Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – “Hương Tràm Trà Tiên” Bài 27: Dinh Điền Cái Sắn

1Bắc Nam Một Nhà

            Khi thành lập dinh điền Cái Sắn, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã chứng tỏ ông là người khôn ngoan và tế nhị, giữ gìn được hòa khí, giúp đỡ lẫn nhau giữa người miền Nam địa phương và người Bắc di cư.

            Dọc theo trục LTL 8-A, chính quyền VNCH bấy giờ cho xây nhiều chợ ở các đầu kinh A, B, kinh Tân Hiệp, kinh 8, kinh 9, v.v… Chung quanh chợ và hai bên trục lộ là phố xá và nhà ở dân chúng. Những khu vực nầy, người Nam, người Bắc sống chung, kề nhau, buôn bán với nhau, không mấy khi có việc gì mâu thuẫn xảy ra. Nhìn chung, ngoại trừ khu vực chợ có nhiều người Bắc, còn các khu phố và khu nhà ở thì người Nam đông hơn. Người Bắc có nhiều người giỏi và ưa buôn bán nên họ từ trong kinh ra hoặc là người Bắc di cư từ Saigon hay các tỉnh về mở tiệm ăn, buôn bán.

             Về khu dinh điền, việc chia đất cho dân di cư thì như tôi đã trình bày trên, mỗi gia đình được cấp một khu đất bề ngang 30mét, bề sâu 1km, tính ra là ba mẫu Tây. Tuy nhiên, kể từ kinh Cái Sắn, kinh chạy dọc theo trục LTL 8-A vào sâu khoảng vài trăm mét thì đặc biệt dành cho người miền Nam, những ai muốn làm ruộng. Thành thử, cứ mỗi kinh ngang, (kinh 1 kinh 2, kinh A, kinh B, v.v…), phía ngoài là khu đất của dân Nam, phía trong mới là dân di cư. Do đó mới có thành ngữ “Người từ trong kinh ra…” tức là người Bắc di cư.

            Dần dần, một số người Nam bỏ làm ruộng. Họ bán lại cho những người Bắc giàu có lên, muốn mua thêm đất ruộng. Người Nam bán ruộng dời qua sống bên cạnh trục lộ hay tìm những vùng bị hoang hóa mở đất. Kể ra, tại những vùng nầy họ làm ruộng thoải mái hơn, có bao nhiêu sức làm bấy nhiêu, có thể hàng trăm mẫu, không bị hạn chế ba mẫu như ở dinh điền.

            Trong sinh hoạt hằng ngày, gặp người dân ở vùng Nam Bắc lẫn lộn, cũng khó phân biệt ai là người Bắc, người Nam, nếu không nghe giọng nói, ngoại trừ mấy ông chủ điền, thường mặc pijama, áo hai túi, túi trong và túi ngoài như tôi mô tả ông Bảy Quẹo, xã trưởng xã Tân Hội. Thậm chí, nhiều khi, tôi còn thấy một số người Bắc giả giọng Nam cho tiện việc giao tiếp hằng ngày. Họ nói tiếng Nam chưa rành, còn ngọng. Người Nam thì chẳng giả giọng Bắc bao giờ.

            Không phải người Nam không khôn khéo đâu! Biết các linh mục là những người có thế lực, nhiều người Nam quan hệ chặt chẽ với các linh mục, mặc dù họ không phải là người theo đạo Thiên Chúa, để khỏi bị chính quyền làm khó dễ, hoặc để dễ làm ăn, buôn bán. Chẳng hạn, tại Tân Hiệp, ông Vạn Lợi. Ông ta nguyên là gốc ở quận Lấp Vò, tỉnh Sadec, qua làm ăn ở đây từ khi dinh điền mới thành lập, mở tiệm bán đồ sắt cũ, từ cái đinh, cái ốc, cái búa, cái kềm cũ, cuộn kẽm gai phế liệu. Người dân di cư tiết kiệm, mua đồ cũ về sửa lại dùng, rẻ hơn mua đồ mới. Nhờ vậy mà ông ta giàu lên. Con cái, sau khi đậu tú tài, đều cho lên học đại học ở Saigon.

            Biết linh mục Nguyễn Bá Lộc (lm NBL) là người có thế lực bậc nhất ở dinh điền cái Sắn, ông ta bắt giò linh mục nầy. Cứ mỗi lần linh mục NBL từ trong kinh 1 ra, bao giờ cũng ghé lại nhà ông, nghỉ chân, uống nước trà, chuyện vãn với vợ chồng ông rất vui vẻ. Vì vậy, mặc dù Ủy Ban Phụng Hoàng tỉnh Sadec có chuyển công văn đến Ủy Ban Phụng Hoàng quận Kiên Tân, cho biết ông Vạn Lợi, nguyên hồi kháng chiến chống Pháp, là cán bộ Việt Minh. Tuy nhiên, ngại động chạm đến Lm NBL, thiếu tá Huỳnh Đầm Sắn, quận trưởng quận Kiên Tân, Chủ Tịch UB Phụng Hoàng Quận Kiên Tân, yêu cầu bỏ qua bản tin nầy. Về Lm NBL, tôi sẽ nói thêm vài việc nữa ở phần sau.

            Tại các cơ quan chính quyền địa phương, người Bắc người Nam làm việc chung với nhau. Họ cũng không phân biệt người có đạo Thiên Chúa hay không. Xã Trưởng, Trưởng Cuộc Cảnh Sát, Trưởng Ấp, người Nam hay người Bắc không phân biệt. Tuy nhiên, dù là người miền nào việc được lòng các linh mục địa phương là cần thiết. Viên chức xã ấp, Cảnh Sát, cán bộ Xây Dựng Nông Thôn, phần đông là người Bắc. Ngại đi lính, người ta xin vào làm ở các cơ quan nầy cho gần nhà và đỡ nguy hiểm. Người Bắc vốn lo xa và tính toán kỹ hơn.

            Do những quan hệ trong công việc cũng như làm ăn, buôn bán, v.v… những bữa nhậu chung là cần thiết và thường xảy ra. Gout rượu của dân nhậu ở đây cũng như ở Rạch Giá là Hennessy. Giàu thì uống Hennesssy cổ đen, ít tiền chút đỉnh thì uống Hennessy cổ vàng, bia 33. Ít khi họ uống rượu trắng của ta (rượu đế).  Rất nhiều khi họ uống rượu lễ (Rượu vang của các nhà thờ), rượu nếp than và rượu chuối (Chuối lên men). Món nhậu thì người dân trong kinh (Dân Bắc chính cống) thường dùng thịt chó. Vùng xôi đậu Nam Bắc thì nhậu thịt rắn, thịt gà và nhiều nhất là vịt ta hay vịt Xiêm, vịt Xiêm lai, chuột đồng. Họ không ăn thịt cóc như người Miên hay một số dân Gò Công.

            Theo phong tục chung thì người Bắc ít ưa thịt rắn, người Nam ít dùng tiết canh. Về Cái Sắn, người ta thấy một sự pha trộn khôi hài. Bây giờ, người Bắc nấu cháo rắn thì “hết sẩy”, và người Nam làm tiết canh, thường là tiết canh vịt không ai bằng. Có nghĩa là vì những bữa nhậu chung, họ họp nhau lại nấu nướng, học hỏi nghề của nhau, và “cướp” nghề của nhau một cách tài tình.

            Tôi từng thấy vài bà già người Nam bán rắn còn sống ở chợ. Dĩ nhiên đó là loài rắn độc. Trong cái lồng sắt, mấy con rắn nằm khoanh tròn, lim dim ngủ. Có người đến mua rắn, đưa tay chỉ chỏ, chọn con nầy, con kia. Xong, bà già mở nắp lồng sắt. Mấy con rắn ngóc đầu lên. Bà già đưa tay nắm lấy cổ con rắn khách chọn, lôi cổ nó ra. Tay kia, bà cầm một cây kim may loại lớn, có sẵn sợi chỉ dài. Bà già xỏ xim ngang qua mỏ con rắn, may lại, làm cho con rắn không mở miệng ra được, không thể cắn ai. Con rắn bị may quăn mình lại, quấn quanh tay bà già. Xong, bà ta bỏ con rắn vào một cái giỏ tre nhỏ, đậy nắp lại, đưa cho người mua và tính tiền. Nếu là người không quen, sẽ thấy khiếp! Cả một bầy rắn ngóc đầu lên khi bà già thọc tay vào. Vậy mà không con nào cắn bà ta? Tôi cũng chưa từng nghe ai đi bán rắn mà bị rắn cắn chết. Người ta nói họ có bùa?!

            Việc người bắt rắn hay bán rắn có bùa chỉ là điều nghe nói. Họ là người Nam hay người Việt lai Miên, người Tàu lai Miên,  (Đầu gà đít vịt). Những người tôi quen biết, chưa ai thấy cái bùa đó bao giờ nhưng người ta cũng tin có bùa. Miền Tây là vùng được gọi là  Khmer Krom, các chúa Nguyễn cho dân vỡ hoang, khai thác rồng lúa, v.v…. Ở đây có người Miên, xứ Miên là xứ sở của bùa phép, nổi tiếng nhứt là bùa cà-tha.

            Thật ra, miền Tây là vùng đồng lầy nên có rất nhiều loại bò sát: Rắn, rùa, cần đước, trăn, lươn, v.v… Tới “mùa nước nổi”, rắn không ở hang được. Chúng bò lên cây, nhất là loại rắn ri-ta, bò lên những cây cao. Người ta đi bắt rắn không bằng bùa mà bằng khoèo. Cây khoèo là cây sào dài, đầu có móc sắt. Móc sắt kẹp vào cổ rắn, khiến con rắn không thoát được. Khoèo được con rắn, người ta bỏ vào giỏ sắt hay giỏ tre. Định cư lâu ở miền Nam, người Bắc di cư bắt rắn bằng khoèo cũng rất tài tình.

            Ở dinh điền Cái Sắn tìm không ra Việt Cộng. Như tôi đã trình bày, bí thư huyện Châu Thành B là Ba Kiếm. Y chỉ có tên trong hồ sơ trận liệt, còn y thì chết mất đất từ hồi nào, không tin tức, không ai hay biết gì về y; hồ sơ không cập nhật được.

Người Nam không theo Việt Cộng, cũng không ưa Việt Cộng. Người ta chỉ muốn yên ổn làm ăn nên ngán Việt Cộng vì Việt Cộng chỉ là bọn… quấy rối!

hoànglonghải

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: