Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Cầu không vận Bá Linh (6) – Lạnh hơn Siberia

1(R.D September/ 1978)

            Richard Collier

 tuệchương dịch

            Rồi lần lượt những chiếc lá đầu tiên lìa khỏi cây ở trong vùng Grunnewall và không khí lạnh giá quanh hồ Havel nóng lên đôi chút vì khói của những đống lửa hồng người ta đốt vào mùa thu. Ban ngày, mặt trời màu vàng chiếu một lằn ánh sáng trên bầu trời nặng nề. Trong những căn trại lớn lạnh giá ở Gatow hoặc Tempelhof, những người đổ hàng tụ tập nhau. Họ dậm mạnh chân xuống đất hay đưa hai tay mang găng đập vào nhau cho thật mạnh để giữ hơi ấm.

            “Thống chế mùa đông”, một thành viên Cọng Sản chờ đợi từ lâu, nay đang đến Bá-Linh. Phe Đồng Minh tính toán hầu hết mọi gia đình trong thành phố nầy, thuộc khu của họ được cung cấp 25 pounds than đá để sưởi ấm trong mùa lạnh – tính ra khoảng một muỗng ăn mỗi ngày. Do đó, bây giờ nỗi khó khăn thực sự trong mùa đông bắt đầu. Không một người dân Bá-Linh nào có thể quên được những ngày khó khăn lạnh lẽo ấy.  Frau Helene Guhse, làm việc ở cơ quan nghiên cứu của Ernest Reuter, một hôm cố nấu hộp đựng trái dâu đen, nhưng dâu đã bị lên men. Khi cô ta mở hộp dâu, nước dâu xịt ra. Nước dâu tức thời bị đóng băng như trên sàn lướt. Kịch sĩ hài hước Walter Gross trình diễn tại hí trường Kurfurstendam, khi tới hí viện thấy sân khấu cũng bị đóng băng như sàn trượt băng cũng tại vì ống hơi nóng bị bể. Hết sức can đảm, người ta lấy giẻ rách bọc ống nước nóng lại để ông ta trình diễn trước số khán giả ai cũng mặc kín áo jacket và trùm mền vải. Gross thuật lại một cách thành thực: “Nhiều lần khán giả đứng lên hoan hô dữ dội, chẳng qua cũng chỉ để cho bớt lạnh.”

            Các rừng cây quanh thành phố Bá-Linh đều bị hạ. Nhiều nơi người ta lấy ván sàn nhà để sưởi. Có khi người ta dùng tủ ghế bàn đã cũ, hư hỏng để sưởi. Nữ ký giả Cornelia Herstatt ở Tiergarten đốt từng đống thư tình cũ. Cô ta nói: “Tất cả nhiệt tình của các người yêu không đủ cho tôi sấy khoai tây.”

            Cũng giống như nhà soạn nhạc ca kịch Curth Flatowm, ai có muốn thì cứ làm việc ngay trên giường, mặc áo quần thật đầy đủ, áo ngoài, đeo găng tay, đội mũ. Vì thiếu sưởi, các lớp học bây giờ được tùy tiện. Nhiều em học sinh thiếu áo quần mùa lạnh.

            Buổi sáng ngày 13 tháng 11, Đại Tá Chavasse thức dậy lúc 6giờ bắt đầu một ngày làm việc. Do linh tính, ông ta cảm thấy có gì đó có vẽ không ổn. Nằm lại một lúc, ông ta đoán xem có gì xảy ra. Bất thần, ông ta hiểu. Im lặng hoàn toàn. Ông ta vội tới cửa sổ, kéo màn lên. Chẳng thấy gì cả. Cảnh quen thuộc trên đường phố hoàn toàn biến mất…

            Mưa cũng là kẻ thù đáng ghét, dai dẳng từ ngày nầy qua ngày khác, làm cho những khoảnh bùn quánh lại. Tên gọi Rhein-Main bị biến thành Rhein-mud.

            Vài loại máy bay trở nên khó khăn khi vận chuyển. Các chỗ nối bồn chứa hàng dơ dáy làm việc di chuyển rất khó. Từ buồng lái tới cửa đuôi phi cơ chỉ có 5 bộ là “một đống nhão nhẹt”. Bụi than len vào mọi nơi, làm nghẹt các chỗ kiểm soát, các nút điện, v.v… Bụi than dính vào mi mắt, lỗ mũi, lỗ tai. Nhưng dù hên xui hay khó khăn thế nào, họ cũng phải đối đầu với kẻ thù vô hình: Mệt nhọc. Sau khi bay liên tục 12 giờ hay hơn thế, xong nhiệm vụ, người ta có thể ngủ rất say; thức dậy, không biết mình đang ở đâu?! Ngoài phi đạo, động cơ máy bay đang nổ. Máy bay xếp hàng chờ cất cánh, phải chờ vì thời tiết xấu. Phi công ngủ chập chờn. Trung Tá Tom Cates, Sĩ quan Hành quân Hải Quân Hoa Kỳ có một cái gậy để trong túi cấp cứu. Khi thời tiết khá hơn, ông ta đánh thức phi công dậy bằng cách dùng gậy ấy đánh vào thân phi cơ.

            Không thể tránh được tai nạn máy bay càng lúc càng nhiều. Một đêm lạnh giá bay vòng vào Rhein-Main, Đại Úy Jack Olin Bernett, một trong bốn phi công dân sự, thấy rõ phi đạo ở phía dưới và một máy bay đang bay phía trước ông ta. Trong khi đó thì người ta chưa nhận được tin có cơn bão tuyết từ rặng Taunnus tới. Vì tuyết đập mạnh vào kiếng chắn gió, nghe như “đạn súng máy”. Là một phi công giỏi, cẩn thận vì cơn bão tuyết hoàng hành đến chóng mặt, Bernett tắt đèn đáp và tập trung vào bảng đo dụng cụ. Người phi công bay trước tối mặt vì tuyết rơi cuồn cuộn, lại thiếu kinh nghiệm, máy bay anh ta đâm xuống đất và vở ra nhiều mảnh.

            Nhiều đêm các kiểm soát viên không giúp đỡ được gì cho các người đang gặp khó khăn. Tại Gatow, Đại Úy George Gilbert lắng nghe tiếng trao đổi giữa hai phi công lái C-54, đang bay khoảng trên vùng núi giữa Frauhnau và Dannemberg. Một người la to trong máy: “Tôi đang cố giữ lấy máy bay.” Người kia trả lời: “Không được đâu! Không được đâu!” Rồi lại có một người khác thúc giục: “Nhảy ra! Nhảy ra!” Tiếng người phi công la hoảng kinh: “Tôi đang rơi! Tôi đang rơi. Năm trăm bộ!” Trước khi chiếc máy bay chạm đất và nổ, có tiếng la: “Chúa ơi! Nó rơi rồi”.

            Nhiều người thấy số máy bay rơi bị kéo về chất đống mà hoảng kinh. Tại Gatow, Trung Úy Eagene Wiedle thấy có một chiếc Lancaster chở xăng. Trời đang gió mạnh. Chiếc máy bay chỉ chạy bằng hai bánh xe bên phải, rồi lật nhào.

            Khói đen cuộn với lửa bùng lên. Chiếc máy bay nổ giống như tiếng sấm.  Wiedle gọi khẩn cấp: “Đài Gatow, đài Gatow. Có ai sống sót không?!” Có tiếng trả lời lạnh lùng: “Tôi nghĩ là không!” Vậy mà thật mầu nhiệm: Chẳng ai chết cả.

            Tuy nhiên, cọng chung có sáu chục nhà phi hành đã thiệt mạng trong cuộc không vận nầy, gồm có 31 người Mỹ, 18 người Anh và 11 dân thường. Thêm vào đó, có 5 người Đức ở dưới đất cũng bị thiệt mạng. Tên của 65 người nầy đã được khắc lên Đài Kỷ Niệm ở Luft-Broke, thành phố Bá-Linh.

            Các tai nạn trong “Cầu Không Vận” làm cho người ta tin vào các lời đồn rằng bọn Nga thường hay quấy rối. Sự thực như thế nào thì Tướng Turner chẳng bao giờ thông báo cho mọi người biết, nhưng rõ ràng sự quấy rối của bọn Nga đã gia tăng. Trong cố gắng để làm hỏng “Cầu Không Vận”, mọi phương cách nhằm làm rối loạn và tắc nghẻn công cuộc cứu trợ đều được đem ra thực hiện.

            Một lần, rồi thêm nhiều lẫn nữa, Trung Úy Gerald Hallas bay từ Rhein-Main nghe một tiếng nổ lạ, rền rỉ trong ống nghe của ông làm cho tầm hoạt động của máy truyền tin không còn chính xác được nữa. Bọn Nga cũng dựng lên nhiều phù tiêu giả. Trung Úy Vernon Hamann bị quấy rầy bởi một giọng nói cố bắt chước giọng nói nhân viên ở đài kiểm soát Tempelhof để đẩy anh ta ra khỏi đường bay. Ens Bernard Smith gặp 22 chiếc máy bay chiến đấu Yaks bay ngang qua hành lang không lưu. Các máy bay nầy bay như đàn ong vò vẻ, dữ dằn. Trong một chuyến bay đêm, Trung Úy Warren Sandmeier có kinh nghiệm về việc quấy phá kỳ quái của các máy bay chiến đấu Nga, chúng từ trong bóng tối xô ra và bật hết đèn chiếu lên. Trung Úy Edward Weber thấy máy bay anh ta lắc mạnh khi một chiếc Yak bay thẳng mặt đối mặt với máy bay anh ta rồi nó quay nghiêng, xẹt vào phía bụng máy bay của anh. Đó là kiểu chơi roulette mới của bọn Nga. Tuy nhiên, các chuyến bay của “Cầu Không Vận” vẫn tiếp tục.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: