Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – “Hương Tràm Trà Tiên” Bài 26: “Phát triển một chiều…”

1So với các vùng quê khác ở Miền Tây Nam Bộ, đời sống dân vùng Cái Sắn cao hơn thấy rõ, từ cách sinh hoạt, ngôn ngữ, tôn giáo v.v… tuy bên cạnh đó, có những sự việc, những nhân vật có những hành vi khá đặc biệt, làm cho người dân bất mãn không ít.

            Sở dĩ họ có đời sống cao là nhờ ba yếu tố: Xã hội, tôn giáo, giáo dục.

            Về miền Tây, ở những làng mới hình thành trong vài ba trăm năm trở lại đây, vì dân làng là dân lưu tán mới tụ lại, phong tục tập quán chưa định hình, hoàn chỉnh, đó là chưa nói tới cách sinh hoạt và tư tưởng còn hủ lậu, mê tín dị đoan nên có nhiều điều xấu xảy ra.

            Cái Sắn thì khác. Dân Nam địa phương, có tính ưa cờ bạc là điều đáng chê trách. Tuy nhiên, vùng Cái Sắn trước kia cũng không phải là vùng hoang dã, dân cư thưa thớt, mà lại là vùng làng xã từng hình thành, từng tiếp xúc với hoàn cảnh sống văn hóa cao hơn, nhất là đạo Phật của dân chúng vùng Long Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá. Dân chúng thờ phượng ông bà, tổ tiên, phật thánh và biết “tu hiền” (Tiếng thường dùng ở địa phương) nên không có gì gọi là hủ lậu. Bên cạnh đó, người di cư từ Bắc vào Nam, trong cuộc hành trình trốn chạy Cộng Sản, họ mang theo cả phong tục, tập quán, lề thói, do tổ tiên xây dựng lâu đời, nên trong đời sống tinh thần, họ có nhiều điểm đáng ca ngợi.

            Điều đáng lưu ý ở đây là người Bắc biết trọng sự học hơn nên về mặt học vấn, nhìn chung con cái họ có nhiều người thành đạt.

            Khi thành lập khu dinh điền chính quyền đã không quên mở trường để cho trẻ em được cắp sách đi học. Ban đầu, trường tiểu học được mở ra ở quận, ở xã. Trong mỗi kinh, tương đương với mỗi ấp chỉ có trường sơ cấp.

            Nhờ dân chúng trong khu dinh điền biết trọng sự học, số lượng học sinh càng ngày càng đông, trường ốc không đủ, các linh mục ở mỗi kinh mở thêm trường tư dạy học. Công việc tiện lợi cả hai mặt. Học sinh không phải đi xa, thường bằng ghe xuồng nguy hiểm, nhà chung thâu học phí. Trẻ em học tiểu học ngay tại kinh, lên trung học mới học ở trường quận hay trường tư ở ngoài trục lộ.

Đến đầu thập niên 1970, trường trung học quận đã mở đến cấp ba (Đệ nhị cấp), nhưng chưa có lớp 12, và trong mỗi kinh, như đã nói, mỗi kinh tương đương với mỗi ấp, đã có trường trung học.

Trường trung học lâu đời nhất có lẽ là “trường của cha Uyển”, – Linh mục Nguyễn Thượng Uyển ở kinh 6 Rọc Bà Ke, bên cạnh trục lộ Long Xuyên – Rạch Giá. Những học sinh cũ của trường nầy, trước 1975, đã có người tốt nghiệp đại học, hoặc vào quân đội, lon lá lên tới cấp tá, một số là phi công. Sân bay ở quận, nhiều khi bỗng nhiên có máy bay trực thăng đáp xuống: Phi công về thăm nhà. Trước khi đáp xuống, họ cho máy bay lượn quanh nhà. Có nghĩa là họ sắp về thăm. Người nhà đem xuồng ra quận lỵ đón họ về nhà ở trong kinh.

Về giáo dục, việc tranh chấp tôi phải phân xử là giữa một người bạn học cũ của tôi, anh Khôi. Tôi biết anh ấy khi anh vào Đại Học Sư Phạm Huế, ban Cấp Tốc (1 năm học) năm 1958. Không rõ do đâu, anh ta được bổ nhiệm về làm hiệu trưởng trường Trung Học Đệ Nhị Cấp Kiên Tân. Một số giáo sư ở đây, nguyên là học sinh cũ của trường, nay tốt nghiệp đại học sư phạm, về dạy trường cũ, không chịu để cho một giáo sư trung học đệ nhất cấp (Sư phạm một năm) làm hiệu trưởng một trường cấp ba. Đó chỉ là lý do họ đưa ra, mục đích là tranh giành chức hiệu trưởng. Mặc dù ngạch trật là điều thiết yếu, nhưng trong ngành giáo dục, nhiều khi người ta trọng những vị lớn tuổi, tuy ngạch trật nhỏ hơn nhưng tuổi tác ngang hàng với thầy dạy của những người trẻ. Có lẽ đó là lý do người bạn tôi được cử giữ chức vụ hiệu trưởng trường nầy. Tuy nhiên, người bạn tôi tốt nghiệp ở Huế, mấy năm trước dạy học ở miền Trung, không phải là thầy dạy trực tiếp của họ nên họ muốn “đảo chánh” ông.

Người Nam, đất rộng dân thưa, đời sống dễ dàng, ít chăm lo tới việc học của con cái. Đến khi người Nam người Bắc ở chung, chịu ảnh hưởng lẫn nhau, xã hội càng ngày càng phát triển, học vấn trở thành nhu cầu cần thiết, lần lần ai ai cũng thấy không thể lơ là việc học, phải lo chăm sóc việc học của chúng. Do đó, nhìn chung, việc học ở vùng nầy phát triển nhanh, học sinh các cấp ngày càng đông, trường học ngày càng nhiều, nhất là trường tư, vì chính phủ không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu giáo dục của dân địa phương.

Một điều không hay là các trường học của các cha ở trong kinh là các “ổ trốn quân dịch”. Nhiều thanh niên, không thấy cái trách nhiệm của mình đối với đồng bào, tổ quốc, lại hèn nhát nên thường không thi hành lệnh động viên. Không có công ăn việc làm, họ xin dạy ở các trường của các cha với giá lương rẻ mạt. Các cha thì ham rẻ, vả lại họ là con chiên trong họ đạo của các cha, các cha khó từ chối khi họ xin việc. Thứ nữa, trả lương cho thầy giáo rẻ thì thu học phí rẻ, học trò dễ theo học, chưa kể nhờ rẻ thì sĩ số càng thêm đông.

Một hôm, cuộc cảnh sát xã Tân Hiệp bắt một thanh niên tội trốn quân dịch. Anh chàng nầy gặp xui. Thông thường, thanh niên khi trốn quân dịch, họ chỉ quanh quẩn ở trong kinh. Các cơ quan chính quyền, kể cả Cảnh Sát, sợ đụng chạm với các cha nên ít khi “hành quân cảnh sát” trong đó. Từ đầu tới cuối kinh, hầu hết là người Bắc di cư cư ngụ, làm gì có Việt Cộng mà hành quân bắt giữ. Lợi dụng tình trạng đó, mấy ông trốn quân dịch cứ ở riết trong kinh, không ló mặt ra khỏi xã, khỏi ấp là an toàn. Anh chàng bị bắt nói trên vì ham chơi, đi theo một con nhỏ nào đó ra chợ Tân Hiệp uống cà phê.

Cha Toàn, chánh xứ họ đạo kinh 3, kiêm hiệu trưởng trường trung học kinh 3 của cha, ra gặp tôi xin trả tự do cho người bị bắt. Anh ta cũng là thầy giáo dạy ở trường của cha Toàn. Để tránh phiền phức, tôi đã cho giải giao anh ta về tiểu khu Kiên Giang. Cha Toàn giận tôi, ông ta bảo: “Thầy giáo của tôi đấy, ông làm sao thì làm.” Tôi thấy bực mình. Tôi chưa truy tố cha về tội “tán trợ bất phục tòng”. Anh ta trốn quân dịch, sao cha dám cho anh ta dạy học ở trường của cha. Vậy mà ông ta còn dọa tôi!?

Có điều đáng buồn, ra khỏi khu vực Dinh Điền Cái Sắn, tới xã Mông Thọ sát bên cạnh, việc giáo dục không được phát triển và chăm sóc như vậy.

Về tôn giáo, tình hình ở đây khá phức tạp. Đối với đạo Hòa Hảo, việc tu tập của quần chúng tín hữu không có gì đáng nói nhưng với hàng “chức sắc” là cả một vấn đề rắc rối. Tại quận lỵ, tín đồ Hòa Hảo có một ngôi chùa, dân chúng sinh hoạt bình thường, lui tới đông đảo. Những ngày vía lễ, chùa khói hương nghi ngút.

Nhưng chức sắc thì chia làm ba phe, phe nào cũng muốn giành ngôi chùa cho mình. Ba phe đó là: Phe ông Lương Trọng Tường, phe ông Lê Quang Liêm, phe ông Lê Trường Sanh. Mấy ông này lập phe ở trung ương của họ, – ở Long Xuyên – Ở Kiên Tân là những người theo phe của ba ông ấy, nổi tiếng nhất là ông Lê Minh Châu, người theo phe ông Lương Trọng Tường.

Lê Minh Châu có lần tụ tập phe nhóm của ông đông đảo, rồi “chiếm chùa.” Sợ các phe kia tới chiếm lại, ông cho đem lựu đạn vào chùa “phòng thủ”. Cũng may, việc quăng lựu đạn, giết nhau chưa xảy ra. Các phe kia bị lấy mất chùa, bèn thưa kiện lung tung. Nhờ thiếu tá quận trưởng Huỳnh Đầm Sắn cũng là người theo đạo Hòa Hảo nên ông mời mọi người vào quận đường để dàn xếp. Ba phe thỏa thuận thành lập một “Ban Tế tự”, coi việc thờ phượng trong chùa. Quyền lợi ba phe ngang nhau, không phe nào được chiếm chùa.

Tuy vậy, phe Lê Minh Châu thỉnh thoảng lại chiếm chùa để cho bọn trốn quân dịch vào ở trong đó. Dĩ nhiên, tấn công hay lục soát chùa là một vấn đề hết sức phức tạp và dễ bị thưa gởi, cấp trên khiển trách, nên không ai tính tới việc đem lực lượng an ninh kiểm soát chùa.

Trong chùa không có giếng nước nên các thanh niên trốn trong chùa phải ra khỏi chùa, băng qua đường cái để xuống kinh lấy nước hoặc tắm rửa. Các Cảnh Sát Đặc Biệt của tôi mặc đồ dân sự, núp ngoài chùa. Tên trốn quân dịch nào ra khỏi chùa đều bị tóm cổ. Bọn trẻ sợ hãi bèn bỏ đi. Việc chiếm chùa của Lê Minh Châu giải quyết xong.

Khoảng đầu năm 1974, Hai Ngoán, cánh tay mặt của Lương Trọng Tường thành lập cái gọi là “Tổng Đoàn Bảo An”, là một lực lượng quân sự và chính trị để chống Cộng Sản nhưng không dưới sự chỉ huy, lãnh đạo của chính phủ trung ương. Người ta đồn phía sau việc thành lập lực lượng nầy có “bàn tay lông lá” – Cũng chỉ là lời đồn đãi.

Vài đơn vị Địa Phương Quân gốc giáo phái Hòa Hảo thuộc tiểu khu Long Xuyên, tăng cường hoạt động ở các tỉnh bên cạnh, có lần “đụng trận” báo cáo tổn thất 100%. Thực ra, vũ khí và máy móc truyền tin của các đại đội nầy lén đưa về Long Xuyên để trang bị cho các lực lượng thuộc Tổng Đoàn Bảo An.

Tại Kiên Tân, Lê Minh Châu tự ý dựng ngay một tấm bảng trước cổng chùa viết là “Quận Đoàn Bảo An Kiên Tân”. Chính quyền phải khuyến khích các phe phái khác, căn cứ vào bản cam kết việc thành lập ban tế tự để dẹp tấm bảng nầy.

Mặc dù có sự chia phe phái như vậy, tín đồ Hòa Hảo họ không theo hẳn phe phái nào.

Những người trước kia từng tham gia lực lượng quân đội Hòa Hảo của Ba Cụt, Năm Lửa… mỗi năm họ gặp nhau nhiều lần tại trụ sở Dân Xã Đảng, một ngôi nhà lá nhỏ, đơn sơ, nằm sâu trong một con hẽm kế quận lỵ, để làm lễ giỗ kỵ các vị tướng tá cũ của họ, nay đã qua đời như tướng Ba Cụt, Năm Lửa, Trương Lương Thiện, v.v….

Họ dựng tại trụ sở một tấm bảng lớn bằng cở tấm bảng đen ở lớp học, trên đó họ chưng đủ hình các vị chỉ huy cũ của họ trước kia. Bây giờ, hàng năm, họ họp mặt tưởng niệm cấp chỉ huy chứ chẳng có hoạt động quân sự, chính trị nào, không gây phiền nhiễu cho chính quyền. Nhìn họ, những người một thời cầm súng chiến đấu trong lực lượng giáo phái, người ta thấy họ chẳng khác gì những người dân chất phác bình thường của đất Nam Bộ, không một chút gì gọi là “dữ dằn” như báo chí thời Ngô Đình Diệm tuyên truyền về họ. Nói về lý tưởng và công trạng chiến đấu chống thực dân Pháp, chống Việt Minh, họ là những người đáng kính, đáng yêu.

Tôi không rõ việc bầu bán dân biểu thời Đệ Nhứt Cộng Hòa ra sao, nhưng thời Đệ Nhị Cộng Hòa, trước cũng như sau khi trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm tổng thống thì có vẽ tự do đến … lung tung.

Trước hết xin nói tới sự ngưỡng mộ của dân chúng trong khu dinh điền đối với cố tổng thống Ngô Đình Diệm. Trong số họ, không ít người tin “Ngô Tổng Thống còn sống”, cho rằng nhứt định “Ngài không chết” như dân chúng ở Tam Tòa (Đà Nẵng) đã tin chắc như thế hồi mới đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963. Tuy nhiên, lòng tôn kính cua họ đối với Tổng thống Ngô Đình Diệm thì còn sâu sắc lắm. Điều đó rất dễ hiểu. Dân chúng trong khu dinh điền bây giờ sung túc, khá giả, con cái được học hành đàng hoàng, .v.v… Công lao đó là của ai, nếu không phải là Tổng thống Ngô Đình Diệm? Ông đề ra chương trình Dinh Điền, Khu Trù Mật, đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng nó, giúp đỡ và giải quyết những khó khăn cho Dinh Điền, lại thường đích thân tới thăm viếng, khuyến khích dân chúng trong Dinh Điền.

Người ta có thể thấy việc “Nhớ ơn Ngô Tổng Thống” trong việc trồng hoa vạn thọ. Không hiểu do đâu, bỗng người ta đồn với nhau rằng Ngô Tổng Thống rất thích hoa vạn thọ. Có phải tổng thống thích câu biểu ngữ “Ngô Tổng Thống Muôn Năm”. Vạn thọ cũng có nghĩa là muôn năm. Thời ông Bảo Đại còn làm vua, – làm vua chớ không phải làm quốc trưởng – nhân một dịp “tứ tuần đại khánh” vua hay thái hậu gì đó, bọn học trò lớp đồng ấu chúng tôi được phát quà và tập nói câu “Vạn thọ Vô Cương”. Nghe câu đó, cậu (cha) tôi nói đùa là “Vạn Thọ Vô Cương: Trong xương ngoài nạc”. Vì câu chuyện cũ đó nên tôi bỗng chú ý thấy dân chúng trong kinh, trong sân nhà thờ, nhứt là nhà thờ linh mục Nguyễn Bá Lộc, kinh 1 Cái Sắn, trồng nhiều hoa vạn thọ. Có phải người ta trồng loài hoa nầy để “tưởng nhớ Ngô Tổng thống”? Tổng thống đã qua đời, nhưng hoa vạn thọ thì vẫn còn đó!

Không những hoa vạn thọ còn ngoài sân mà ngay trong phòng khách của cha Lộc. Ở đó, còn có một bức hình rất lớn, lồng kính, treo ngay chính giữa phòng. Hình màu, vẽ lại từ một bức hình chụp, chân dung Tổng thống Ngô Đình Diệm. Tấm hình vẽ đẹp mà tổng thống, khi chụp bức hình nầy cũng còn trẻ và đẹp trai.

Lần đầu tiên thấy bức hình nầy, tôi nhớ lại một vài ngày sau khi đảo chánh lật đổ và giết anh em Tổng thống Diệm, Hội đồng Quân nhân Cách Mạng của tướng Dương Văn Minh ra lệnh hạ hết hình ảnh, tượng đài tổng thống Ngô Đình Diệm ở công viên, trong công sở và ngay cả tại tư gia.

Hình như lệnh cấm đó không “phê” (effet) gì tới cứ địa của cha Lộc. Không những thế, tôi còn thấy cha chưng mấy bức hình ông chụp chung với hai ông Tướng Thiệu, Kỳ khi mấy ông nầy “bay” xuống Cái Sắn vận động tranh cử. Hình chụp cha Lộc đứng giữa. Hai ông tướng, một ông là Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, một ông thì Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương, ông nào cũng mặc đồ lính, lon lá đầy mình đeo sao tùm lum, (ông Kỳ mặc đồ bay), cười toe toét khi đứng bên cạnh cha Lộc. Đó là “Những nụ cười kiếm phiếu.”

Xin nhớ rằng đối với đồng bào trong kinh, và cả những đồng bào gốc miền Nam, không phải dân di cư, sống ở đầu kinh (1) hay dọc theo trục lộ, không phải tín đồ đạo Thiên Chúa, họ cũng kính trọng các cha, nói chung, và bỏ phiếu cho ai nếu cha yêu cầu, vận động cho người ấy, giống như con chiên các cha trong kinh vậy, nhứt là cha Lộc, người có uy tín lớn ở Kiên Tân, và thường hay giảng ở nhà thờ, có kèm thêm phần “phụ diễn” nên bỏ phiếu cho ai khi có bầu bán.

Thông thường, người đắc cử thường là con chiên của cha.

Khi chế độ Đệ Nhị Cộng Hòa mới hình thành, bầu cử tổng thống, nghị sĩ, dân biểu, v.v… Hồi đó tôi chưa về Cái Sắn nên không biết trong các buổi lễ vào thứ bảy, chủ nhựt, mấy ông cha, sau khi giảng kinh, có “phụ diễn” phần bỏ phiếu cho ai hay không: Liên danh 9 (Thiệu Kỳ), hay Phan Khắc Sửu, Nguyễn Đình Quát… Về thượng viện thì bầu cho liên danh Sư Tử Cầm Bút, Bông Sen hay Bông Huệ… Nhưng ngay từ đó thì người đắc cử dân biểu ở đây là ông Mại, con chiên của cha Lộc nhà ở đầu kinh 2.

Thế rồi tới cuộc bầu cử năm 1971, ông Nguyễn Tấn Đời, ông chủ Thần Tài Tín Nghĩa Ngân Hàng thay chỗ ông Mại.

Sao kỳ vậy?

Có gì kỳ đâu!

Ông Nguyễn Tấn Đời đâu phải là tín đồ đạo Thiên Chúa như thông thường những người đắc cử ở đây. Ông Đời cũng không phải là dân địa phương. Hỏi thêm nữa, cha Lộc vận động cho ông Đời ghê lắm, bỏ nhiều công sức cho ông Đời đắc cử.

Nếu không có cha Lộc, dân chúng, nhất là đồng bào trong kinh biết ông Đời là ai! Họ làm ăn khá giả, có tiền thì… mua vàng đem cất, chẳng thèm biết ngân hàng là cái gì thì làm sao biết Tín Nghĩa Ngân Hàng hay ông Thần Tài Tín Nghĩa. Trong chiều hướng đó, chắc chắn đồng bào không biết ông Đời là cha căng chú kiết nào để mà bầu ông ta làm đại biểu cho họ ở quốc hội.

Tình cờ, một hôm đi công tác ngang nhà ông Mại, tôi vào thăm ông ta. Lúc ấy tôi vẫn không biết tại sao ông Mại, cựu dân biểu, tranh cử lại thua ông Đời, người không phải là dân địa phương.

Ông Mại không có một lời than phiền cha Lộc, chỉ nói với tôi một câu: “Thôi đừng nói tới cha Lộc nữa.” Tôi nghĩ ông ta oán cha Lộc lắm. Có gì đâu: “Nén bạc đâm toạc tờ giấy” như tuc ngữ thường nói vậy thôi! Nhưng tôi biết một việc khá quan trọng: Lúc ấy cha Lộc đang xây lại nhà thờ kinh 1 của cha. Nhà thờ rất lớn. Dĩ nhiên, cha cần phải có tiền!

hoànglonghải

(1) Cách phân chia đất ở dinh điền như sau: Phía đầu mỗi kinh, chỗ “dàm” (ngã ba)  nối liền với kinh Long Xuyên – Rạch Giá, đi sâu vào khoảng nửa Km thì ưu tiên dành cho người địa phương, người Miền Nam. Sau phần đất ưu tiên dành cho người miền Nam, đi sâu vào giữa tới cuối kinh là khu dành cho người di cư. Dọc theo trục lộ xe hơi, đất của ai nấy xử dụng, việc mua bán đất ở khu vực nầy được tự do.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: