Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Cầu không vận Bá Linh

1(R.D September/ 1978)

            Richard Collier

 tuệchương dịch

Xin nói vài lời:

            Có hai sự kiện quan trọng của cuộc “Chiến Tranh Lạnh”: Bắt đầu và sụp đổ. Bắt đầu là vào lúc 6 giờ sáng ngày 24 tháng 6 năm 1948, khi Staline ra lệnh phong tỏa tất cả các đường bộ vào ra Tây Bá Linh và chấm dứt vào đêm 9 rạng ngày 10 tháng 11 năm 1989, khi Bức Tường Bá Linh, – mà ông Ngô Đình Nhu đặt cho nó cái tên là Bức Tường Ô Nhục – bị đập đổ.

            Có lẽ ngày nay người ta nhớ ngày sụp đổ nhiều hơn sự kiện bắt đầu. Dĩ nhiên, Chiến Tranh Lạnh chấm dứt với bao nỗi vui mừng, không chỉ cho dân chúng Đức mà toàn thể các dân tộc trên thế giới và nó bắt đầu với bao nỗi khốn khổ và điêu linh của nhiều người, nhất là những người dân bị vây khổn trong thành phố Tây Bá Linh.

            Dù vui mừng hay đau khổ, người ta cũng không nên quên. Đó là một kinh nghiệm, không những bây giờ và về sau, khi nào các chế độ độc tài còn tồn tại, dù độc tài Cộng Sản hay không Cộng Sản.

            Độc tài đem lại sự tàn ác và làm cho dân chúng khổ đau. Chúng ta quên thế nào được?!

Người dịch

1)-

            Bá Linh, thành phố bị chiếm đóng ba năm trước, ở trong tình trạng hoàn toàn đổ nát, dân chúng đói rách. Giờ đây, tháng Sáu/ 1948, hai triệu rưởi người đang sống trong khu vực chiếm đóng của Tây phương (Anh-Pháp-Mỹ), trở thành vật trao đổi của một âm mưu quyền lực của Nga muốn đẩy dân chúng Tây Bá-Linh vào nạn đói, buộc phải chịu khuất phục và dùng áp lực đẩy phe chiếm đóng Tây phương ra khỏi thành phố nầy. Nhưng Anh, Mỹ, Pháp đã quyết định chống lại bằng cách thực hiện một việc tưởng như không làm nổi: Tiếp tế nuôi sống thành phố bằng đường hàng không. Sự việc khi bắt đầu thì nhỏ. Tuy nhiên, những cố gắng yếu ớt lúc ban đầu ấy chẳng bao lâu dâng cao thành một hành động phi thường của lòng nhân đạo và quyết tâm chính trị. Đó là “Cầu Không Vận Bá Linh Anh Hùng”, là những ngày tháng tốt đẹp vô cùng của Thế Giới Tự Do.

            Richard Collier từng chuyện trò với những người tham gia Cầu Không Vận nầy: Tướng lãnh, phi công, trú dân thành phố bị bao vây, hồi tưởng của họ về những ngày vừa oai hùng vừa bi thảm ấy vẫn còn sống động.

&

            Đồng hồ trong phòng tin tức của nhật báo Dertag ở Bá Linh chỉ 11giờ đêm. Kế hoạch cho số phát hành buổi sáng 24 tháng Sáu/ 1948 đã hoàn tất. Chủ bút chính trị Margor Derigs đang kiểm soát lại “bản dập” cuối. Ngay lúc đó, máy điện báo reo lên náo động.

            Các phóng viên bỏ máy chữ đang đánh, háo hức gọi nhau chen chúc chung quanh máy điện báo. Margor chen vào với họ khi bản tin kêu lách cách hiện ra trên trang giấy trắng.

            “Bá-Linh, 23.6. Cơ quan vận tải của chính quyền quân sự Sô Viết ra lệnh đình chỉ việc chuyển vận hành khách và hàng hóa xuất nhập thành phố Bá Linh, kể từ 6giờ sáng ngày mai vì những khó khăn về kỹ thuật. Việc vận chuyển bằng đường thủy cũng bị cấm chỉ.”

 

            Tiếng máy điện báo ngưng chạy. Hầu hết hai triệu rưởi người dân thành phố Bá Linh đều biết bản tin xấu sáng ngày hôm ấy. Việc vận chuyển than cho thành phố từ phía tây lại đã bị ngưng; việc phân phối sữa bị ngăn chận.  Mọi tiền bạc, hàng hóa tại Stadtkontor (nơi lưu trữ của thành phố) bị ngưng trệ. Đường xe lửa, đường bộ và đường thủy của Bá Linh bị cắt đứt với thế giới bên ngoài. Như thế, hoặc chấp nhận sự cai trị của người Nga hoặc chết đói.

            Ba năm qua, kể từ khi Tướng Lucius nắm giữ chức vụ, Cao ủy Hoa Kỳ ở Đức và vị chỉ huy lực lượng Mỹ ở Châu Âu tuyên bố một cách tin tưởng rằng: “Mấu chốt việc giữ quan hệ với Liên Xô là làm cho họ tin tưởng và tin tưởng họ.” Một quan chức bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cho rằng tuyên bố  ấy sẽ kéo dài được một năm vì Tướng Clay Tư lệnh lực lượng Mỹ nầy là một trong những người chống Cọng rất kịch liệt. Việc ấy đã được chứng minh.

            Quả thật đó là chuyện đáng buồn khi Tướng Clay nhìn lại biến cố năm 1948, lòng tin bị phai lạt khi tin vào những lời hứa suông của Cọng Sản; Liên Xô gồng mình thử nghiệm quyết tâm của phe Đồng Minh về việc từ bỏ hay cố giữ thành phố Bá Linh. Căn nguyên câu chuyện xảy ra từ năm năm trước trong “âm điệu du dương và ngây ngất” của Hội Nghị Teheran và Yalta, nơi Tổng Thống (TT) Mỹ Franklin Roosevelt nuôi một ảo tưởng định mệnh: Hoa Kỳ đối xử với Liên xô giống như các nước thân hữu khác.

            Trong hai hội nghị nói trên, các bên quyết định khi chấm dứt chiến tranh, Đức sẽ bị chia thành 4 vùng Pháp, Anh, Mỹ và Nga. Thành phố Bá Linh cũng được chia thành 4 khu như thế. Cách chia đó làm cho vùng Rhur, trái tim kỹ nghệ Đức, vuột khỏi tầm tay người Nga. Ngược lại, thành phố Bá Linh trở thành một quả bom nổ chậm. Đó là môt thành phố trông như hòn đảo vì có sông ngòi bao bọc chung quanh lại nằm trong lãnh thổ do Liên Xô chiếm đóng.

            Ngay cả những năm trước chiến tranh, Bá-Linh không phải là một thành phố tự nuôi mình được. Ngày nay, mỗi tuần, hàng ngàn tấn hàng hóa phải di chuyển trên con đường độc đạo – hành lang xe lửa quốc tế dài 110 dặm chạy từ thành phố Marienborn trên khu vực biên giới đi qua khu vực Liên-Xô chiếm đóng để vào Bá-Linh. Rõ ràng hàng hóa được người Tây Bá Linh và đội quân Đồng Minh 6.500 người tiêu thụ đã được chuyển theo con đường huyết mạch mà người Nga có thể cắt đứt bất cứ lúc nào.

            Mùa đông năm 1946, mùa đông lạnh nhứt của thế kỷ, nhiệt độ xuống tới 4 độF dưới không. Nước bị đóng băng, số trẻ em chết gia tăng kinh khủng. Hàng chục người dân Bá Linh tìm thấy chết cóng ở ngoại ô Grunewald, nơi nổi tiếng có phong cảnh đẹp. Trên đồi đá kéo dài tới khu rừng chung quanh Berliner-Ring, hệ thống đường sá bao quanh thành phố, hơn hai trăm căn nhà hộp bỏ trống của sĩ quan Phổ bị đánh cắp làm củi để sưởi. Trong một mùa đông như vậy, nếu người Nga phong tỏa việc phân phối than đá cho khu vực phía Tây thì vị trí phe Đồng Minh không thế nào cố thủ được.

            Điều ấy bây giờ lại xảy ra. Vấn đề là: Đồng Minh sẽ ở lại Bá-Linh hay rút lui bỏ mặc dân chúng cho Liên Xô. Tướng Clay tuyên bố: “Người Nga không thể đẩy chúng ta ra khỏi Bá Linh bằng bất cứ một cuộc chiến ngắn ngủi nào.” Nhưng trong chỗ riêng tư, một cố vấn làm ông ta bối rối bằng nhận xét: “Khi tay đụng nhằm lửa, tại sao chúng ta không rút tay lui.” Đầu tiên ông ta được thuyết phục đem một đoàn xe 200 chiếc có trang bị vũ khí xuống vùng Autobahn để tới Bá Linh, chỉ xử dụng vũ lực khi lực lượng Xô-Viết chận đoàn xe ấy lại. Như thế, có nguy cơ xảy ra chiến tranh. Tướng Clay biết là người Nga không muốn có chiến tranh. Washington ra lệnh binh lính Mỹ không nổ súng khi lính Nga rút lui khỏi vị trí phong tỏa.

            Đại diện Anh, Sir Brian Robertson, trung tướng, có kế hoạch hổ tương: Tiếp tế Bá Linh bằng đường hàng không. Thật ra, một số máy bay đã được lệnh rời Anh ngày hôm sau. Clay thử nghiệm phương tiện đắt đỏ nhưng kém hữu hiệu nầy bằng cách lập một cầu không vận cho binh lính Mỹ từ hồi tháng Tư và tháng Năm. Ông ta nghĩ rằng máy bay chỉ có thể tiếp tế cho quân đội, không thể tiếp tế cho toàn thành phố. Ông tuyên bố thẳng thừng: “Hoàn toàn không thể được.”

            Tuy nhiên, suốt ngày đầu tiên chưa có kế hoạch nào được vạch ra. Tướng Robertson thúc ép thi hành kế hoạch của ông. Clay trì hoãn. E. Reuter là một người chống Cộng cương quyết, cố vấn của thành phố Bá-Linh về giao thông và lợi ích công cộng; năm trước, ông ta được bầu làm thị trưởng thành phố nầy nhưng Liên Xô ngăn chận ông ta đảm nhận chức vụ; được mời tới văn phòng tướng Clay. Tướng Clay nói với Reuter: “Tôi sẽ nuôi thành phố nầy bằng đường tiếp tế hàng không. Có thể nào người dân Ba Linh chấp nhận những bữa ăn đạm bạc vì đường hàng không sẽ không tiếp tế được hoàn toàn đầy đủ. Việc ấy có thể kéo dài hết mùa đông, nếu cần.”

            Đó là giờ phút lịch sử. Một bên là một Tướng Mỹ, sắc bén, gọn gàng nhưng có vẽ tiều tụy vì mệt nhọc. Một bên là một người thuộc phe Dân Chủ Xã Hội, hay chua chát, mặc bộ quần áo cổ viền đã bị nhăn nhúm. Cả hai đang tìm kiếm phương cách thực hiện phép lạ nầy.

Reuter nói một cách nhẹ nhàng: “Bá Linh sẽ hy sinh tất cả những gì cần thiết, nhưng sai lầm nếu tin rằng mọi sự sẽ tốt đẹp nếu người Bá Linh chỉ được nuôi ăn, sưởi ấm và có đủ quần áo.”

Dù sao, kỹ nghệ Tây Bá Linh còn giữ nhiệm vụ của nó gần như bình thường được chừng nào tốt chừng đó. “Nếu người dân không có việc làm, họ sẽ hoang mang, dễ đầu hàng Cọng sản.”

Bên ngoài phòng, Reuter quay lại nói chuyện với một tướng Mỹ khác: “Quyết định của tướng Clay là thần kỳ nhưng tôi không tin có thể thực hiện được.” Vị tướng đó đồng ý: “Tôi cũng vậy.”

Trong lúc đó, tướng Clay gọi điện thoại cho tướng Curtis Le May ở Frankfurt, Chỉ Huy Trưởng không lực Mỹ ở Châu Âu. Clay nói: “Curt, anh có máy bay nào chở than không?” Le May nói, có vẽ như xin lỗi: “Thưa Đại tướng, đường giây liên lạc xấu quá. Có phải Đại tướng hỏi tôi máy bay chở than phải không?”

– “Đúng! Điều tôi hỏi là than.”

Ngừng một chút, tướng Le May nói đùa: “Không lực có thể chuyên chở mọi thứ.”

Xong, ông ta hứa hẹn thi hành công việc. “Cầu Không Vận Bá Linh” bắt đầu từ đó. Sau nầy, qua đó, điều mà thế giới gọi là Chiến tranh lạnh bắt đầu.

            Trong vòng ba năm, kể từ khi chiến tranh Thế Giới chấm dứt, sự có mặt của Nga hiện ra mơ hồ ở Châu Âu thì bây giờ như tiếng sét trên đầu. Ở những nước Hồng quân giải phóng như Ba-Lan, Tiệp Khắc, Hungary, Lỗ mã ni, Bảo gia lợi và Đông Đức, là những chư hầu của Liên Xô, quân đội Nga chiếm  đóng và thành lập chính phủ bù nhìn: 123 triệu dân không được che chở, bị giam hãm trong một khu vực 400 ngàn dặm vuông. Tháng Hai/ 1946 Cọng Sản cướp chính quyền ở Tiệp Khắc sau khi Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao của nước nầy là Asaryk tự tử. Mục đích cuối cùng của Nga là Cộng Sản hóa toàn Châu Âu. Hồi ấy, Tướng Clay có lý do để tự hỏi: “Liệu rồi vùng Tây Đức và Tây Bá Linh do Đồng Minh chiếm đóng có phải là mục tiêu kế tiếp do Mascơva chuẩn bị sẵn hay không?”

            Bá-Linh vẫn còn là một thành phố đáng quan tâm. Hơn 70 ngàn tấn bom đã được thả xuống đây. Từ trên không nhìn xuống, thành phố là một đống gạch vụn màu xám, mùi lửa cháy khét vẫn còn, lẫn với mùi dầu cặn và mùi xi-măng bể ẩm ướt.

            Ở Siegesallee, tượng của các vị quan cai trị thời cổ nhìn hững hờ qua các thân cây bị vỡ vì bom đạn. Unter Den Linden một thời là con đường nổi tiếng nhứt của thành phố; khách sạn Allon, một thời phô trương huy hoàng nay chỉ còn là đống gạch, những phòng chứa hàng của nó ở tầng hầm biến thành nơi bán xúp bắp cải và củ cải tây.  Lâu đài Quốc Hội Đệ Tam Cọng Hòa Đức (Reichstag) bị cháy rụi, chỉ còn tiếng đập cánh vang dội của bầy quạ đen.

            Người dân cùng chịu số phận với thành phố! Cùng với số phận đó là lời khôi hài chua cay nói rằng ngay khi thành phố bị oanh tạc khốc liệt nhứt, người dân được kích thích bằng những câu viết trên tường như: “Hãy vui với chiến tranh! Hòa Bình rất khủng khiếp.” Với hầu hết các gia đình, sữa, đường, chất béo và rau thì hiếm như lương thực Chúa cho trong kinh Thánh, và cái còn lại chỉ là rễ cây và cây tầm ma luộc sôi. Một công nhân tóm tắt trong một câu: “Mọi năng lực của người dân được tiêu phí để theo đuổi một ổ bánh mì và một đôi giày. Hy vọng chỉ có thế!”

            Tuy nhiên, mối đe dọa lớn nhất vẫn là sự hiện diện của người Nga. Ba năm truớc, quân đội Liên Xô hung hăng vào thành phố với những hành động dã man không có gì có thể so sánh được. Phỏng chừng số phụ nữ bị hiếp dâm trong thời kỳ người Đức gọi là “Thời kỳ Nga” – Ngày 14 tháng Tư/ 1945 đánh dấu trận đánh vào thành phố – là khoảng tử 20 ngàn đến 100 ngàn nạn nhân. Từ tiếng kêu mừng rỡ “Krau, Komn”, đàn bà con gái phải bôi đen mặt, lem luốc để đánh lừa bọn Nga. Họ bị lôi ra từ những hầm rượu, những nơi ẩn náu và biến thành nạn nhân của binh lính Xô Viết. Ba năm sau, di hại vẫn còn: Tại bệnh viện nhi đồng Wilmerdorf, bác sĩ Annemarie Nitze ghi nhận bốn đứa trẻ tám tuổi “chơi trò hiếp dâm”, bọn con trai chồm lên bọn con gái, cố xé quần áo của bọn nhỏ nầy.

            Cùng với hiếp dâm là cướp phá. Về kỹ nghệ, không có gì thoát khỏi tay chúng, từ nhà máy phát điện 228 ngàn kilôwat Krafwerk West tới máy móc của các nhà máy nhỏ như Siemans-Schuickert, Osram, Telefunken và Daimler-Benz đều bị tháo gở. Hồng quân đã cướp một số lượng lớn hàng hóa không thể tưởng tượng được: Xe đạp, điện thoại, chậu rửa mặt, nút điện, ổ khóa cửa, v.v… Nếp suy nghĩ của người Nga làm gia tăng sự tàn bạo khi tàn phá một quốc gia. Người Nga để lại dấu ấn hàng tỷ đồng và cơn ác mộng kinh tế tiếp theo sau. Không có gì người ta muốn mà không có sẵn nhưng với giá chợ đen. Trứng, rượu Champagne, vải lụa, dầu hỏa, phim chụp hình, v.v… Thịt bò thì giá 60 đồng một pound, bánh mì 20 đồng một ổ, một đôi giày đã hỏng giá rẻ nhứt cũng phải 100 đồng trở lên. Tại khu “Little Tiergarten”, một khu cỏ khô rộng, cây bị nứt nẻ, nằm phía ngoài khu Quốc Hội Đệ Tam Cọng Hòa (Reichstag) người ta tụ họp ở đây hằng ngày, còng lưng dưới các túi nặng, léo lê hoặc đẩy xe tay các thùng hàng. Bọn trẻ, mặt mày tóp lại, đi bán thuốc lá lẻ xin từ binh lính phe Đồng Minh. Các cựu chiến binh mang huy chương đi bán rao, những người đàn ông béo tròn bán vớ nylong 45 đồng một đôi. Ba món hàng chính khó kiếm là: Thuốc lá, cà-phê và Chocolate. Một gói thuốc lá giá thấp nhứt cũng phải 35 đồng sau khi bán qua tay hàng trăm lần.

            Trong lúc đó thì người Nga chống lại một cách mãnh liệt các biện pháp cải cách tiền tệ. Cuối cùng, trong thất vọng, Anh, Mỹ, Pháp, quyết định tự điều hành vùng họ chiếm đóng như một đơn vị kinh tế riêng rẻ. Người Nga phản ứng. Ngày 20 tháng Ba/ 1948, nhà cai trị quân sự Liên Xô, tướng Vassily Sololovsky bước ra khỏi hội nghị thường kỳ của Hội Đồng Kiểm Soát Đồng Minh – Cơ quan cai trị nước Đức. Ngày 1 tháng Tư năm đó, chuyến xe lửa tốc hành “Người Bá Linh” bị lính Nga chận lại ở Marienborn và đuổi trở lại Frankfurt. Cùng ngày hôm đó, hai chuyến tàu khác cũng bị chặn lại làm cho Bá Linh mất 600 tấn hàng cốt yếu. Tướng Clay ra lệnh chở gấp 600 tấn hàng cốt yếu vào lại Bá-Linh bằng đường hàng không.

            Ngày 5 tháng Ba, một phi cơ chiến đấu của Liên Xô thực hiện một cuộc tấn công giả vào các máy bay của Anh khi chiếc máy bay nầy bay vào Bá Linh bằng một trong ba hành lang được dành cho phe Đồng Minh xử dụng.  Bay vút lên trước mặt chiếc máy bay của Anh (trên đó có 10 người) chiếc máy bay Yak3 của Nga bay vòng trở lại. Ở cao độ 1 ngàn “fít” hai chiếc máy bay nầy đụng nhau và rớt xuống cánh đồng bên dưới, không ai sống sót.

            Mặc dù bị quấy rầy liên tiếp, Đồng Minh vẫn tiến hành công tác dành cho Bá Linh. Tiếp theo đó là phong tỏa. Người Nga không thương thảo, đơn giản chỉ muốn bắt hết tất cả người dân Tây Bá-Linh để làm con tin.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

2 Comments on hoànglonghải – Cầu không vận Bá Linh

  1. “Buc tuong o nhuc” (wall of shame) khong phai la ten ong NDN dat cho .Thang 8/61 khi buc tuong duoc Dong Duc dung len,nguoi dan Ba linh da goi no bang ten nay .Nam 1962,tuan bao Time trong mot bai viet chu luc ve buc tuong nay da chinh thuc dung tu “Buc tuong o nhuc”.

    Số lượt thích

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: