Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – Thác cái mồ

1Tục ngữ nói “Sống cái nhà, thác cái mồ”. Khi còn sống, ai ai người ta cũng phải lo cho mình có cái nhà mà ở. Trước hết là nhà của mình làm ra, xây dựng nên. Nếu không sắm được nhà, người ta mới ở cư xá, nhà thuê, v.v….

Về chuyện “cái nhà”, tôi có nói trong một bài trước đây. Người bình thường thì mong có nơi che mưa đụt nắng, giàu có thì “nhà cao cửa rộng”, “năm bảy tầng lầu”. Nhà ông Phiêu là nhà đức nhà xây, cao mấy từng lầu, chứ không “phiêu” như nhà tranh nhà lá, nay còn mai cháy như của người dân đen. Bà Bình thì có những 10 ngôi nhà lầu, cái thì ở, cái cho thuê. Nhà của họ có được, cũng là nhờ “nhân dân”, nhờ “Mênh mông tình dân”, như tên một cuốn sách của ông Phiêu.

Trước khi chết, người ta cũng mong có ngôi mộ đàng hoàng, “mồ yên mả đẹp”, như tục ngữ. Việt Cộng thì ưa có ngôi mộ “hoành tráng” hay như người giàu có ngày xưa thì ngôi mộ “huy hoàng tráng lệ”. Vua chúa thì xây lăng, cái lớn cái nhỏ tùy theo cá tính, sở thích của ông vua. Cái thì to lớn, đẹp đẻ, như lăng Gia Long, Minh Mạng, cái thì đơn giản, như lăng Thiệu Trị, cái thì có tính khoe khoang, như lăng Khải Định…

Người giàu có hay quan to cũng xây lăng. Ai cũng muốn để lại cái gì đó cho đời sau. Người hiền cũng xây lăng, người ác cũng xây lăng, Việt gian bán nước cũng xây lăng. Có lăng được khen, có lăng bị chê vì lối kiến trúc của lăng hay vì công lao, tài cán của người được xây lăng, và kể cả tư cách đạo đức của người đã chết chẳng ra cái gì cả.

“Cóc chết để da, người ta chết để tiếng”. Có người tiếng thơm thì ít mà tiếng chê thì nhiều, v.v… Chuyện nầy nói không bao giờ hết…

Tính tới bây giờ, các lăng mới là lăng Hồ Chí Minh ở quảng trường Ba Đình, có khi người ta gọi là lăng Ba Đình, lăng mới hơn là lăng của Ba Duẩn.

Lăng Ba Đình được vẽ theo mô hình, mỹ thuật của Nga, hồi ấy còn là Liên Xô. Mỹ thuật Liên Xô tạo cho lăng Ba Đình trông giống như cái hộp giấy. Mấy năm trước, tôi mua trên e-bay một cái mũ nĩ. Hàng đựng trong một cái hộp, trông hình dáng cái hộp trông như lăng Ba Đình. Cũng may chỉ là cái hộp, mũ thì loại mũ nĩ thường thấy. Lấy mũ xong, tôi cho cái hộp vào thùng recycle. Không lý tôi đội lên đầu cái hộp trông giống cái lăng Ba Đình.

Việc ấy “còn khuya”.

Người Việt chú trọng tới mồ mả vì là vì muốn con cháu được ân đức. Người chết mà “mồ xiêu mả lạc” thì con cháu không thể “ăn ra làm nên”, thiếu âm đức ông bà.

Tục ngữ nói: “Có mồ có mả thì ả làm nên”. Do quan niệm đó mà việc chăm sóc mồ mả là điều rất cần thiết đối với con cháu của người chết.

Cũng từ đó, trong âm lịch có tháng Chạp. Có người giải thích tháng Chạp là người Viêt nói phỏng theo Lạp Nguyệt của người Tầu, cũng như Nguyên Nguyệt là tháng Giêng của ta. Lạp của Tàu Quảng Đông biến thành Chạp, Nguyện biến thành Giêng.

            “Tự Điển Khai Trí Tiến Đức” giải thích thì Chạp:

“Một lễ tế vào tháng cuối năm, nhân tháng 12 cuối năm có lễ tế chạp, cho nên tục gọi tháng ấy là tháng chạp. “Mùa đông tháng chạp”. Chạp mả: Lễ đi thăm mộ về cuối tháng chạp. Chạp tổ: Lễ cúng tổi về tháng chạp.”

Người Việt có tục “chạp mộ” vào tháng cuối của năm, tháng 12, để người trên dương thế hay dưới âm phủ cùng đón Tết.

Nhà cửa thì sửa sang sơn quét, lau chùi cho đạp đẽ khang trang. Mồ mả cũng phải làm cỏ, giẫy cỏ cho sạch sẽ. Mả đất thì đắp nấm lại cho cao lên, mả xây thì quét vôi, kẻ chữ trên bia, v.v…

&

            Tháng 2 năm 1947, Tây chiếm Đồng Hới, tỉnh lỵ tỉnh Quảng Bình. Sau đó Tây về lùng làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, bắt ông Võ Nghiễm vì ông là thân phụ ông Võ Giáp, sau nầy đổi tên thành Võ Nguyên Giáp, đại tướng quân đội Việt Cộng.

            Đối với các tù binh thường, nếu bắt ở Quảng Bình thị bị giam tại đó. Có lẽ bởi vì ông Nghiễm là thân sinh ông Giáp nên Tây đem về Huế. Một thời gian ngắn sau đó, đem giam ở lao Thừa  Phủ. Nhà lao nầy nằm ở phía sau Tòa Hành Chánh tỉnh Thừa Thiên/ Huế.

            Trong thời gian bị giam, ông Nghiễm bị bệnh rồi qua đời. Bấy giờ, ở Huế, thân nhân ông Nghiễm không có ai. Vì vậy, ông Ngô Đình Cẩn, can thiệp với ông Trần Văn Lý, Chủ tịch Hội Đồng Chấp Chánh Lâm Thời miền Trung, lảnh xác ông Võ Nghiễm đem về chôn, có hòm gỗ, có đắp mộ và làm bia ghi tên tuổi đàng hoàng.

            Nhờ ông Cẩn làm việc nhân đức nầy nên sau năm 1975, ông Võ Giáp về Huế, mới tìm được mộ cha, rồi cho cải táng đem về chôn ở Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh Quảng Bình.

            Ông Nghiễm là bố đẻ của Việt Cộng hạng gộc. Anh em nhà họ Ngô thì “chống Cộng triệt để”, nhất là ba ông Ngô Đình Thục, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Diệm. Tại sao “Cậu Cẩn” lại làn việc nầy?

            Người cùng làng với nhau cả đấy!

            Thân sinh ông Ngô Đình Khả là ông Ngô Đình Dinh, có khi người ta gọi là Ngô Đình Niệm, người làng “Thủy Cư”. Thủy cư là tên gọi những người sống ở những vạn đò, là sống trên ghe thuyền, sông nước, không ở trên đất liền, làm nghề đưa đò, vận chuyển hàng hóa hay khách hàng bằng thuyền đò trên sông. Khi giàu có hay khá lên, hoặc khi về già, người ta mới lên bộ, làm nhà ở, mua vườn cây, mua đất ruộng, v.v… thường thì họ mua ngay ở khu vực vạn đò neo chung với nhau ở một khúc sông nào đó.

            Vạn đò của ông Ngô Đình Niệm là ở ngay làng Đại Phong. Về sau, khi ông Ngô Đình Khả làm quan, có tiền giúp đỡ cha mẹ, nên ông Ngô Đình Niệm bèn bỏ vạn đò lên mua đất ruộng ở làng Đại Phong làm nhà, làm nghề nông sinh sống.

            Khi ông Ngô Đình Niệm qua đời, ruộng đất bỏ lại, ông Ngô Đình Khả, cũng như các con ông đang ở Huế, phải nhờ ông Võ Nghiễm, người cùng làng, chăm nom vườn ruộng giúp. Huê lợi mỗi năm thu được, ông Nghiễm giao lại cho nhà họ Ngô. Không nghe ai nói có điều gì thất bát, mất lòng nhau.

            Chính nhờ công lao đó, lại thêm là người cùng quê, nên khi ông Nghiễm qua đời lúc còn ở trong tù, ông Ngô Đình cẩn xin lảnh về chôn cất, v.v…

            Ơn nghĩa nầy, đối với ông Giáp, phải là lớn lắm, không thể quên, không thể vô ơn được!

            Đối với ông Hồ Chí Minh, ơn nghĩa nhà Ngô cũng không nhỏ gì.

            Thân phụ ông Hồ Chí Minh là ông Nguyễn Sinh Sắc, sau đổi là Huy. Sau khi ông Nguyễn Sinh Sắc đổ cử nhân ở “Trường Nghệ” (trường thi ở Nghệ An), năm 1901, ông Sắc vô Huế thi tiến sĩ.

            Một là khi vô Huế, ông Sắc được ăn ở tại nhà cụ Vũ Văn Giáp, thân sinh nhà cách mạng Vũ Bá Hạp, “đồng chí” của cụ Phan Bội Châu. Cụ Võ Bá Hạp là thân sinh cụ Võ Như Nguyện, “đại công thần” của ông Ngô Đình Diệm, khi ông Diệm còn “lê gót nơi quê người” (câu trong bài hát “Suy tôn Ngô tổng Thống”.

            Hai là, ông Nguyễn Sinh Sắc thi hỏng tiến sĩ. Điều nầy, đối với cụ Vũ Văn Giáp là “tội nghiệp” lắm. Một là ông Nguyễn Sinh Sắc là con ông Hồ Sĩ Tạo (con rơi). Ông Hồ Sĩ Tạo, đậu giải nguyên Trường Nghệ, danh sĩ xứ Nghệ. Ông Hồ Sĩ Tạo rất chăm lo việc học hành thi cử của đứa con rơi của ông.

            Vì quen biết nhiều, và “quen lớn” với các quan trong triều cũng như hoàng thân quốc thích, cụ Vũ Văn Giáp thương tình ông Sắc bèn nhờ các quan giúp đỡ, đặc biệt với ông Ngô Đình Khả, Thượng thư bộ Lễ đời Thành Thái, bộ Lễ là bộ coi sóc việc thi cử, và ông Cao Xuân Dục, Chủ khảo trường thi Hội (1901), quản Quốc Tử Giám.

            Nhờ đó, thay vì hỏng, ông Sắc đậu phó bảng (đậu vớt. Nhờ vớt ông Sắc mà cụ Phan Chu Trinh cũng đậu phó bảng cùng kỳ thi ấy).

            Khi ông Sắc, đổi tên là Huy, làm tri huyện Bình Khê, chịu trách nhiệm về việc, say rượu để lính đánh chết dân. Việc khiếu nại đến vua Thành Thái, vua phê “trảm giam hậu”.

Lại cũng nhờ cụ Vũ Văn Giáp xin giúp nên ông Huy chị bị đánh 50 trượng, cách chức đuổi về.

            Vì xấu hổ, ông Huy không dám về lại Nghệ An, mà lưu lạc vô nam, chết ở Cao Lãnh năm 1929.

            Khi ông Ngô Đình Diệm làm Tổng thống VNCH, bỗng nhiên ông quận trưởng Cao Lãnh được lệnh của tổng thống xây mộ cho ông Huy. Mộ xây khá đẹp. Giữa là nấm xây bằng gạch (vùng đồng bằng sông Cửu Long về “mùa nước nổi” thượng bị ngập, nên mộ thường để trên mặt đất, không chôn sâu xuống đất, quan tài bị úng thủy (ngập nước khi nước lên). Chung quanh là vòng thành, có vòm che bàn thờ bát nhang, và bia ghi tên họ.

            (Độc giả muốn biết rõ hơn xin đọc “Quan hệ Ngô gia – Hồ gia, cùng tác giả, in trong sách “Theo Dòng”, nhà Văn Mới ở Cali xuất bản hay Văntuyển.net).

            Ơn nghĩa của nhà Ngô đối với ông Hồ Chí Minh cũng không nhỏ gì!

            Hai anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu bị giết khi còn trên xe M-113. Xe về tới Bộ Tổng Tham Mưu, thấy cảnh hai người bị giết, không ít người bàng hoàng.

Bấy giờ “Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng” (HĐQNCM) gọi bà Kim Anh, con gái bà Cả Lễ, gọi hai anh em nói trên bằng cậu (ruột) và chồng là ông Trần Trung Dung, cựu Bộ trưởng Phụ tá Quốc Phòng của chính phủ Ngô Đình Diệm tới. Hai người nầy xin đem về chôn ở nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, nhưng HĐQNCM không chấp thuận bởi vì hôm đó, ngày 2 tháng 11 năm 1963, dân chúng Saigon tự động đổ ra đường đông nghẹt, mừng “Quân đội lật đổ Ngô  Triều” và  “cách mạng thành công”. Nếu đem hai thi hài ra khỏi Bộ Tổng Tham Mưu, tình hình sẽ thêm xáo trộn. Do đó, hai anh em nhà họ Ngô được an táng trong khu vực Bộ Tổng Tham Mưu. Năm sau mới cải táng về nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, có xây mộ và dựng bia.

            Năm 1983, Việt Cộng giải tỏa nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, mộ hai anh em tổng thống Ngô Đình Diệm dời về Lái Thiêu, Bình Hòa, Bình Dương.

Mộ ông “Cố vấn Chỉ đạo” Ngô Đình Cẩn, bị xử tử năm 1965, trước kia ở nghĩa trang sân bay Tân Sơn nhất cũng được dời về đây. Mộ bà Phạm Thị Thân, vợ ông Ngô Đình Khả, cũng vậy. Công việc dời mộ nầy do thân nhân nhà họ Ngô đứng ra lo liệu.

            Các ngôi mộ nói trên được xây gạch, dựng bia, nhưng cấm đề tên. Cấm là do lệnh Việt Cộng, chớ còn ai?!

            Bia mộ cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, viết như sau:

            –Gioan Baotixita Huynh (anh, tức Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm).

-Bia mộ ông Ngô Đình Nhu ghi: Giacobe Đệ (em).

-Xa một quãng là mộ ông Cẩn, trên bia có khắc Jean Baptiste Cẩn.

-Giữa mộ ông Huynh ông Đệ là mộ bà Luxia Phạm Thị Thân (bà mẹ hai ông).

 

            Tại sao không cho đề tên thiệt các ông?

            Việc nầy làm tôi nhớ lại một đoạn sử Việt Nam học năm lớp Nhì:“Mạc Đăng Dung tuy lên làm vua, nhưng việc gì cũng theo nhà Lê cả vì “sợ lòng người còn nhớ nhà Lê.”

 

            Vậy là rõ: Không cho đề tên hai ông vì “sợ lòng người còn nhớ nhà Ngô” hay “lòng người còn nhớ chế độ cũ”?

 

            Cái “sợ” đó cho người ta thấy Việt Cộng không có chính nghĩa. Không lý “chính nghĩa” sợ “phản động”?

            Có thể ai đó nói rằng: Vậy còn Gia Long cho đào mồ vua Quang Trung lên, bỏ đầu lâu vào cái giỏ rồi sai lính tiểu tiện vào đó thì sao?

            Đúng rồi, nhưng giữa vua Quang Trung và Gia Long căn bản, chỉ có hận thù mà không có ơn nghĩa. Gia Long đâu dễ quên 20 năm bị Nguyễn Huệ vây đuổi, phải trốn tận Xiêm La mới yên thân.

            Ngược lại, giữa Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp với nhà Hồ Ngô thì ơn sâu nghĩa nặng lắm, xây mộ đề bia cho cha mà! Sao có thể quên được? Quên là vì không cần có hiếu với cha mẹ. “Trung với đảng, hiếu với dân”. Hồ Chí Minh “dạy” học sinh như thế, không lý ông tà làm ngược lại?

            Nói như thế, sẽ có người cười. Ai lại nói chuyện hiếu, trung ơn nghĩa với đám… Chí Phèo!

“Đạo đức Chí Phèo” chính là “đạo đức vô sản”, mà cũng là “Đạo đức Xã hội Xã hội Chủ nghĩa” đấy.

hoànglonghải

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: