Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – “Hương Tràm Trà Tiên” Bài 17: Nông trường chuối của Đại tá Tỉnh trưởng

1Tôi không biết rõ tình hình ở trung ương, nhưng ở các tỉnh, các quận, khoảng năm 1973, 74 việc thành lập các Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp được dựng lên nhiều nơi; nhất là những quận lớn như quận Thốt Nốt tỉnh Long Xuyên, quận Kiên Tân (Cái Sắn) của Kiên Giang. Mỗi tỉnh đều có Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp hoặc chương trình nông nghiệp của Ngân Hàng Việt Nam Thương Tín (?).

            Theo tôi biết, chương trình thiết lập ngân hàng phát triển nông nghiệp ở Việt Nam là cái đuôi của cuộc “Cách Mạng Xanh” ở bên Mỹ. Tôi nhớ không lầm thì trước việc các nước Cộng Sản phát động “Cách Mạng Đỏ” với đầy máu và nước mắt của lương dân thì để chống lại Cộng Sản, Hoa Kỳ phát động “Cách Mạng Xanh”, tức là việc phát triển nông nghiệp, đem lại no cơm ấm áo cho người dân.

            Chính phủ Hoa Kỳ ban hành đạo luật 480, đầu tư tiền bạc giúp nông dân khai hoang, phát triển canh tác, trồng lúa, trồng bông, v.v… Truớc sự thành công của Mỹ, và cũng do Mỹ tài trợ, hệ thống ngân hàng loại nầy được dựng lên nhiều nơi, các nước chậm tiến và dĩ nhiên, cũng ở Việt Nam. Người ta có thể coi như nó là cái “đuôi” của Nông Tín Cuộc thời Ngô Đình Diệm vậy.

            Hôm khánh thành Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp Cái Sắn, có phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo về chủ tọa, tôi đuợc mời tham gia, qua đó, làm quen với một vài người chỉ huy, người bỏ vốn đầu tư ở ngân hàng.

            Nông dân, phần nhiều là người Nam thường thiếu tiền làm mùa. Người Bắc trong dinh điền Cái Sắn, phần đông làm ăn chín chắn hơn. Từ lâu, họ có thói quen chuẩn bị sẵn lúa giống và tiền bạc cho mùa sau, sau khi thu hoạch mùa trước. Vì vậy, họ có thừa tiền.

            Người Nam, phần nhiều ở các xã Tân Hội, Mông Thọ thì ngược lại, gọi là đánh bạc “vui chơi ba ngày xuân” nhưng “ba ngày xuân” của họ dài tới 365 ngày, coi như suốt năm. (Tôi nói về việc đánh bạc nầy ở một bài khác). Vậy nên đến khi làm mùa thì thiếu tiền: Tiền mua lúa giống, tiền thuê máy cày, tiền nhân công cấy, sạ, đắp bờ, be đất, v.v…

            Trước kia thì họ đi vay hoặc “bán lúa non”. Tiền lời cắt cổ, xanh xít đít đui. (1) Nay nhờ có Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp, nông dân khỏi bị các bà nhà giàu, các bà “mua lúa non” (2) bóc lột.

            Nhờ hệ thống ngân hàng nầy, nông dân có lợi, mà ngân hàng cũng có lời.

            Tuy nhiên, tình hình ở Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp Cái Sắn thì ngược lại. Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp Cái Sắn ở quận lỵ Kiên Tân, cho vay và nhận tiền đầu tư của nông dân của bốn xã: Thạnh Đông, Tân Hiệp, Mông Thọ, Tân Hội, tổng cộng khoảng trên 95 ngàn dân, đông gấp ba dân số tỉnh Kiến Phong. Xã Tân Hội và Mông Thọ phần đông là người miền Nam, dân số ít hơn. Xã Tân Hiệp và Thạnh Đông là đông dân nhất, mỗi xã trên dưới ba chục ngàn, phần nhiều là người Bắc di cư.

Tình hình chung thì người Nam vay nhiều, việc bỏ vốn đầu tư coi như không có. Dân di cư vay thì rất ít mà bỏ tiền vô ngân hàng đầu tư thì nhiều. Kết quả, ngân hàng ôm một số tiền lớn mà không cho vay được. Tiền nhận vào là phải trả tiền lời cho nông dân. Ấy là chưa kể vốn ngân hàng là 20 triệu, chính phủ ứng vốn thêm bằng số tiền đó là 20 triệu nữa. Tiền chính phủ ứng vốn khỏi trả tiền lời. Trước tình đó, ngân hàng phải cầu cứu với trung ương. Trung ương phải cho chuyển tiền qua những ngân hàng khác. Phần nhiều các ngân hàng khác thường thiếu vốn, không đủ cho nông dân vay, không giống ngân hàng Cái Sắn. Đến 30 tháng Tư – 1975, nhiều nông dân bỏ vốn đầu tư rút về không kịp, coi như mất trắng mồ hôi nước mắt.

            Có tiền ngân hàng, một số người cấu kết với tỉnh trưởng, mở nông trường trồng chuối để xuất khẩu sang Nhựt Bản.

Nghe thì hay lắm vậy!

            Một hôm, từ Rạch Giá về Hà Tiên, quá chỗ Vàm Rầy một chút, tôi thấy người ta đang đào một vùng kinh vuông, nghĩa là bốn cái kinh, chung quanh một khoảnh đất vuông. Mỗi kinh dài khoảng 300 thước tây. Bên trong các kinh đào ấy, người ta trồng chuối, loại cây cũng đã khá cao. Chỗ nầy có dựng bảng đề là nông trường chuối. Bảng đề là Nông Trường mà chu vi thì chỉ mới bằng cái vườn nhà quê. Dĩ nhiên, nhiều người biết nông trường nầy tới khi thu hoạch được, sẽ xuất khẩu sang Nhựt Bổn, giống như nhà máy Sumaco ở ngoài Hòn Heo vậy. (Tôi sẽ nói tới công ty nầy sau).

            Vậy rồi ít lâu sau, tin của Cảnh Sát Xã Đức Phương báo cáo lên cho biết, Việt Cộng về hoạt động ở nông trường chuối, quân ta pháo kích vào nông trường của ông tỉnh trưởng. Nông trường bị tanh banh ra cả, thiệt hại coi như 100%. Sau đó nông trường bị bỏ hoang.

            Tôi xuống quan sát tại chỗ vì nông trường nầy là của ông lớn cấp tỉnh. Lỡ thượng cấp hỏi tới thì báo cáo cho rành rọt.

            Ai ngờ!

            Ông xã trưởng Ngô văn Àn nói với tôi, khi tôi hỏi chuyện ông ấy: “Phen nầy ông tỉnh trưởng trúng to!”

            Hỏi tới thì ông xã trưởng giải thích như sau:

            – “Ông tỉnh hợp tác với một số người, cho mở nông trường. Làm chừng đó tốn chưa tới 100 ngàn, mà khai với chánh phủ bỏ vốn ra 20 triệu. Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp xin chính phủ đối vốn 20 triệu nữa là 40 triệu. Đùng một cái, nông trường tanh banh, bỏ dở công việc. 20 triệu vốn của ai về nấy, còn 20 triệu của chính phủ cũng coi như xong.

            – “Sao gọi là xong?” Tôi hỏi.

            – “Việt Cộng pháo kích vô, coi như xong. Chính phủ mất tiền.”

            Tò mò, tôi hỏi bên chi khu, chi khu cho biết:

            – “Tiểu khu có công điện thông báo Việt Cộng về ẩn núp ở nông trường chuối. Trung đội vũ khí nặng của ông thiếu tá Thành, tiểu đoàn 530 Thần Hổ (Địa phương quân – tg), được lệnh tiểu khu trưởng pháo tối đa vào nông trường.”

            Tôi nói với ông thiếu tá quận trưởng:

            – “Tôi có tin gì ghi nhận hay báo cáo về việc Việt Cộng kéo vô nông trường chuối đâu. Chỗ đó một bên là đường lộ, một bên là biển, mình tấn công, tụi nó rút đường nào?”

            Quận trưởng cười:

            – “Ông sao chẳng biết chi hết! Không pháo vô vườn chuối, làm sao có 20 triệu.”

            Đấy! “Cách Mạng Xanh” của nước ta đấy. Hai trăm năm nữa, chưa nắm kịp cái đuôi của Mỹ.”

hoànglonghải

(1)-Xanh xít đít đui là vay năm (cinq) trả thành sáu (six) vay 10 (dix) trả thành 12 (douze). Trước 1975, ở miền Nam, thường cho vay với phân lời như thế, bị lên án là cho vay “cắt cổ”. Việt Cộng gọi là “bóc lột”, nghề cho vay là nghề “Ngồi mát ăn bát vàng”. Hiện giờ, trưởng công an các quận ở Saigon, đặc biệt quận Bình Thạnh, quận Gò Vấp đều “làm thêm” nghề cho vay, và thường cho “vay nóng”. Nghĩa là vay “khẩn cấp” (để chạy án, hối lộ, v.v…) với phân lời rất cao, vay một trả một tiền lời. Vay một triệu thì tiền lời mỗi tháng (mỗi tháng chớ không phải mỗi năm, nhớ cho vậy) là một triệu. Có người thuật lại rằng một cô gái làm điếm bị bắt, phải “vay nóng” để có tiền mà ra khỏi nhà giam công an. Tiền vay phân lời cao đến nỗi vay một triệu, trả tiền lời mỗi tháng một triệu. Mỗi tháng cô ta chỉ đủ khả năng trả tiền lời cho trưởng công an quận Bình Thạnh. Như vậy, cô ta phải làm điếm suốt đời mà không bao giờ trả hết nợ, trong khi đó tên trưởng công an quận Bình Thạnh vẫn rêu rao rằng, nhờ y cho vay nên cô gái mới ra khỏi tù được. Vì vậy, việc cho vay của y là rất nhân đạo!

(2)-“Mua lúa non” là hình thức cho vay có cầm thế lúa rất phổ biến ở Kiên Giang. Từ khi sạ đến trước khi thu hoạch, nông dân có thể bán lúa non cho nhà giàu để vay tiền. Càng gần ngày thu hoạch thì tiền vay được cao hơn. Nhiều tay ham cờ bạc, đến khi lúa chín thì các bà “mua lúa non” cho người gặt hết, nông dân coi như trắng tay. Làm một mùa chẳng thu được hột lúa nào!

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: