Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Cầu không vận Bá Linh (3) – Hành Quân Vittles

1(R.D September/ 1978)

            Richard Collier

 tuệchương dịch

 

            Thi hành lệnh của TT Truman, Tướng Le May tập trung tất các máy bay ở xa như Viênna, Nremen. Mọi phương tiện chuyên chở hàng không ở khu vực hành quân Châu Âu đều được giao nhiệm vụ đầy đủ. Nhu cầu cần thêm nhiều máy bay hơn, nhất là loại C-54, trọng tải gấp ba C-47.

            Tư Lệnh “Lực Lượng Đặc Nhiệm Cầu Không Vận” mới được thành lập là Tướng Joseph Smith, 47 tuổi, chỉ huy trưởng lực lượng quân sự tại Wiesbaden. Ông ta nhận công việc nầy và được biết nó chỉ kéo dài hai tuần lễ. Khi một sĩ quan đầy nhiệt tình trình với ông cần phải ngụy danh kế hoạch, cần có một ám hiệu che đậy công việc thì ông ta càu nhàu: “Hell’s fire”. Chúng ta đang vận chuyển thực phẩm. Nếu anh cần có một cái tên thì cứ gọi nó là Vittles.” Vì vậy, cầu không vận được gọi là “Hành Quân Vittles.”

 

            Trong buổi họp tham mưu ngày 29 tháng Sáu, lúc đã được tăng cường nhiều máy bay hơn, thiếu tá Edward Willeford báo cáo một cách tin tưởng: “Tới ngày 20 tháng Bảy, chúng tôi phỏng chừng mỗi 24giờ chuyển vận được 1,500 tấn hàng.” Cũng ngày hôm đó, bằng cố gắng, các không đoàn 60 và 61 vận chuyển được 384 tấn hàng hóa. Ban tham mưu tiên đoán trong vòng 3 tuần lễ, con số đó sẽ tăng gấp 4. Một việc tưởng như vô lý.

            Thực ra, họ đạt được chỉ tiêu đó nhưng với một giá đắt. Tướng Le May yêu cầu sĩ quan phải bay thêm giờ. Do đó, mỗi phi công chỉ ngủ được nhiều lắm là 7 giờ trong mỗi 36 giờ bay.

            Như con thoi, ngày đêm máy bay bay vào bay ra hành lang không lưu. 104 máy bay Mỹ, 50 máy bay Anh, chất lên bất cứ loại hàng nào đã chuẩn bị sẵn.  Phi công tìm chỗ nào được là chợp mắt một chút hoặc uống vội cốc cà-phê, ăn cái bánh ngọt. Tinh thần căng thẳng với khẩu hiệu vẽ trên mọi thứ hàng, thân máy bay hay bao bột mì: “Công Ty Lương Thực Le May- Bảo Đảm Phục Vụ Vòng Bay Khép Kín.”

 

            Trong khi Đại Tá Howley cùng hai người từ Tòa Thị Chính Bá-Linh tới là các ông Karl Mautner và Paul Fiillsack làm việc nhiều giờ nhằm cắt giảm trọng lượng tới mức tối thiểu. Chở bánh mì là phí phạm vì 1/3 bánh mì là nước mà Bá-Linh thì có nước vây quanh. Vì vậy, “Cầu Không Vận” chỉ chở bột mì. Khoai tây được rút hết nước nên giảm được 780/tấn một ngày. Thịt rút xuống 1phần 4 trọng lượng.  Nhờ tính toán như vậy, trong vòng 19 ngày, số lượng cắt giảm đạt từ hai ngàn tấn xuống còn một nửa.

            Mối cựu thù giữa người Đức và Đồng Minh bị quên lãng. Đầu tháng Bảy, tình đoàn kết được biểu thị rõ ràng. Tại phi trường Gatow, người dân Bá-Linh chen nhau tới tận hàng rào bao quanh trại lính Lufwaffe cũ vỗ tay hoan hô khi chiếc máy bay 4 động cơ Yorks hạ cánh xuống phi đạo. Tại Tempelhof thường có khoảng 10 ngàn đàn ông, đàn bà và trẻ con dàn hàng theo khu Berliner-Strass, bao quanh phi trường. Có người trèo lên cây, lên mái nhà vẫy tay hoan hô. Nhiều người mang biếu quà cáp cho các nhà phi hành như đồ gốm của gia đình Meissen lưu giữ được hoặc các búp bê.

            Ernest Reuter nói với số đông dân Bá-Linh: “Bá-Linh sẽ là một Stalingrad của Đức, sẽ đẩy lui áp lực mạnh mẽ của Cọng Sản.” Có người nghi ngờ: “Người Nga muốn chúng ta phải quì gối xuống.” Nhưng lòng tin của Reuter vẫn không lay chuyển. Ông ta cả quyết: “Không! Sự kiện nầy sẽ lay động lương tâm toàn thế giới.”

 

            Dưới tiếng động cơ máy bay ầm ỉ, tình đồng đội nảy sinh giữa những người cùng chung mối đe dọa. Nhiều vấn đề cần giải quyết. Trước nhứt là than. Đại Tá William West, sĩ quan hành quân cơ quan quân sự Bá-Linh, bay nhiều giờ trên thành phố tìm nơi thả hàng thích hợp. Trước hết là sân bắn của quân đội và khu vực vận động trường Olympic trong khu vực người Anh.

            Theo dự trù, các bao than sẽ được thả xuống bằng máy bay B-29. Công nhân chuyển than ra phi trường mỗi đêm làm việc dưới ánh đèn chiếu. Nhưng ngay lần đầu tiên, các bao than chạm đất vở ra, số lượng than bị mất bớt. Do đó, dù có lời yêu cầu khẩn cấp của Tướng Clay, phải đến ngày 7 tháng 7 món hàng đó mới tới được Bá-Linh với 160 tấn, chứa trong bao quân trang của quân đội.

            Một tờ báo Cọng Sản chế nhạo:  “Bây giờ thiếu hụt nhiên liệu còn chịu được, liệu tới thu đông thì sao?”

            Để bảo toàn, Howley và các cấp chỉ huy ra lệnh cắt giảm 75% điện lực. Xe điện, tàu điện chạy tới 6giờ chiều phải ngưng. Điện nhà chỉ có 4 giờ một ngày. Nhiều nhà máy nhỏ bị cắt điện hoàn toàn.

            Thành phố cổ Melsungen, cách biên giới phía tây khu Xô Viết 22 dặm, dành riêng mỗi ngày 4 xe gạo, cá khô và rau tươi để chuyển vào Bá-Linh. Hamburg và Bremen, vùng Hạ Saxon thông qua một giải pháp mới là công đoàn tăng phần ăn đầy đủ cho Bá-Linh. Tại hạt Ruhr, nơi có câu khẩu hiệu “Than cho Bá-Linh” tặng huy chương cho các thợ mỏ đạt mức 100 ngàn tấn than cho Bá-Linh. Một cách mau lẹ, “Cầu Không Vận Bá-Linh”, hay “Die Luftbrucke”, hay “Le Pont Aérien” đã giành được xúc động lương tâm thế giới.

            Có một thời người ta nói đùa một cách thích thú: “Chúng ta gặp may. Cứ tưởng tượng có ngày phe Đồng Minh phong toả và người Nga lập cầu không vận để cứu chúng ta.”

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: