Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Bùi Anh Trinh – SAU MÙA HÈ 1972, HÀ NỘI NHƯỢNG BỘ

1Trích sách “Giải Mã Những Bí Ẩn Của Chiến Tranh Việt Nam” của Bùi Anh Trinh.

Hà Nội không đòi thay Nguyễn Văn Thiệu

Năm 1972, ngày 1-8.  Sau khi 200 ngàn quân CSVN tan nát, quân CVNH đang bắt đầu cuộc hành quân tái chiếm tỉnh Quảng Trị;  Kissinger và Lê Đức Thọ họp mật lần thứ 15 với thái độ rất biết điều của phía Hà Nội, thậm chí có vẻ thân mật.

Vào họp Kissinger nói rằng Hoa Kỳ có đề nghị 12 điểm.  Chưa nghe chi tiết nhưng Lê Đức Thọ và Xuân Thủy có nhận xét vui là lần này có tiến bộ về số lượng các mục đề nghị ( Lần trước chỉ có 5 điểm ). Trong 12 điểm của HK có mục bồi thường chiến tranh thì Hoa Kỳ chỉ chấp nhận dưới danh nghĩa tái thiết toàn bộ Đông Dương.  Thời hạn thi hành hiệp định là 1 năm gồm có 3 tháng bàn thảo hiệp định, 4 tháng để Hoa Kỳ rút hết quân, 5 tháng để tổ chức bầu cử chính phủ mới.  Trong 1 năm đó sẽ hoàn chỉnh hiến pháp cho chế độ mới.

Lê Đức Thọ có nhận xét là cơ bản chưa có gì mới, đặc biệt là thể chế chính trị cho Miền Nam.  Sau đó Lê Đức Thọ đưa ra đề nghị 10 điểm của CSVN, trong đó đòi HK rút quân trong 1 tháng, lập chính phủ 3 thành phần, “không đòi hỏi Thiệu phải từ chức trước khi ký kết hiệp định mà chấp thuận Thiệu từ chức sau khi ký kết” , Hoa Kỳ phải có trách nhiệm phải tái thiết cả hai miền sau chiến tranh.  “Con số tái thiết là 8 tỉ USD, gồm có 4,5 tỉ cho Miền Bắc và 3,5 tỉ cho Miền Nam”.

Theo mô tả của Kissinger thì đây là một cuộc họp vui vẻ chưa từng có Lê Đức Thọ tiếp tục lùi bước mà ông ta bằt đầu từ hôm 19-7”.  Hai bên hẹn gặp lại trong ngày 14-8. Kissinger tin rằng Lê Đức Thọ tiếp tục lùi bước do sức ép của Liên Xô, nhưng ông không ngờ rằng Hà Nội lùi bước vì 200 ngàn quân CSVN bị đánh tan nát, Hà Nội cần phải kết thúc hòa đàm trước khi Hoa Kỳ phát hiện ra sự thực.

* Chú giải :  Hà Nội thôi không đòi hỏi hạ bệ Nguyễn Văn Thiệu

Đối với HK thì đây là một bước đột phá vô cùng quan trọng để đi tới ký kết hiệp ước, nghĩa là Hà Nội đã chấp thuận không buộc HK phải giao chính quyền Miền Nam cho họ ( lật đổ Thiệu ) như là một điều kiện tiên quyết.  Và họ đã chịu đưa ra con số bồi thường chiến tranh, có nghĩa là họ đã chịu thả tù binh để lấy tiền.

Cần ghi nhớ là lúc này Hà Nội không còn mong nhận được viện trợ quân sự của Liên Xô sau khi Nixon viếng thăm Mạc Tư Khoa.  Đối với Hà Nội thì trận Mùa Hè Đỏ Lửa là trận cuối cùng của cuộc chiến bởi vì sau đó sẽ không đào đâu ra đựoc kinh phí và vũ khí để tiếp tục theo đuổi chiến tranh.  Vả lại nhân lực cũng đã cạn kiệt hết rồi.  Ngoài Bắc chỉ còn một trời đàn bà góa.

Năm 1972, ngày 14-8, Kissinger và Lê Đức Thọ họp mật lần thứ 16.  Hai bên đã kiểm lại những điều đã thỏa thuận, những điều có thể thỏa thuận được và những điều chưa thỏa thuận được.  Những điều đã thỏa thuận là (1) Việc rút quân của Hoa Kỳ và Đồng minh. (2) Việc thống nhất Việt Nam do hai chính phủ của hai miền Nam, Bắc quyết định. (3) Tôn trong hiệp định Geneve 1954 và hiệp định Geneve 1960. (4) Đông Dương là một khu vực trung lập. (5) Quốc tế sẽ kiểm soát vấn đề thi hành ngưng bắn.

Những vấn đề có thể thỏa thuận là (1) Thời hạn rút quân. (2)  Hoa kỳ không cam kết bồi thường nhưng sẳn sàng đóng góp xây dựng tái thiết.

Những vấn đề chưa thỏa thuận được là (1) Viện trợ quân sự cho chính phủ Hà Nội và chính phủ Sài Gòn (2) Vấn đề chính trị của Miền Nam Lê Đức Thọ đề nghị lập một chính phủ gọi là “Chính phủ Hòa hợp dân tộc lâm thời” gồm có ba thành phần gồm VNCH, CSVN và Trung lập.

 

Kissinger đến Sài Gòn sau những nhượng bộ quan trọng của Hà Nội

Năm 1972, ngày 17-8, Kissinger đi cùng với Đại sứ Bunker và hai phụ tá của ông là Winston Lord và John Negroponte đến dinh Độc Lập để bàn thảo với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và hai phụ tá là Hoàng Đức Nhã và Nguyễn Phú Đức.  Kissinger đưa ra những đề nghị mới nhất của Hà Nội trong phiên họp mật vừa qua và bàn những chi tiết sẽ thỏa thuận với Hà Nội trong phiên họp sắp tới.

Đặc biệt ông giấu chuyện Hà Nội thôi không đòi thay Nguyễn Văn Thiệu ( Để cho Thiệu khỏi làm cao với HK ).  Trong khi đó Kissinger lại đưa ra những nhượng bộ mới của phía HK. Tổng thống Thiệu nói rằng ông cần thảo luận với các nhân vật trọng yếu của Miền Nam về những điều mà Kissinger mới đưa ra. Sau hai ngày bàn bạc Kissinger rời Sài Gòn với niềm tin rằng ông và Thiệu đã đồng ý với nhau.

Sau khi Kissinger rời Sài Gòn, Tổng thống Thiệu cùng với ban tham mưu soạn ra một bản đề nghị của VNCH, bản đề nghị này sẽ được Đại sứ Bunker trao cho Tổng thống Nixon tại Honolulu nhân dịp có cuộc họp ngày 28-8-1972.  Bản đề nghị gồm có :

(1). Các cuộc thảo luận giữa HK và Hà Nội không thể giải quyết được những mắc mứu giữa VNCH và MTGPMN.

(2). Hà Nội không có quyền gì đề xen vào những vấn đề chính trị tại Miền Nam.  Cũng như VNCH không xen vào nội bộ chính trị của Miền Bắc.

(3). Hiến pháp VNCH năm 1967 phải được tôn trọng.

(4). HK và Hà Nội không được quyền sửa đổi Hiến pháp VNCH.

(5). Nếu Tổng thống Thiệu từ chức thì Phó tổng thống Hương sẽ kế nhiệm.

* Chú giải : Kissinger giấu kín chuyện Hà Nội không đòi thay Thiệu

So lại với biên bản mật đàm do Lưu Văn Lợi công bố thì Hà Nôi cho rằng mục đích chuyến viếng thăm Sài Gòn của Kissinger là để thăm dò tình hình sau khi nghe Lê Đức Thọ cho biết Hà Nội thôi đòi hỏi phải thay thế chế độ Nguyễn Văn Thiệu.

Lẽ ra thì Kissinger phải báo ngay tin mừng này cho Nguyễn Văn Thiệu để tạo niềm tin đối với cá nhân ông ta.  Nhưng ông ta đã không làm như vậy, ngược lại ông ta cố gài bẫy Thiệu về việc quân Bắc Việt có quyền ở lại Miền Nam.  Ông ta giải thích cho Thiệu rằng HK chấp thuận “các lực lượng quân sự phải lưu lại trong phạm vi ranh giới của mỗi quốc gia”, nghĩa là quân Bắc Việt phải ở lại trong phạm vi Bắc Việt ( Trong khi đó sự thực quân Bắc Việt tại Miền Nam được hiểu như là quân GPMN.  Sau này Kissinger giải thích rằng câu này có nghĩa là Bắc Việt không được bổ sung quân số của họ tại Miền Nam ).

Tài liệu của Bunker do Stephen Young phổ biến cho thấy ngay cả Bunker cũng không biết việc Hà Nội không còn đòi hỏi phải thay thế Nguyễn Văn Thiệu.  Tuy nhiên chứng kiến cảnh Kissinger làm trò ảo thuật chữ nghĩa trước mặt Thiệu, Bunker ghi lại :  “Bunker ngồi yên lặng trong suốt buổi họp ngày hôm ấy, mường tượng ra một giai đoạn chao đảo và bất tín sẽ xảy đến trong vấn đề bang giao giữa Washington và Sài Gòn”  ( Bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 479 ).

Trong khi đó tài liệu của CIA cho thấy rõ tác phong trịch thượng của Kissinger trước mặt Bunker : “Tối ngày 17/8 Polgar ( Trưởng chi nhánh CIA tại Sài Gòn ) được khẩn mời đến tòa đại sứ. Polgar thấy Kissinger mặc pyjama. Kissinger than phiền sự cứng rắn của tổng thống Thiệu và “chỉ thị” Polgar dùng các đường giây quanh Thiệu để áp lực Thiệu thay đổi lập trường.

Polgar nói ông không thể áp lực lộ liễu như vậy. Kissinger bảo Polgar đó là “lệnh”, rồi lạnh lùng quay sang đại sứ Bunker hỏi ông xử lý thế nào nếu nhân viên không tuân lệnh cấp trên.

Bunker cũng lạnh lùng trả lời ông đồng ý với Polgar!” ( CIA and The Generals, bản dịch của Trần Bình Nam ).

Trong khi tại Sài Gòn Bunker và Thiệu không hay biết gì về việc Hà Nội thôi không đòi hạ bệ Nguyễn Văn Thiệu thì tại Trung tâm CIA các quan chức cao cấp cũng chẳng biết gì hơn.  Đến nỗi đợi tới nửa tháng sau các quan chức tại Langley mới đoán được nhờ nghiên cứu bài diễn văn mừng Quốc khánh của Phạm Văn Đồng.

Năm 1972, ngày Quốc khánh 2-9 tại Hà Nội ( Tức là ngày 1-9 tại HK ), Thủ tướng Phạm Văn Đồng đọc diễn văn trên Đài phát thanh, loan báo Hà Nội sẵn sàng đáp ứng những yêu cầu tiên quyết từ phía Hoa Kỳ để chấm dứt chiến tranh, đặc biệt ông ta không đá động gì đến đòi hỏi tiên quyết trước đây của Hà Nội là Nguyễn Văn Thiệu phải bị thay thế.

*Chú giải :  Bài diễn văn của Thủ tướng Phạm Văn Đồng được đưa tới Trung tâm CIA tại Hoa Kỳ vào ngày cuối tuần.  Một chuyên gia phân tích tin của CIA là Frank Snepp liền gọi điện thoại cho Trưởng phòng phân tích tin của CIA để báo tin.  Người trưởng phòng lập tức đến Trung tâm và cùng Frank Snepp soạn bản báo cáo và đưa ra trình Tổng thống trong phiên họp báo cáo cuối ngày tại Tòa Bạch Ốc.

Sáng hôm sau Frank Snepp bị các cấp chỉ huy CIA khiển trách nặng nề và kỷ luật ông, không cho tiếp tục làm việc tại phòng phân tích tin của Trung tâm CIA vì lý do đã tự ý tung tin đó ra trong khi các quan chức cao cấp của CIA chưa kịp biết để “thẩm định” trước khi trình Tổng thống.

Frank Snepp bị kỷ luật không phải vì ông ta đã qua mặt cấp trên mà là ông ta đã “thày lay” so với nhiệm vụ của ông ta.  Frank Snepp đã vô tình tiết lộ những tin tức mà Nixon, Kissinger và Giám đốc CIA ( Colby ) đang muốn giấu.  Họ muốn Quốc hội HK tin rằng Hà Nội đang còn rất mạnh, có như vậy QH mới để cho Nixon được rộng tay hơn.

Cũng vì bị kỷ luật oan, bị đẩy trở lại làm việc tại VN mà Frank có dịp quan sát và đánh giá lại mọi hoạt động của CIA, nhất là trong những ngày nguy khốn của tháng 4-1975.  Sau 1975 ông trở lại HK âm thầm thâu thập tài liệu của CIA và Bộ ngoại giao HK;  rồi xin ra khỏi CIA và tung ra một tập sách để đời cho lịch sử chiến tranh VN, đó là cuốn “Decent Interval”.

BÙI ANH TRINH

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: