Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – “Hương Tràm Trà Tiên” Bài 34: Nghèo không chỉ là khổ mà…Cay Đắng

1Việt Cộng gọi quân đội miền Nam là “lính đánh thuê” (cho Mỹ, dĩ nhiên). Nói cho đúng thì đó là chụp mũ. Nói rộng ra thì chưa hẳn ai là lính đánh thuê, ai không! Nhưng quả thật, Đế Quốc Mỹ là con buôn, con buôn thì ít khi rộng rãi, mà lại rất keo kiệt!

            Miền Nam Việt Nam, được cái gọi là Thế Giới Tự Do gọi là “Tiền đồn chống Cộng”. Do đó, lúc ban đầu, miền Nam được giúp đỡ, được viện trợ khá giồi dào. Đến khi “ông nhà giàu” tìm ra con đường đi buôn khác tốt hơn, lời hơn, thu nhập nhiều hơn, bèn thắt hầu bao lại.

            Vậy là sau khi Nixon đến thăm Hoa Lục ngày 21 tháng 2 năm 1972, gặp Mao, Mỹ  “xóa bài làm lại”, rồi bằng hiệp định Paris 1973 thì Mỹ giảm viện trợ cho miền Nam Việt Nam.

            Mỹ cắt bớt viện trợ, trong khi binh sĩ vẫn ngày đêm chiến đấu, không ngại gian khổ, hy sinh, thì vật giá leo thang, lương tiền không tăng theo nên bao nhiêu. Gian khổ, cay đắng xảy ra cho hầu hết mọi gia đình. Thế rồi, “Ký giả đi ăn mày”, thế rồi ở các trường tiểu học, các cô giáo vừa dạy học vừa làm công việc của “mụ cai trường”: Bán kẹo cho học sinh. Và không ít người, từ trước tới giờ chỉ lo việc nội trợ nay phải rời nhà xông ra chợ buôn bán, kiếm thêm ít tiền chi dụng trong nhà.

Sao mà số phận người Việt miền Nam cay đắng vậy!?

            Trong viễn tượng đó, “Con đường ngọt ngào” trở thành hấp dẫn cho các bà, các mẹ, các chị, các cô gái đi buôn để kiếm thêm tiền cho gia đình.

            Thành phần đi buôn trên “Con đường ngọt ngào” nầy có nhiều hạng. Đông nhất là gia đình binh sĩ, công chức hạng thấp. Hầu hết, vì lương lậu thấp, không đủ sống nên các mẹ, các bà, các chị, các cô phải xông pha mua bán kiếm thêm chút đỉnh để giúp đỡ gia đình.

            Tôi nói kiếm thêm chút đỉnh là nói thật, lời lãi đâu bao nhiêu. Thông thường, mọi người, vốn ít, vã lại chủ xe cũng không cho chở nhiều, mỗi người buôn năm ba bịch, mỗi bịch 10Kg, đem từ Hà Tiên về Rạch Gia hay Cần Thơ thì kiếm bao nhiêu lời. Rồi tiền xe tàu, tiền ăn uống. Dĩ nhiên, họ ăn đường, ngủ chợ. Mỗi chuyến đi, mau thì cũng một ngày, gặp khi trắc trở cũng vài ba ngày, tốn kém lắm. Tôi từng gặp vài người quen cũ, từ Saigon xuống, từ Rạch Giá qua, ghé nhà thăm, hỏi tôi về việc đi buôn hàng lậu. Tôi bảo: “Đừng! Đừng nghe người ta nói, người ta đồn. Cực khổ, tốn kém lắm, lời không bao nhiêu!”

Tôi từng chứng kiến bao nhiêu thảm cảnh của những người đi buôn, nhất là khi họ bị bắt giữ, mất cả vốn lẫn lời.

            Hoàn cảnh những người có trách nhiệm như chúng tôi thì kẹt lắm: Bắt thì kẹt; không bắt, lại kẹt hơn. Hoàn cảnh gia đình binh sĩ, công chức, lương thấp, vốn liếng không bao nhiêu. Bắt người ta khổ, mất vốn; cho đi tự do, cấp trên khiển trách.

Tôi dặn các sĩ quan do tôi chỉ huy:

            – “Khi không có lệnh, mấy ông làm sao thì làm. (Có nghĩa là làm ngơ, cho đi tự do, nhưng không nói rõ ra như thế). Khi có lệnh thì “một giọt đường cũng không cho về Rạch Giá” như lệnh trên. Đã bắt thì đừng thả. Thả là mang tiếng ăn tiền.”

            Vậy rồi khi có lệnh bắt, người bị bắt lê thê lết thết, lắm người khóc, chận đường tôi, xin xỏ. Tôi làm gì được!?

            Có lần, trong buổi họp, nghe báo cáo về việc bắt giữ và những lời than van, trách oán từ các nhân viên nói lại, bực mình, tôi nói: “Vì cái loon quèn nầy mà mình làm nhiều điều thất nhân tâm. Bỏ quách mà về là xong. Đúng là “Quyền lực là liều thuốc độc.” như người Tây phương nói vậy.”

Các nhân viên của tôi, nhìn tôi và thông cảm. Họ biết tôi là người đi lạc đường, như tôi thường nửa đùa, nửa thật với họ vậy.

Mười năm đi dạy là tôi lạc đường vào… giáo dục. Người như tôi mà “giáo dục” gì, ăn nói ẩu tả, cũng không ít lần chưởi thề, chưởi tục. Đúng là “Giáo bất nghiêm, sư chi đọa.” Tôi tình nguyện đi lính là vì cảnh năm ngàn người bị Việt Cộng chôn sống ở Huế hồi tết Mậu Thân, tôi thấy nên chống Cộng bằng cách “bóp cò súng” hơn cách “viết phấn bảng”. Biệt phái qua ngành Cảnh Sát, bạn bè tôi không ít kẻ ngạc nhiên. Vậy là tôi đi… lạc quá xa. Rồi bây giờ tới việc đi bắt hàng lậu. Nhìn tới tận cùng sự việc, không phải cho hàng lậu đi qua, hay bắt giải quan thuế là xong công việc. Ai đi buôn? Tại sao họ phải đi buôn, vốn liếng họ nhiều ít? Và tôi thấy họ y như… mẹ của mình, chị của mình, em của mình, hoặc vợ, con đồng đội mình! Khác gì đâu! Cô “Khôổn”, con gái ông đại úy Miên, Thiết đoàn 10 Kỵ Binh, mẹ người lai Việt, nhà ở sát nhà tôi khi tôi còn ở trại Phù Đổng, Gò Vấp. Bọn sĩ quan chúng tôi hồi đó thường gọi đùa là cô “Mai Liên” (Miên lai) đi buôn lậu, bị thiếu úy Chiếu của tôi bắt, xin gặp tôi. “Trời ơi!” Tôi than “Lặn lội chi cho xa dữ ri? Lời bao nhiêu!” Cô ta không nói được. Chỉ khóc.

Một ông đại úy khác, cũng người Miên, chỉ huy một pháo đội ở kinh 8, Kiên Tân, vợ đi buôn, bị bắt. Ông ta gặp tôi, nhờ giúp đỡ. Ông ta than: “Nhà tôi đông con, lương không đủ sống.”

            Một bữa tôi xuống Vàm Rầy, một bà cụ cũng đã lớn tuổi, chận tôi lại. Tôi tránh mặt, đi thẳng vào văn phòng trưởng cuộc, hỏi:

            – “Bà cụ nào dzậy?”

            Thiếu úy Huệ trả lời:

            – “Ba ta chỉ có ba bịch đường. Bả xin. Bà có bốn người con trai, đều đi lính. Một nguời được hoãn vì là giáo viên và con độc nhứt còn lại. Con cái đi lính cả, không những không lo cho mẹ được mà mẹ còn giúp đỡ cho con nên bà đi buôn. Tôi chờ hỏi ý kiến chỉ huy trưởng.”

            – “Ông nhắm mắt lại đi, rồi biểu phó cuộc Út trả hàng cho bà ta lại. Biểu bà đi cho lẹ, ra khỏi đây càng sớm càng tốt. Kẻ bắt người tha, người ta chưởi cho mà nghe!” Tôi nói.

            Cách đó mấy hôm, khi tôi đi làm về thì thấy trên bàn có gói quà. Tôi hỏi vợ tôi ai cho. Nhà tôi nói: “Bà già mới đi ra. Nói chi bả cũng không chịu, bà bỏ lại đó mà đi.” Tôi biểu con gái đầu của tôi, hơn 10 tuổi, cầm gói quà chạy theo trả lại cho bà ấy. Một lúc sau, con gái tôi trở về, hai mắt đỏ hoe. Tôi hỏi: “Sao con khóc?” “Bả nhận lại gói quà mà bà khóc dữ, thấy tội nghiệp quá nên con khóc theo!”

            Phải chi nắm được đầu Bà Gái Đen hay mấy ba Tầu Chợ Lớn, chủ chốt buôn lậu ở Hà Tiên mà dẫn ra tòa thì co gái tôi không khóc mà tôi thì “đã” biết bao nhiêu. Bọn đó sống đế vương, mỗi lần ở Saigon về, dẫn theo không ít gái đẹp. Không ai đụng tới cái lông chân chúng nó được. Đó là gốc. Mấy cái ngọn cây èo uột nầy đâu có đáng chi!

            Có một số ít người đi buôn “chuyên nghiệp” hơn, có nghĩa là họ quan hệ chặt chẽ với tài xế, lơ xe, hàng hóa dấu kỹ hơn. Có không ít cô đi buôn như thế, và buộc lòng, mấy cô phải “ngủ” với tài xế hay chủ xe đò.

            Tất cả các chủ xe đò, đều có buôn hàng lậu cho chính họ. Những người nầy thu lợi khá nhất. Vừa thu tiền vé khách hàng, vừa thu tiền cước, lại chính họ chở hàng lậu cho họ. Họ có chỗ dấu hàng trên xe, dĩ nhiên cho hàng của chính họ hay cho tài xế, “khách ruột” của họ mà thôi.

            Có những người đi buôn tự túc, tự lái xe chở hàng, tự mua hàng lấy, đem về Saigon.

            Một hôm, thiếu úy Nguyễn Minh Chiếu trưởng cuộc Cảnh Sát xã Đức Phương, – người thay thiếu úy Huệ, người tôi mới nói ở trên, tử trận -, gọi điện thoại, báo cáo:

            – “Em mới bắt giữ một cái xe đò lở (loại hơi nhỏ hơn loại thông thường). Trên xe có hai người đàn bà và một người đàn ông. Người đàn ông là trung sĩ, làm việc ở Nha ANCL, bộ Tư Lệnh, có sứ vụ lệnh đi công tác ở Long Khánh, không phải về đây. Hai người đàn bà thì một người đã lén trốn đi mất, có lẽ về Saigon. Một bà ở lại giữ hàng. Xét xe thì ông trung sĩ năn nỉ quá trời, xin đừng xét. Bây giờ em không biết làm sao?”

            – “Xe chở hàng gì?” Tôi hỏi.

            – “Em chưa xét.” Thằng cha trung sĩ và bà chủ năn nỉ quá!” Thiếu úy Chiếu trả lời.

            – “Nhiều hay ít?” Tôi lại hỏi.

            – “Cở một góc tư xe, không nhiều. Xe còn trống lắm.” Thiếu úy Chiếu báo cáo.

            – “Ông nghi người ta chở gì?” Tôi hỏi.

            – “Chắc là đường hóa học.” Thiếu úy Chiếu nói.

            – “Cho nhân viên canh giữ chiếc xe, giải giao tên trung sĩ đó về cho tui.” Tôi nói.

            Nửa giờ đồng hồ sau, nhân viên của thiếu úy Chiếu dẫn anh trung sĩ về tới. Để hù, tôi gọi thượng sĩ Hai Râu, trưởng ban Tư pháp, nói:

            – “Ông nhốt anh nầy đi!”

            Anh trung sĩ hốt hoảng năn nỉ tôi; hai con mắt đỏ hoe, gần như muốn khóc:

            – “Tội nghiệp tôi! Tôi nghiệp tôi. Tôi không chở gì quan trọng đâu!”

            Tôi giữ mặt tĩnh:

            – “Cái gì trên xe, nói đi. Bao nhiêu ký lô bạch phiến?”

            – “Dạ không! Dạ không! Em thề không có bạch phiến. Em chỉ chở đường hóa học về bán cho các tiệm làm kem. Em thề không có gì khác hơn. Đại úy tha cho em!” Anh ta lại năn nỉ.

            – “Hai người đàn bà kia là ai? Một bà trốn rồi. Bà ta ở đâu?” Tôi hỏi.

            – “Dạ thưa! Hai bà nầy là chị em, còn em được nhờ đi, thiệt ra là sai đi. Một bà là chị ông Tư Lệnh, có cửa hàng ở chợ Cầu Muối. Bả về Saigon rồi” Anh ta khai.

            – “Vậy là tui không thể tha được. Tha ra, mấy bà về mách với ông Tư Lệnh, chúng tôi bắt rồi tha. Lãnh “củ” sao?” Tôi nói, mặt bớt khó chịu.

            – “Thiệt ra, buôn chừng nầy có thấm gì đâu! Bà thủ tướng cho chở gạo vô Long Khánh, bán cho Việt Cộng thì sao!” Anh trung sĩ trình bày.

            – “Có thiệt hay anh nói bậy. Coi chừng đụng nhằm ổ kiến lửa ở tù như không!” Tôi nói.

            – “Em làm ở Nha ANCL, báo cáo về đó, người ta nói um trong phòng, ai cũng biết, riêng gì em đâu! Em nói là nhẹ. Người ta còn chưởi nữa kia. Chưởi thì chưởi, không ai làm gì được.” Anh ta kể.

            Tôi biết là tôi gặp chuyện rắc rối đây, chị ông Tư Lệnh mà, nên nói với anh ta:

            – “Tôi không nhốt, nhưng anh không được ra khỏi đây, giấy tờ tui giữ. Anh muốn đi ăn uống gì, phải xin ông Hai Râu, trưởng ban tư pháp của tui. Ổng cho mới được đi. Thôi, anh đi ra đi.”

            Anh trung sĩ mừng húm, đi ra khỏi phòng tôi, theo chân Thượng Sĩ Hai Râu. Tôi viết báo cáo tay, – không chính thức, – báo cho “xếp” toàn bộ chi tiết sự việc. Một giờ đồng hồ sau, nhân viên truyền tin báo cáo với tôi: “Trung tá Chỉ huy trưởng nói cứ giữ lại đó, coi ngày mai có tin tức gì không.”

            Té ra, ông cũng như tôi, biết mình đang kẹt.

            Vậy rồi, như ông ta đoán đúng, hay thật. Sáng hôm sau, nhân viên truyền tin báo cáo: “Tỉnh gọi về, theo lệnh bộ Tư Lệnh, bảo thả chiếc xe hàng cho đi ngay.”

            Nhân viên truyền tin Rạch Giá thông báo cho nhân viên truyền tin ở đây, không rõ ai là người ra lệnh, chỉ nói là bộ Tư Lệnh, còn tôi là người nhận lệnh thi hành.

            Tránh mặt anh trung sĩ hôm qua, tôi lại đẩy cho trung úy Đinh Văn Qui: “Ông gọi cho thiếu úy Chiếu biểu cho họ đi.”

Về mấy ông chủ xe đò.

Có những ông chủ xe đò tôi chưa từng trực diện, chỉ thấy ông ta xuất nhiện ở chỗ xe ông ta bị hỏng như ông chủ xe hàng hãng Tô Châu chẳng hạn, làm chủ bốn năm chiếc xe hàng gì đó, chạy đường nầy. Ông ta ăn mặc theo kiểu ca-bồi tếch-xa: Mũ nỉ rộng vành, quần jean, áo polo, kiếng Reyban, nghênh ngang chẳng thèm nhìn tới ai! Cái dù trên đầu ông ta to lắm. Chớ đụng vào mà mắc nạn. Những chủ xe khác thì thái độ bình thường. Dĩ nhiên, có những ông chủ xe đò “đặc biệt”, như ông Văn Công Võ chẳng hạn:

Ông ta còn trẻ, chưa tới 40 tuổi, quê xã Tân Hội (xã của Bảy Quẹo), nguyên là trung sĩ Cảnh Sát, trưởng ban căn cước của bộ Chỉ Huy tỉnh.

Một hôm, ông ta đi bệnh viện về, gặp tôi, ông ta nói:

– “Tui ở bệnh viện mới ra, bị xe đè nhằm.”

– “Ông bị căn cước đè chớ xe nào mà đè được ông!” Tôi nói đùa.

Khi ông ta còn làm trưởng ban căn cước, ông ta không khỏi bất mãn tôi.

            Khi tôi còn ở Kiên Tân, toán của ông về đó làm căn cước cho đồng bào của quận tôi. Quận nầy có 96 ngàn dân. Khi hồ sơ làm căn cước được hoàn tất, chỉ huy trưởng địa phương ký tên trên biên nhận tạm thời. Chỉ huy phó tỉnh sẽ ký sau, trên tờ căn cước chính.

            Buổi chiều, khi công việc của toán căn cước hoàn tất, tôi ghé lại ký biên nhận tạm. Tôi xem từng hồ sơ và ký tên trên biên nhận tạm cho những ai cư ngụ trong phạm vi quận của tôi. Tôi thấy có những hồ sơ ngụ ở các quận khác như Kiên Bình, Kiên An và cả quận Hiếu Lễ (Sát mật khu U-Minh của Việt Cộng). Tôi không ký những hồ sơ có địa chỉ ngoài quận. Trưởng ban căn cước liền gọi máy cho Đại úy Trịnh Ứng Hai, trưởng phòng Kỹ Thuật, từ Rạch Giá lái xe ra ký những hồ sơ nầy.

            Sợ người ta nghĩ rằng mình làm khó, tôi nói chuyện với thiếu úy Rớt, phó của tôi:

            – “Anh có nghĩ trong các hồ sơ căn cước, có hồ sơ giả không? Làm sao phát hiện được? Không phát hiện được, sao ký ẩu. Phải không?”

            Thiếu úy Rớt giải thích:

            – “Tui ở Cảnh Sát hơn chục năm nay, rành chuyện nầy hơn ông. Ai tên 40 tuổi thì quá tuổi quân dịch, khỏi đi lính. Vậy nên những người chưa tới 40 tuổi thì làm căn cước lớn tuổi.”

            – “Giá bao nhiêu?” Tôi hỏi.

            – “Bốn chục ngàn.” Thiếu úy Rớt nói.

            – “Nhiều người làm không?” Tôi lại hỏi.

            – “Thằng ấy mua đứt ông như không. Gây khó khăn cho nó, nó cho ông đi chỗ khác chơi, khỏi ngồi ở đây? Ông thấy không! Ông không ký biên nhận (tạm), nó cầm máy truyền tin gọi một tiếng, Trịnh Ứng Hai ra ngay. Anh trung sĩ ra lệnh cho ông đại úy thi hành. Buồn cười không?!” Thiếu úy Rớt lại giải thích.

            – “Còn ai làm căn cước giả nữa không?” Tôi lại hỏi.

            – “Không phải căn cước giả, căn cước thiệt, nhưng mắc tiền hơn.”

            Tôi hỏi liền:

            – “Anh nói sao tôi chưa hiểu. Ai?”

            – “Việt Cộng!” Thiếu úy Rớt trả lời, mặt xịu xuống, giải thích thêm:

            – “Những thằng tỉnh ủy, huyện ủy, ở trong bưng, muốn có căn cước để đi Saigon, Đà Lạt chơi thì có ngay. Bản lăn tay thật, địa chỉ giả, tên giả, quá tuổi quân dịch. Đi đường ai bắt?!”

            – “Không sợ bị dân chúng nhìn mặt?” Tôi lại hỏi.

            – “Cũng khó nhìn mặt. Tụi nó chừa râu, cạo râu, để tóc, làm cho khác đi. Với lại, tôi nói đi Saigon hay Huế là để tránh mặt đồng bào địa phương. Giả tỉ như Trần Bạch Đằng, quê Rạch Giá nầy nè, muốn có căn cước, dễ quá. Bà con nó lo tiền, bản lăn tay đưa vô rừng cho nó lăn, xong đem về, kèm theo hình để râu, để tóc. Ít bữa là có căn cước cho thằng chả đi Saigon chơi!” Thiếu úy Rớt vừa nói vừa cười.

            – “Tôi nhớ khi tôi còn học lớp nhứt, đọc “Nửa Bồ Xuơng Khô” của Vũ Anh Khanh, hình như trong tập 2 thì phải, có kể chuyện Trần Bạch Đằng vào Saigon, bị phát hiện chạy trối chết. Hồi đó chắc dễ hơn, chưa có giấy căn cước.” Tôi kể.

            – “Trên đó tụi nó ghê lắm, nhưng phe ta cũng nắm được đầu nhiều thằng. Ở đây dễ hơn. Có căn cước rồi, tụi nó ra Cần Thơ ăn cao lâu, coi cải lương, rồi … chơi bời; ai biết ai là ai. Có khi nó ngồi ngay trước mặt mình, mình cũng không biết.” Thiếu úy Rớt góp ý.

            Tôi cười, nói:

            – “Giả tỉ như thằng Ba Kiếm ra đây, ai biết nó là ai không? Hồ sơ trận liệt đâu có hình.”

            Sau nầy, khi trung tá Nguyễn Ngọc Thiều làm chỉ huy trưởng Cảnh Sát ở Kiên giang, Văn Công Võ bị đuổi khỏi chức trưởng ban, bị lập hồ sơ đưa ra tòa hay về bộ Tư Lệnh gì đó, tôi không nhớ chắc. Y được giải ngành, về dân sự, mua xe đò chạy đường Hà Tiên – Rạch Giá, chở hàng lậu. Cở nửa tháng trước khi y gặp tôi, tôi nghe báo cáo y bị xe của y đè. Xe chở hàng lậu trọng tải lớn quá, làm cho đường sá mau hư hỏng. Trời mưa, đất mềm, xe bị lún. Y cho con đội đẩy xe lên. Bất đồ, con đội bị lún, xe hạ thấp xuống, đè lên người y, may không chết. Y bảo là y bị xe đè. Tôi nói là y bị căn cước đè là do những sự việc như trên.

            Cũng một hôm, khoảng 2 giờ chiều, thiếu úy Kiệt vào văn phòng nói với tôi: “Đại úy ơi! Trung sĩ Âu Quân cảnh Tư pháp Hà Tiên muốn nhờ đại úy giúp đỡ.”

            – “Chuyện gì dzậy?” Tôi hỏi.

            – “Nó bị thằng cha trưởng ty quan thuế làm khó! Nó có chiếc ghe chở đường, nhân viên quan thuế cho qua nhưng trưởng ty không cho. Tiền bạc sao đó! Thằng Ấu than “chịu không nổi”. Nó muốn nhờ chỉ huy trưởng.” Thiếu úy Kiệt giải thích.

            – “Chi mà làm khó dữ vậy. Nhờ tui bằng cách nào, tui làm gì thằng cha trưởng ty quan thuế được?” Tôi hỏi.

            – “Làm sao cho thằng trưỏng ty vắng mặt ở đó. Nhân viên của chả cho ghe qua là xong.” Thiếu úy Kiệt giải thích.

            – “Cái đó tui làm được. Nhưng ông có ăn chịu gì với nó không? “Phần nào thôi nghe em!” Đòi cao quá, sinh chuyện, mất công. “Ăn khế trả vàng.” (2) Tôi cười nói.

            – “Không có đâu đại úy. Tui dân Nam bộ, “điệu đời chút chơi”. Nhậu là chính, nhậu một bữa là coi như ta mình biết nhau là được rồi.”

            – “Vậy thì ông nói tài xế Nuôi xuống mời ông trưởng ty lên văn phòng tôi, nói là tôi có chút chuyện muốn hỏi ý kiến ông ta. “Điệu hổ ly sơn.” Được chưa?” Tôi cười hỏi.

            Thiếu úy Kiệt cười hớn hở, nói:

            – “Ông người Huế mà chẳng giống ai, hèn chi quận trưởng khoái ông lắm!”

            Tôi tin ông Kiệt nói thiệt tình, bản tính ông ta biết sợ cấp trên, nhưng không biết nịnh bao giờ.

            Thế rồi tôi nói chuyện với ông trưởng ty vui quá, gần ba giờ đồng hồ mới xong. Khi tôi tiễn ông ta ra về, trời bắt đầu tối. Tôi vừa trở lại văn phòng thì thiếu úy Kiêt xuất hiện, nói:

            – “Trung sĩ Âu chờ đại úy quá trời, chờ không được, nó theo ghe đi Rạch Giá rồi. Nó gởi hai chục ngàn biếu ông.”

            – “Tui giúp nó chớ có đòi tiền đâu! Thấy ghét thằng chả trưởng ty làm khó người ta thì tôi chỏi lại chơi.”

            Thiếu úy Kiệt cười:

            – “Được rồi! Tui biết mà! Nhưng kỳ nầy chỉ huy trưởng khỏi lo chạy tiền. Có công văn thông báo tuần sau phái đoàn thanh tra tới. Đại úy có tiền đãi phái đoàn ăn nhà hàng.”

            Các ông chức cao quyền lớn ở Saigon, Cần Thơ không thể nào biết tới cái gian khổ, cay đắng của người dân, thân nhân binh lính, hạ sĩ quan, sĩ quan ở đây. Mọi người vì quá khó khăn phải đi buôn lậu, lời lãi không bao nhiêu mà gian khổ quá trời, kêu trời cũng không thấu. Chuyện xảy ra hằng ngày, nhắm mắt lại để khỏi nhìn mà được sao?!

hoànglonghải

            (1) Ba Kiếm, bí thư huyện Châu Thành B, Rạch Giá, gốc Bắc vào Nam thời kỳ chiến tranh Đông Dương lần thứ nhứt (1945-54). Có người nói y là bố đẻ Nguyễn Tấn Dũng. Hồ sơ tình báo không ghi nhận hoạt động gì của y tại địa phương.

            (2) “Ăn khế trả vàng. May túi ba gang mà đựng.” là chuyện cổ tích. Ngày xưa, có hai anh em nhà kia, cha mẹ chết cả. Gia tài cha mẹ để lại, người anh giành hết, chỉ cho người em cây khế. Một năm, tới mùa khế chín, có con chim đại bàng đến ăn khế. Thấy vậy, người em than:

            – “Đại bàng ơi! Tui chỉ có cây khế. Đại bàng ăn hết, tui lấy chi bán mua gạo.”

            Nghe than như vậy, chim đại bàng nói:

            – “Ăn khế trả vàng, may túi ba gang mà đựng.”

            Hôm sau, chim đại bàng tới, bảo người em cầm cái túi ba gang, leo lên ngồi trên lưng chim đại bàng.

            Chim đại bàng bay tới một ngọn núi, toàn là vàng. Chim đại bàng bảo người em lượm vàng bỏ vài túi cho đầy, rồi leo lên lưng chim đại bàng chở về.

            Nhờ vậy, người em trở nên giàu có. Người anh tò mò, hỏi em. Tình thực, người em có sao kể lại vậy.

            Lòng tham nổi lên, người anh bèn giao hết nhà cửa cho em, chỉ lấy cây khế mà thôi.

            Thế rồi, chim đại bàng lại đến, người anh leo lên lưng chim bay tới núi vàng. Thay vì may túi ba gang, vì tham, người anh may túi sáu gang. Khi về, bay ngang biển, nặng quá, chim đại bàng bay không nổi, bèn nghiêng cánh. Người anh bị rớt xuống biển, chết mất. Tham thì thâm là vậy.

            “Ăn khế trả vàng” là câu tôi thường nhắc chừng thuộc cấp của tôi. Ăn hối lộ của người dân một, cơ quan an ninh hoặc thanh tra tới điều tra, lại phải chạy chọt, nhân viên an ninh lại ăn gấp đôi, có khi gấp ba mới thoát khỏi tội. Đúng là “Ăn khế trả vàng.” Tôi thường nói: “An ninh, thanh tra là cơ quan tham nhũng bậc hai. Chúng ta ăn bậc một, họ ăn bậc hai, chạy tiền chết luôn. “Ăn khế trả vàng.”/

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

4 Comments on hoànglonghải – “Hương Tràm Trà Tiên” Bài 34: Nghèo không chỉ là khổ mà…Cay Đắng

  1. thiet la.. cach viet van cua Bac vua gian di vua than mat no loi cuon lam sao day. Ngay nao toi cung phai vao Van Tuyen de cho xem bai moi. Cam on tac gia rat nhieu.
    ndphong

    Like

  2. Vừa chửi ông nầy Ngu xong lại khen , thật hết biết

    Like

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: