Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – “Hương Tràm Trà Tiên” Bài 19: Bắt cóc đòi tiền chuộc

1Bây giờ, bọn alQeda hay bọn cướp biển ở eo biển Malacca hay bọn cướp biển Somali có bắt cóc đòi tiền chuộc thì việc làm của chúng cũng chỉ là “đàn em” của Việt Cộng. Việt Cộng thuộc “bậc sư” trong việc nầy.

            Điều buồn cười là việc làm thì “bá đạo” nhưng bao giờ cũng vẽ vời, tự cho là “vương đạo”.

            Trong bài 15, tôi có kể chuyện mấy người dân Long Xuyên qua Tà Keo (Rạch Giá, quê hương Nguyễn Tấn Dũng) làm ruộng, bị Việt Cộng bắt cóc đòi tiền chuộc. Chuyến ấy Việt Cộng lỗ to. Bốn người dân Long Xuyên được sổng tù còn phía Nguyễn Tấn Dũng có hai “đồng chí tổ quốc ghi công”. (Tổ quốc Việt Cộng chớ không phải tổ quốc Việt Nam).

            Lần nầy, như tôi sẽ kể sau đây, Trần Chí Tài, phó bí thư kiêm trưởng ban kinh tài huyện Hà Tiên, “xếp” của Dũng, làm ăn khá hơn và trúng “mánh”. Tuy nhiên, sau đó không bao lâu, Nguyễn Tấn Dũng lại khóc cho “xếp” của y, lại bị “tổ quốc ghi công”, sau khi ôm được một mớ tiền “cờ bạc”, bỏ túi xài riêng.

            Nói cho cùng, bắt cóc đòi tiền chuộc cũng giống như đánh bạc. Trót thì ăn gọn, không xong thì “của thiên trả địa” như tục ngữ nói. Ông bà chúng ta nói đâu có sai: “Của làm ra để trên gác, của cờ bạc để ngoài sân, của phù vân để ngoài ngõ.” Nói chung, Việt Cộng khó chấp nhận quan điểm đạo đức ông bà để lại. Họ có “Đạo đức xã hội chủ nghĩa”. Đạo đức nầy bây giờ phát triển tùm lum ở Việt Nam, rõ ràng là đi tới đâu cũng có “thủ tục đầu tiên.”

&

            Ông Chín Vĩnh là người nổi tiếng giàu có ở thị trấn Kiên Lương. Ở đây, ông ta làm chủ một cây xăng, có mấy lò vôi, thêm một lò vôi nữa ở Mỹ Tho. Lò vôi của ông ở Mỹ Tho sản xuất ximăng trắng, “hiện đại” hơn, vận chuyển đá vào lò bằng giây chuyền chứ không bằng tay như ở Kiên Lương. Có lần ông khoe với tôi: Đường Cần Thơ Chương Thiện dài 27km. Muốn khỏi bị lún, mỗi cây số công chánh đổ lót một tấn vôi, giá một triệu. Ông ta trúng thầu 27km đường đó, coi như ông trúng thầu 27 triệu đồng, lời đợc bao nhiêu, không nghe ông Chín Vĩnh nói.

            Có thể coi ông chín Vĩnh là nhân vật đặc biệt, tài năng. Năm 1962 ông tới Kiên Lương với hai bàn tay trắng. Mười năm sau, ông ta trở thành triệu phú vì biết cách làm ăn và không thiếu… thủ đoạn. Tôi sẽ nói thêm về ông chín Vĩnh phần sau. Bây giờ xin nói tới việc Việt Cộng bắt ông Năm Thanh, Hồ Văn Thanh, anh ông Chín Vĩnh, đòi tiền chuộc.

            Tuy là anh, nhưng ông Năm Thanh không tài giỏi như ông Chín Vĩnh. Ông sống nhờ vào em ông, nên được ông Chín Vĩnh giao cho việc coi sóc ba cái lò nung vôi – vôi quét tường, được chở lên Saigon bán – Ba lò vôi nầy ở sâu trong vùng núi Trầu, có thể Việt Cộng lợi dụng đêm tối bất thần xuất hiện.

            Sáng hôm ấy, tôi không nhớ rõ thời gian, thiếu úy Kiệt báo cho tôi hay: “Ông Năm Thanh bị Việt Cộng bắt tối hôm qua.” Không biết ông năm Thanh là ai, tôi phải hỏi thêm thúy úy Kiệt.

            Thiếu úy Kiệt lại nói thêm: “Việt Cộng có để lại một bức thư cho ông chín Vĩnh, không rõ nội dung nói gì.”

            Tôi nói:

            – “Không rõ cũng phải tìm biết cho rõ. Nhiệm vụ của mình mà!”

            – “Chút nữa ông chín Vĩnh sẽ lên gặp chỉ huy trưởng. Tôi có dặn rồi.” Thiếu úy Kiệt nói.

            Thiếu úy Kiệt là người lanh lợi, rành công việc. Có lẽ ông ta đã gặp ông chín Vĩnh từ sáng sớm, sau khi nghe tin ông Năm Thanh bị bắt. Chờ tới giờ làm việc, thiếu úy Kiệt mới báo cho tôi hay.

            Sau đó khoảng một giờ đồng hồ, ông Chín Vĩnh xin gặp tôi thật. Mời ông Chín vô phòng khách ngồi, tôi nói trước:

            – “Chia buồn với ông Chín về việc bác Năm. Ông Chín biết họ bắt bác Năm về việc gì?”

            – “Có gì đâu, họ đòi tiền thuế những mấy năm, nặng lắm!” Ông Chín trả lời.

            Tôi cười:

            – “Thuế má gì đâu! Bao giờ họ cầm quyền ở ngoài nầy (khu vực kinh Rạch Giá – Hà Tiên – tg) mới thu thuế chớ. Trốn tuốt trong rừng sâu mà đòi thuế ngoài nầy, ngộ không?! Vậy là bắt cóc đòi tiền chuộc chớ thuế má gì. Thuế thì cứ gởi thư đòi thuế, sao lại bắt ông Năm làm chi?”

            – “Ông chỉ huy trưởng thông cảm. Bắt ông Năm là họ gài tôi, không đóng tiền cho họ là coi như anh tôi có đi mà không có về, mất mạng luôn.” Ông Chín than thở.

            Tôi giải thích:

            – “Dân ở trong vùng Quốc Gia mà bị Việt Cộng bắt cóc, là trách nhiệm của Quốc Gia, không bảo vệ được dân của mình. Ngay cả việc ông Chín đóng thuế cũng vậy. Không đóng thuế thì ông Năm mất mạng. Đó cũng là trách nhiệm Quốc Gia không bảo vệ dân chúng được. Trên nguyên tắc thì ông Chín không có tội gì cả. Tuy nhiên, khi người nào đóng thuế hay bị Việt Cộng ép buộc làm gì thì sau đó phải báo cáo cho quận, xã biết để ghi nhận hồ sơ. Lỡ khi cấp trên có bắt được tài liệu Việt Cộng ghi nhận ông Chín đóng thuế mà không khai báo cho chính quyền thì ông Chín bị tội đó. Nhớ đóng thuế xong thì báo ngay cho tôi biết. Còn thư thì họ nói gì?”

            Ông Chín đưa bức thư của Việt Cộng đòi tiền chuộc cho tôi coi.

            Thư viết trên giấy tập học trò, chưa đầy một trang, chữ viết nắn nót, bằng bút nguyên tử, nhưng nét chữ còn non lắm, chứng tỏ người viết thư nầy của huyện ủy Việt Cộng Hà Tiên học chưa quá bậc tiểu học. Thư để trong phong bì nhưng bì thư cũng như giấy đã bị nhầu. Có thể người đưa thư đã lận vào lưng khi di chuyển. Nội dung thư có mấy ý chính:

            Một là khen ngợi ông Chín đã có công đóng góp cho “cách mạng” nhưng không nói rõ đóng góp cái gì. Đây chỉ là lời giáo đầu giả bộ khen ngợi để phần sau đòi đóng tiền mà thôi. Phía Quốc Gia cũng cũng có thể căn cứ vào lời khen, làm khó ông Chín để kiếm chút tiền còm. Tuy nhiên, nói cho cùng thì Quốc Gia muốn kết ông Chín tội gì cũng được khi người ta có quyền trong tay, tuy thư nói mơ hồ, không đủ chứng cớ để buộc tội ông Chín ủng hộ Việt Cộng. Màn giáo đầu nầy, tôi cho là không quan trọng, nhưng tôi ngạc nhiên về hai chữ “cách mạng” dùng trong thư.

            Tôi nói với ông Chín: “Bọn họ tự xưng là “cách mạng” nhưng “cách mạng” gì tụi nầy. Chúng nó không khác chi tướng cướp Phong Lai trong Lục Vân Tiên. Chận đường bắt đóng tiền mãi lộ hay bắt người đòi tiền chuộc thì cũng dzậy thôi.”

            Ông Chín làm thinh không nói gì. Có lẽ ông ta sợ Việt Cộng trong khi ông ta đang làm việc với Quốc Gia. Quốc Gia cũng có thể làm khó ông ta được vậy. Rõ ràng là người dân một cổ hai tròng. Tôi hỏi:

            – “Ông Chín có biết cụ Ngô gọi Việt Cộng là cái gì không?”

            Ông ta trả lời, rụt rè: “Dạ không!”

            – “Cộng phỉ”. Tôi nói. “Cụ Ngô gọi chúng là Cộng phỉ, loài cộng phỉ. Phỉ là thổ phỉ đó. Tụi nó chỉ giỏi đi ăn cướp.”

            Thứ hai, huyện ủy Hà Tiên đòi ông phải đóng 3 năm thuế lợi tức lò vôi và cây xăng. Họ không nói rõ ba năm thuế là bao nhiêu tiền nhưng theo tôi hiểu, không dưới một trăm ngàn đồng. Sao chúng nó không đòi thuế mấy năm trước đó nữa. Họ không đòi vì thời gian ấy ông ta đã đóng rồi hay sao? Trong hồ sơ trận liệt thiết lập từ cả chục năm trước, tôi không thấy tài liệu nào nói ai có đóng thuế cho Việt Cộng. Nhiều người làm việc cho Quốc Gia cũng “dễ tính”. Ai đóng thuế cho Việt Cộng xong rồi, biếu họ chút ít “tiền càphê” là mọi chuyện coi như xong.

            Điều thứ ba là hăm dọa. “Nếu ông Chín không đóng thuế cho “cách mạng”, coi như họ sẽ xử lý ông Năm. Xử lý, theo cách hiểu của dân chúng là đem bắn bỏ.

            Tôi giữ bức thư lại giao cho thiếu úy Kiệt lưu hồ sơ, rồi hỏi ông Chín:

            – “Họ có nói đóng thuế lúc nào, chỗ nào không?”

            – “Không!” Ông Chín trả lời. “Theo tôi hiểu thì tôi cứ để tiền sẵn ở bên lò vôi anh Năm. Một đêm nào đó, họ sẽ mò ra nhận tiền. Nếu thỏa mãn, không đòi tiền thêm thì họ sẽ cho anh Năm tôi về.”

            Tại sao thư đòi thuế không nói bao nhiêu tiền? Điều nầy thuộc “mánh mung.” Họ chỉ nói bằng miệng bao nhiêu đó, ông Chín đóng đủ thì họ bỏ túi một phần; chớ còn nói rõ trong thư bao nhiêu tiền thì chúng nó còn bỏ túi riêng làm sao được, “xơ múi” gì được nữa. “Cách mạng” khôn lắm!

            Sau khi ông Chín về, tôi cùng thiếu úy Kiệt và mấy đệ tử đi uống càphê. Tôi thuật lại câu chuyện ông Chín bị đòi thuế cho họ nghe. Thượng sĩ Hùng nói:

            – “Dễ giận thiệt. Mình cứ phục kích ở nhà ông Năm, chờ chúng nó ra, ria một băng là xong.”

            Tôi cười:

            – “Chuyện thì dễ, nhưng khi mình ria tụi nó rồi thì ông Năm mất mạng. Thư dặn ông Chín không được trình báo gì cho Quốc Gia cả. Tại sao quốc gia biết để phục kích? Làm như thượng sĩ Hùng nói, khác chi tố cáo ông Chín đi báo cho Quốc Gia! Khi đó mình ăn nói với ông Chín, với dân chúng ra làm sao? Đã không bảo vệ được dân lại còn vô tình xúi tụi nó giết dân, đâu có được.”

            Khoảng một tuần sau ông Năm được tha. Ông ta trình diện bên ngành “Cảnh Sát Đặc Biệt” để họ lấy lời khai. Cũng tương tự như lời khai con nhỏ Hoàng Thị Vân bỏ nhà theo thằng Hùng, như tôi đã kể trong bài 6 – “Giang Thành Dạ Cổ”, chúng nó đưa ông Năm đi xa lắm, có vượt qua kinh Vĩnh Tế, có nghĩa là huyên ủy Hà Tiên của Nguyễn Tấn Dũng đóng bên kia biên giới, thuộc phần đất Kampuchia. Đóng bên nầy bờ kinh, vùng Quốc Gia, huyện ủy Hà Tiên lạnh giò, ngủ không yên.

hoànglonghải (xem tiếp bài 20: Tổ hợp lò vôi)

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: