daeng, nên cô không tìm được nhiều những tên hải tặc do các nạn nhân, thoát chết, tới được đảo, khai báo với cô. Thường lời khai các nạn nhân thì có: nhân dạng (mặt mũi, mầu da, tóc tai, tuổi tác, v.v…).

Nhận dạng người và nhận dạng tầu.

Người thì nhỏ nhưng dễ nhận dạng vì khi chúng nhẩy qua tầu vượt biên, chúng không cần phải che dấu mặt, nghênh ngang cầm dao lớn hay mã tấu, đi tới đi lui trên ghe, lục soát, nạt nộ người nầy, đâm chém người kia, bắt con gái đàn bà mà không sợ ai cả. Còn ghe của chúng thì to lắm, gấp ba gấp bốn ghe vượt biên, nhưng người ta không rõ tầu gì. Bọn hải tặc lấy các tấm bạt nylon che mất số tầu. Người ta chỉ nhìn cách chúng nó trang trí ghe như thế nào, sơn mầu xanh mầu đỏ gì đó, vẽ hình những con vật gì đó để khai với cao ủy Daeng.

Khi  tôi tới đảo, anh Võ Thế Long, cựu đại úy Cảnh Sát, sau khi du học ở Mỹ về, hoạt động trong ngành Interpol của bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hòa, tới đảo trước tôi ít lâu, đã giúp việc cho cao ủy Daeng một thời gian.

Ông Long dùng những phương pháp chuyên môn trong ngành như phân tích nhân dạng, phân tích tầu, đối chiếu, v.v… và tìm ra được một số tầu, một số người để các cô gái nạn nhân nhận dạng người và tầu. Nhờ vậy, cô cao ủy Daeng dẫn các nạn nhân qua Bangkok để nhận mặt các tên hải tặc, một số bị tòa án Thái Lan xử tù.

Từ đó, bọn hải tặc Thái Lan không vào bờ. Khi tầu của chúng đánh cá xong, trở vào bờ, gần tới nơi, chúng nhảy qua những tầu ra khơi để đi tiếp. Cảnh sát Thái Lan có biết tên tuổi chúng, cũng không làm gì được.

Vả lại, chủ tầu đánh cá Thái Lan là “bọn” tướng tá quân đội và cảnh sát Thái Lan. Tôi dùng chữ “bọn” không phải sai đâu! Vì quyền lợi đánh cá, “bọn” tướng tá nầy bao che cho “bọn” hải tặc, ngăn chận và hăm dọa những người hoạt động trong công việc chống hải tặc, nên những người nầy sợ chúng, chẳng dám làm gì hơn.

Chính cao ủy Daeng, người Thái Lan, biết chuyện đó, cũng sợ chúng. Mỗi lần đi Bangkok, khi cao ủy Daeng tới biên giới Mã Lai – Thái Lan, cô phải cải dạng, ăn mặc như một người đàn bà Thái Lan bình thường, để khỏi bị chúng nhận ra và ám hại.

Kể từ khi Cảnh Sát Thái Lan bắt giữ và đưa một số ngư phủ hải tặc Thái Lan ra tòa, hành động của chúng càng tàn ác và hung tợn nhiều lắm. Thay vì cướp của, bắt đàn bà con gái, giết những ai chống lại chúng rồi thả cho ghe vượt biên đi. Bây giờ cướp ghe nào, sau khi lấy hết những gì chúng muốn, bắt những ai chúng muốn, giết những ai chúng muốn, còn lại, chúng đánh chìm ghe vượt biên, cho chết hết, ở ngoài biển khơi, để không còn ai sống sót mà khai báo với Cao Ủy Tị Nạn.

Tàu chúng thì to, mới và rất tốt, ghe vượt biên thì nhỏ, cũ, mong manh. Chúng chỉ cần cho tàu của chúng đâm thẳng vào ghe vượt biên, ghe vở toang ra, chìm xuống biển, chẳng ai sống sót.

Ghe của tôi mang số MC 483. Ghe trước tôi, không nhớ rõ, hình như MC 482 hay MC 481  khoảng 130 người vượt biên trên ghe, bị chết đuối trên biển hết trọi, sau khi bị ghe hải tặc Thái Lan đánh cướp, bắt đi mấy người con gái, đàn bà. Những người bị bắt nầy bị chúng đem về nhốt ở một hoang đảo nào đó, rồi trước sau cũng chết vì đói khát, vì bị chúng hảm hiếp liên miên, hoặc bị chúng giết, thả xuống biển, sau khi chúng đã chán chê.

Khi tôi đang ở đảo, báo Đường Sống, báo của di dân hải ngoại viết về thuyền nhân, có kể chuyện một cô gái, hình như con của một đại úy phi công chế độ cũ, bị hải tặc bắt, đem về giam ở một hòn đảo hoang, sau có một tên hải tặc đã già đem cô về đất liền Thái Lan để làm vợ. Cô gái ấy trốn được, lên tận Bangkok, tố cáo với Cao Ủy Tỵ Nạn. Mấy tên hải tặc bị bắt, bị tòa xử tù. Cô gái thoát nạn được định cư ở Mỹ, và tuyên bố cô ta sẽ xây dựng lại đời cô, sẽ thành một bác sĩ. Tôi ước mong cô ta sẽ toại nguyện. Con người can đảm như thế, khí phách như thế, sẽ đạt được ý nguyện của mình thôi!

Khi tôi còn làm việc ở phòng SB, một hôm, thấy có năm hoặc sáu người vượt biên mới tới, từ Văn Phòng Lực Lượng Đặc Nhiệm Mã Lai đưa sang. Nhìn họ, tôi nói với kỹ sư Nguyễn Dương Hảo, ngồi làm việc bên cạnh tôi:

– “Ông xem, mấy người nầy trông ghê quá!”

Da họ đen xạm, nhiều chỗ nứt nẻ, rướm máu.  Họ đi không vững, có người phải có người đỡ.

Ông Hảo ra đứng xem, hỏi chuyện với họ. Sau đó tôi được biết:

Tầu họ khoàng 120 người, bị hải tặc Thái Lan tấn công. Sau khi bắt đi mấy cô gái, chúng cho tầu của chúng đâm vào ghe vượt biên. Ghe vỡ, phần đông chết đuối cả. Mấy người nầy ôm những tấm ván vỡ, trôi lềnh bềnh trên biển hai đêm hai ngày, may nhờ tầu đánh cá Mã Lai vớt được, đưa vào Terrenganu. Hai ngày hai đêm trên biển, vừa đói vừa khát, vừa đuối sức nhưng cũng cố bám vào tấm ván nên sống sót. Trên thì nắng nhiệt đới, dưới là nước biển, da họ bị sưng lên, rồi vở ra, nứt nẻ nên trông khiếp như vậy. Tôi nhớ ghe của họ được đặt tên là MC 513.

Hôm sau, lại thêm ba người nữa được đưa tới, cũng tình trạng y như những người đến ngày hôm qua, đuối sức, da nứt nẻ, đi không vững. Hỏi ra, họ đi cùng ghe với những người ngày hôm qua, nhưng được vớt trễ hơn một ngày, có người vướng vào lưới đánh cá của ghe ngư phủ Mã Lai, được lưới kéo lên. Những người nầy được đặt tên là MC 514, tuy cùng ghe với những người trước.

Ngư dân hải tặc Thái Lan không phải là những tên gan dạ. Chẳng qua vì người vượt biên sợ hãi quá, nhát gan quá, lại không ai chỉ huy, thống nhứt để chống lại nên chúng mới lộng hành như thế.

Có một ghe vượt biên, phần đông là thanh niên Saigon, gan lắm. Khi ghe hải tặc Thái Lan đến gần, họ cùng đứng lên, gặp gì, thấy gì, họ cầm lên, cương quyết chống cự. Có người thì quăng nồi, quang thùng sang tầu hải tặc, có người lăm cầm cây sào chờ bọn hải tặc nhảy qua tầu họ là họ sẽ tấn công. Thấy “khí thế” như vậy, bọn hải tặc Thái Lan quay mũi tầu chạy mất.

Trường hợp Đại úy Nguyễn Văn Trọng khá buồn cười.

Trước 1975, Đại úy Trọng làm quản lý Câu Lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc của Bộ Tư Lệnh Không Quân VNCH trong phi trường Tân Sơn Nhứt. Do đó, ông biết mặt nhiều nhân vật nổi tiếng, nhứt là trong giới không quân. Sau 1975, tù cải tạo về, Việt Cộng không cho ông ở lại Saigon, nhà ông ở khu vực cuối đường Nguyễn Tri Phương, gần chợ cá Trần Quốc Toản. Chúng nó buộc ông đi kinh tế mới.

Khó khăn quá, ông bèn vượt biên. Biết ông là sĩ quan chế độ cũ, người chủ vượt biên giao cho ông nhiệm vụ xem bản đồ để định hướng cho ghe đến đúng Bidong, và giao thêm một cây súng Carbin M-1 (bắn từng phát một) để phòng, hễ bọn hải tặc tới thì phản ứng.

Ông Nguyễn Văn Trọng, người ốm nhom, đứng nhiều khi muốn té, cười cười kể (cho tôi nghe):

– “Tôi đứng ở phía sau cabin của tài công, chỉ đường cho ghe chạy. Một hôm, mới tảng sáng, tôi thấy ghe Thái Lan đuổi theo. Trời sáng, tụi nó thấy rõ ghe mình mới đuổi theo còn trong đêm, tôi biểu tài công tắt đèn mà chạy để bọn Thái Lan không thấy. (Ghe tôi đi, tài công là “Phong dưa hấu” cũng làm y như thế, tắt đèn chạy trong đêm để tránh hải tặc nhận ra ghe vượt biên). Tui bình tĩnh đứng sau cabin chờ ghe hải tặc tới. Tay tôi thủ cây súng Carbin, đạn đã lên nòng, khóa an toàn. Mấy ngày nay, ngày nào, tôi cũng chùi súng, rất kỹ. Tui chùi nòng cho thật sáng, xem lại cơ bẩm, kim chích hỏa. Tui chờ ghe Thái Lan tới cách khoảng năm chục thước, bèn đưa súng lên, mở khóa an toàn, nhắm cho đầu ruồi đúng vào chỗ tài công tụi nó. Xong, tui nổ một phát. Súng cũ quá, cơ bẩm văng ra khỏi súng, rơi xuống sàn đánh bụp một cái, rồi dội lên, văng tuốt xuống biển đánh ùm. Tôi lo lắm, than thầm: “Chết cha rồi!” Nhưng khi ngó lại, tui thấy ghe hải tặc bỏ chạy mất. Mừng rúm!”

Người Thái Lan theo đạo Phật, nhưng theo tôi thấy, họ không giống người Việt theo đạo Phật chút nào. Đạo Phật Việt Nam ở trong truyền thống dân tộc, ai chăm thì đi chùa thường, học kinh học kệ, nói ra thì đầy những kinh sách, Phật dạy thế nầy, thế kia. Ngoài ra, giới bình dân, người ta ít đi chùa hơn, mỗi năm vài ba lần trong những ngày vía, rồi thôi. Đạo Phât của họ là trong cách sống thường nhựt, ăn hiền ở lành, thương người nghèo khó, hoạn nạn, ăn mặn nhưng tránh sát sanh, v.v… nên người ta ít cuồng tín.

Người Thái Lan đi chùa rất thường, rất cung kính, cầu nguyện, xin xỏ, mong cầu, phù phép, và rất tin, phần đông cuồng tín. Họ tin Phật như vậy mà tại sao ác thế. Hay cứ làm ác rồi vào chùa cầu xin là xong. Họ cũng chẳng hiền hòa như người bình dân Việt Nam.

Với tôi thì “Tận tín thư bất như vô thư” cho nên chẳng bao giờ tôi có thể trở thành một tín đồ ngoan đạo, đạo nào cũng vậy. Nhưng tôi tin ở Bác ái Công giáo và Từ bi Hỷ xã Phật giáo. Những điều ấy thật là vĩ đại, là cần nhứt cho nhân loại mà thôi!

Trên đồi tôn giáo, tại sân trước nhà thờ, Cao Ủy Tỵ Nạn và chính quyền Mã lai đồng ý cho Văn Phòng trại và đại diện các tôn giáo xây một tượng đài kỹ niệm những người đã bỏ mình trên biển.

Kiến trúc khá hiện đại: Trên một bệ đá hình tròn là hình dạng một chiếc ghe vượt biên tơi tả với ba cánh buồm, cao thấp không bằng nhau, vươn cao lên. Tượng được xây theo lối vẽ cách điệu, nhìn dáng cách thì biết chứ không rõ đường nét như tranh thường.

            Bên cạnh đài tưởng niệm là một bức tường đá. Những tầư đến từ mấy năm trước, người ta muốn để lại một kỹ niệm nên khắc tên tàu mình lên một tấm bảng gỗ hay ximăng, hay bằng đồng rồi đặt lên đó, cái cao cái thấp bên cạnh nhau. Kể hàng trăm tấm bảng như thế! Tôi cố tìm tấm bảng kỹ niệm của ghe con gái thứ ba (kể theo trong Nam) của tôi đến đây 5 năm trước. Tôi vui mừng khi thấy nó: MB 475.

            Buổi chiều, leo lên ngồi trên bệ đá nhìn ra khơi: Phía bên nầy biển khơi mù mịt, phía bên kia là rặng núi cao, là xương sống của bán đảo Mã Lai, làm tôi nhớ tới rặng Trường Sơn ở quê nhà.

Khi mặt trời chiều đỏ ối như một khối lửa nghiêng xuống, đụng vào đỉnh núi tóe ra muôn vàn tia mặt trời đỏ như hình nan quạt, rồi chìm khuất sau những đỉnh núi hình răng cưa, làm tôi nhớ nhà da diết.

Người xưa ra đi khi còn trẻ, già trở về cố hương, ấy là “Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi”. Tôi nay đã “lão đại hồi” mới “ly gia”, rồi mai đây học nói tiếng Anh, tiếng Mỹ, làm sao mà còn “hương âm vô cải” và chắc chắn không hát được câu “Tung cánh chim tìm về tổ ấm.” Mà về làm gì, nơi đầy đọa ấy, nơi quê hương là “Chùm khế chua.” Tôi chợt nhớ ngày xưa, khi báo chí phỏng vấn tướng Nguyễn Văn Hinh, hỏi ông nghĩ gì về Việt Nam và Pháp, ông ta trả lời: “Việt Nam là nơi xua đuổi tôi, Pháp là nơi cho tôi hạnh phúc.” Vậy muốn sống, người ta phải tìm nơi hạnh phúc là lẽ đương nhiên, sao tôi vội trách ông là người mất gốc. Nay nghĩ lại câu nói của ông, tôi thấy hối hận. Ở đời đừng vội chê ai!

            Ở Bidong, có thêm một đài kỹ niệm nữa là tượng “Ông Già Bidong” Sự tích ông già Bidong là một huyền thoại, được thêm bớt tùy theo người kể. Tuy nhiên, Ông Già Bidong là người tỵ nạn tiên khởi, tới Bidong trước nhất, so với đám hậu duệ là những người như chúng tôi.

Ông là tài công chiếc tầu sắt đến đây từ lâu lắm, trước khi có các đợt vượt biên, người Việt bỏ nước ra đi. Ông ta đến đây với mấy chục thuyền nhân trên tàu của ông. Lúc đó Bidong hoàn toàn là đảo hoang, không có người ở. Thỉnh thoảng ngư dân Mã lai dừng lại đây ít hôm, tránh gió hoặc chờ qua cơn bão lại để tiếp tục ra khơi bỏ lưới. Chính quyền Mã Lai hoàn toàn vắng mặt nơi đây, và ngay cả Liên Hợp Quốc cũng chưa có chương trình cứu trợ những người Việt Nam chạy trốn Cộng Sản, để làm thuyền nhân, và ngay cả hai tiếng “boat people” mà người ta dịch là “thuyền nhân” cũng chưa có tên trong tự điển.

            Thế mà Ông già Bidong đến đó. Thuyền ông nằm trên bãi cát. Thuyền thì hết xăng dầu, người cũng hết lương thực, đói lã. Có người đi hái những trái dừa trên đảo hoang để kiếm nước uống và ăn cơm dừa. Nhưng đâu có phải ai cũng làm được như vậy. Một buổi chiều, Ông Già Bidong ra ngồi dưới gốc dừa ngó mông ra biển. Đứa cháu gái đã chết trên tay ông. Và ông già, – có người thêm thắt cho ly kỳ, ngộ nghĩnh, – bị một quả dừa khô rơi trúng đầu, và ông cũng trút hơi thở cuối cùng nơi gốc dừa đó, với đứa cháu gái còn trên tay ông.

            Câu chuyện Ông Già Bidong có thật đấy, bởi vì, khi thấy chiếc tầu sắt đã rữa mục nằm trên bãi cát khu A, là chiếc tầu do Ông già Bidong lái tới đây, như một lời chứng cho huyền thoại về ông già đáng thương đó. Tuy nhiên, vì hồi đó, những người cùng đi với ông, đâu biết ai còn ai mất, sau khi một số người được chính quyền Mã Lai cứu giúp, rồi Bidong trở thành đảo tỵ nạn, có khi đông nhất lên tới bốn chục ngàn người, thì câu chuyện Ông Già lái tầu tới biển được thêm vào trong kho tàng văn chương chuyện kể Việt Nam.

            Có thực hay không – nhưng ít ra cũng có một ông già lái tầu như thế – đã đến đây và chết ở đây, trở thành một câu chuyện linh thiêng, có người khấn vái ông để được đi định cư, và thuyền nhân lần lượt được định cư thật, thì câu chuyện thêm phần huyền bí linh thiêng.

            Độc giả nhớ cho rằng, những thuyền nhân tiên khởi ấy, khi họ bỏ nước ra đi, chưa có chương trình tỵ nạn của Liên Hợp Quốc, chưa có chương trình giúp dân tỵ nạn của chính quyền các nước Đông Nam Á thì nỗi lo sợ của các bậc tiên khởi của chúng ta lớn biết bao nhiêu! Chưa có lời hứa hẹn của chính phủ các nước cho định cư, chưa có các trại giúp người tỵ nạn, số phận các bậc tiên phong đó, bồng bềnh như cánh bèo trên sông, biết đi đâu và dừng lại nơi đâu?! Thành ra, nỗi bơ vơ lạc lõng của họ hồi ấy thật là vô bờ bến, không như nhưng kẻ đi sau, biết chính phủ Mỹ, chính phủ Úc và các nước Châu Âu mở vòng tay đón đợi, yên tâm hơn nhiều.

            Thế rồi vì nhớ ơn Ông Già linh thiêng ấy, người tỵ nạn họp với nhau lại bàn bạc, có văn phòng trại hưởng ứng, giúp đỡ, tượng Ông Già Bidong được dựng lên: Một ông già râu tóc dài, đứa cháu gái chết nằm trên tay, đặt gần bờ biển, phía chân đồi tôn giáo. Mỗi ngày, nơi tượng Ông Già Bidong khói hương nghi ngút vì người ta tiếp nối nhau cầu nguyện ông phù hộ cho mau định cư, hoặc định cư nơi muốn chọn, hoặc cầu nguyện cho gia đình ly tán mau sum họp, hay cầu nguyện anh nầy chị kia được kết duyên Tấn Tần, v.v…

Càng về sau nầy, khi có chương trình “Thanh lọc người tỵ nạn”, sợ bị “hỏng thanh lọc”, sợ bị “cưỡng bức hồi hương”, tượng Ông Già Bidong càng thêm nghi ngút khói, cho đến một ngày thuyền nhân đi hết, trại Bidong giải tán, trở lại thành đảo hoang. Và Ông Già Bidong vẫn còn ngồi lại đó, đứa cháu gái chết rồi vẫn còn nằm vắt trên tay ông. Mắt ông nhìn ra biển khơi.

Ông Già Bidong kính mến!

Có lẽ ông nhớ về cố quận, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi ông bỏ đi khi tuổi đã già, bơ vơ nơi đất khách, bỏ mình nơi đảo hoang, một thời được gọi là “Đảo Rắn.” Đảo Rắn là tiếng dịch từ hai chữ Bidong trong ngôn ngữ người Mã Lai.

            Dù gì thì người tỵ nạn vẫn cám ơn người dân và chính quyền Mã Lai đã đón tiếp thuyền nhân, cho một nơi tạm trú, trong khi chờ định cư ở quốc gia thứ ba.

            Dù gì thì cũng phải cám ơn dân chúng Mã Lai, mặc dù, về sau, khi có chương trình cưỡng bức hồi hương, chính quyền Mã Lai, muốn người tỵ nạn về nước cho mau, đã không nương tay khi lôi kéo, xô đẩy, đánh đập những người kém may mắn, buộc phải hồi hương theo chương trình của Liên Hợp Quốc.

            Tấm lòng nhân ái, phát xuất từ lòng nhân đạo của người Mã hay từ đạo Hồi là tôn giáo của số đông người Mã. Tuy nhiên, nói ra là thấy đau lòng. Tại sao chính quyền Mã Lai lại cho đập phá bia kỹ niệm của người Việt dựng lên ở Bidong sau khi người tỵ nạn đã đi hết và Bidong lại trở thành một đảo hoang.

            Bia kỹ niệm thuyền nhân của người Việt dựng lên ở Bidong có hai ý nghĩa. Họ ghi nhớ những thuyền nhân đã đến đây, đã đi định cư hoặc bỏ mình trên đảo.

Bên cạnh đó, ý nghĩa thứ hai của bi kỹ niệm là ghi nhớ công ơn của chính quyền và nhân dân Mã Lai đã có lòng nhân đạo, giang tay đón rước người Việt Nam tỵ nạn, bỏ quê nhà ra đi. Ơn ấy, rất khó trả, và bia kỹ niệm ấy nói lên ơn ấy, lòng nhân đạo ấy.

            Chính quyền Mã Lai nghe ai mà đập bỏ bia kỹ niệm ấy đi. Đập bỏ nó chính là chính quyền Mã Lai đã phủ nhận lòng nhân đạo của chính mình! Phủ nhận cái hay cái tốt của chính phủ mình, nhân dân mình. Điều ấy có hay ho gì đâu!

            Lẽ nào vì một ít quyền lợi buôn bán mà phủ nhận lòng nhân ái của mình. Phủ nhân chính mình! Buồn cuời thay! Người có lương tri ai làm thế bao giờ.

2

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: