Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Bùi Anh Trinh – PHÂN TÍCH KẾT QUẢ CỦA TRẬN MÙA HÈ ĐỎ LỬA

1Trích sách “Giải Mã Những Bí Ẩn Của Chiến Tranh Việt Nam” của Bùi Anh Trinh.

Tổng kết chiến trận

            34 năm sau, vào năm 2006, sử gia Lewis Sortley đã có câu đúc kết về trận Mùa Hè 1972 trong bài tham luận “Reassessing ARVN”:

            Cuối tháng Ba 1972 địch tiến hành một cuộc xâm lăng cổ điển với 20 Sư Đoàn và một trận chiến tàn bạo sắt máu đã xẩy ra. Ông Douglas Pike viết, “Cuộc tấn công được sửa soạn công phu đã bị bẻ gẫy và không yểm làm cho chúng không tập hợp được và vì sư chống trả dũng cảm và kiên trì của quân Nam Việt. Bắc Quân và hệ thống giao thông của chúng đã bị triệt hạ nặng. Nhưng chính yếu là QLVNCH và cả Địa Phương Quân đã hiên ngang chống trả như chưa từng thấy.

            Bắc Quân tổn hại 100,000 người trong số 200,000 xung trận và có lẽ 40,000 đã bị giết. Họ đã mất già nửa thiết giáp và đại pháo. Sẽ cần ba năm để hồi phục trước khi tấn công lại và Tướng Vő Nguyên Giáp bay khỏi chức Tổng Tư Lệnh. Trái lại Nam Quân mất 8,000 tử vong, gần ba lần thương binh và vào khoảng 3,500 mất tích. Tướng Giáp đã tính sai và phải trả một giá đắt cho lỗi lầm ấy. Ông Pike kết luận: “Giáp đã ước sai lòng quyết tâm và sự chống trả mãnh liệt của quân Nam Việt. Hắn sai lầm về sức đề kháng của QLVNCH”.

            Về sau nhiều người chỉ trích nói rằng Nam Quân đã đẩy lui được Bắc Quân nhờ có không yểm của Mỹ. Tướng Abrams đã phản ứng mạnh mẽ và nói với các cấp chỉ huy của ông rằng, “Tôi không tin là không có không trợ mọi việc đã giữ vững được. Tuy nhiên phải có những người Việt Nam đứng thẳng chiến đấu. Nếu họ không dũng cảm làm như vậy thì đến mười lần không quân cũng không chận đứng được bọn cộng sản ( Bản dịch của Trần Đỗ Cung ).

            *Chú giải : Mãi cho đến năm 2006 các nhà nghiên cứu quân sử Hoa Kỳ vẫn chưa biết rằng năm 1972 Võ Nguyên Giáp đang là tội đồ của ĐCSVN.  Ông ta bị ghép cho tội cầm đầu nhóm “Xét lại chống Đảng” ( Hồi ký của Phó thủ tướng Trần Quỳnh, hồi ký của Đại tướng Hoàng Văn Thái, hồi ký của Vũ Thư Hiên ).  Tuy nhiên bề ngoài Lê Duẩn vẫn để cho Tướng Giáp giữ chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng để hù dọa các chuyên gia quân sự Hoa Kỳ.  Trong khi đó chính Lê Duẩn trực tiếp điều động Bộ Tổng tham mưu của CSVN với tướng TTM trưởng Hoàng Văn Thái và tướng TTM phó Lê Trọng Tấn.

            Nhìn từ phía Hà Nội

Hồi ký của Phó thủ tướng Trần Quỳnh ghi lại : Lê Duẩn cho rằng có thể giải phóng được Huế, bằng cách đưa bộ binh vào nhanh, với lực lượng không lớn, đánh thốc vào Huế, không cần xe tăng và pháo lớn. Nhưng anh em quân sự ta, quen đánh theo cách đã học ở Liên Xô: phối hợp pháo binh, xe tăng và bộ binh, không dám thực hiện ý kiến của Lê Duẩn. Để đưa pháo và tăng vào phải xẻ đường xuống sông và bắc cầu phao qua nhiều con sông của Nam Quảng Trị và Bắc Thừa Thiên, những con sông bờ rất cao và đứng, mất nhiều thời gian. 

Có thời gian, địch củng cố lại hàng ngũ, phản kích lại ta, ta phải quay về cố thủ Quảng Trị.  Địch dùng B52 thả bom rải thảm.  Quân ta hy sinh quá nhiều, chịu không nổi đành phải bỏ Thị xã Quảng Trị qua cố thủ bên kia bờ Thạch Hãn.

“Sau trận ấy, không giữ được Quảng Trị anh em bên quân sự cho rằng vì Lê Duẩn ra lịnh đánh Huế cho nên mất Quảng Trị.  Nếu không chủ trương đánh Huế thì giữ được Quảng Trị rồi. Nhiều người còn nói là Lê Duẩn “có tài nướng quân”.

Tiếng nói gay gắt nhất là của Song Hào, Lê Quang Đạo.  Lê Duẩn trả lời: Vì không chịu đánh Huế nên mất Quảng Trị. Nếu biết cách đánh và lấy được Huế thì chiến thắng ở mặt trận phía Bắc này (chỉ Quân khu Trị Thiên và Quân khu 5), biết đâu sẽ còn tiến xa hơn về Đà Nẵng.

 Hai bên cãi qua lại. Lê Duẩn bảo: tương lai của cuộc chiến tranh sẽ trả lời ai đúng ai sai. Vấn đề cứ để đó.  Tương lai còn đó”.

Đoạn tài liệu trên đây cho thấy nội bộ CSVN rõ ràng là “tang gia bối rối” vì kết quả thực tế cho thấy quân CSVN không thể địch lại quân VNCH trong trận địa chiến.  Mặc dầu quân CSVN bị thiệt hại nặng do B.52 nhưng B.52 chỉ thả ở vùng rừng núi chứ không thả vào khu dân cư. Còn tại thành phố thì quân CSVN không thể nào qua được ngay cả lực lượng Nghĩa quân ( Kontum ) và Nhân dân tự vệ ( An Lộc ).  Nghĩa là Hà Nội muốn nuốt được Miền Nam bằng quân sự thì không thể nào làm nổi.

Ngoài ra hồi ký Trần Quỳnh cũng là một bằng chứng xác nhận tác giả của trận Mùa Hè Đỏ Lửa cũng là Lê Duẫn.  Nhưng sự thất bại lần thứ hai sau thất bại Mậu Thân đã khiến cho uy lực của Lê Duẩn giảm sút mạnh đến độ Song Hào và Lê Quang Đạo công khai cãi nhau tay đôi với Lê Duẩn.

Người đời khá ngạc nhiên trước tiết lộ của Trần Quỳnh về hai ông Tướng chính trị của CSVN.  Thực ra vai vế trong ĐCSVN thì hai ông cao hơn Lê Duẩn một bực, hai ông và những người như Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng… vào ĐCSĐD từ năm 1930 ( Trần Phú ).  Còn Lê Duẩn từ Tân Việt Cách mạng Đảng chuyển sang ĐCSĐD vào năm 1938 ( Hà Huy Tập ).

Còn Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì cho tới đại hội toàn quốc 1951 vẫn còn ở ngoài Ban chấp hành Trung ương đảng.  Cho nên vai vế của VNG trong Quân ủy thực ra phải dưới Song Hào, Lê Quang Đạo, Văn Tiến Dũng và cả Nguyễn Chí Thanh ( vào Đảng năm 1938 ).

            Nhìn từ phía Tổng thống Thiệu 

Theo như lời kể lại của cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu với Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng trong “Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập” thì Kissinger đưa ra những đề nghị nhượng bộ với những lý do phi lý khiến cho ông nghi ngờ Kissinger đã lừa gạt ông để có những thỏa thuận bất lợi đối với VNCH.  Tổng thống Thiệu cho rằng ông đã chứng minh được quân đội VNCH dư sức đối phó với đại quân của Bắc Việt.

Và cũng đã chứng minh được rằng dân chúng Việt Nam hoàn toàn không ưa chế độ Cọng sản.  20.000 xác chết của dân lành vộ tội trên Đại Lộ Kinh Hoàng đã cho thấy nhân dân VN thà chết chứ không chịu chung sống dưới chế độ Cọng sản.  20 ngàn xác chết cũng là bằng chứng cho thấy sự dã man tàn bạo của quân đội CSVN, họ sẵn sàng giết thường dân vô tội không ghê tay.

Vậy nếu họ chiếm được toàn Miền Nam thì con số xác chết của dân lành sẽ là bao nhiêu?  Không lẽ Hoa Kỳ không thấy được trách nhiệm của họ trước cảnh nhân dân VN bị tàn sát?  Chính vì vậy mà Tổng thống Thiệu đã có thái độ gần như sắt đá trước những nhượng bộ vô lý của Kissinger.  Và cũng chính vì thái độ này mà báo chí HK nổi lên nguyền rủa Nguyễn Văn Thiệu là ngoan cố, hiếu chiến, tham quyền cố vị, vô lương tâm, v.v…

Chẳng riêng gì Tổng thống Thiệu ngày đó, cho tới sau này, khi mà các nhân vật trong cuộc lần lượt viết hồi ký kể lại diễn biến từng ngày của hòa đàm Paris thì các nhà nghiên cứu chính trị cũng đặt một dấu hỏi lớn về thái độ vội vàng của Kissinger sau khi phía Hà Nội đã tỏ dấu hiệu bắt đầu xuống nước bằng cách không đòi lật đổ chế độ Nguyễn Văn Thiệu và đòi 4,5 tỉ Đô la.

Theo các nhà nghiên cứu thì con số 4,5 tỉ USD không nghĩa lý gì so với chi phí chiến tranh của HK tại VN, hay so với sự thiệt hại quyền lợi của Hoa Kỳ nếu họ để mất thị trường Đông Nam Á.  Bất cứ ai có một chút tính toán đều thấy rằng giờ đây HK chỉ việc chung 4,5 tỉ để đem tù binh trở về và dùng 3,5 tỷ còn lại để hỗ trợ cho VNCH giữ vững Miền Nam, đồng thời cũng có nghĩa là giữ vững quyền lợi của HK tại Đông Nam Á.  HK không còn phải lo về sự chết chóc của quân đội HK cũng như không còn phải lo về viễn ảnh thua trận.

Nhìn từ phía Tiến sĩ Kissinger

Mãi cho đến năm 2002 thì các nhà nghiên cứu chính trị mới có đủ thông tin để suy ra  sự vội vàng của Washington ngày đó, chẳng qua là vì cao vọng của Kissinger.  Nhà bình luận chính trị nổi tiếng Larry Berman đã viết trong tác phẩm No Peace, No Honor :  “Đối với Kissinger tình hình hơi khác.  Được khích lệ bởi những thành công ở Trung Quốc và Liên Xô; và càng trở thành một người nổi tiếng trên thế giới, ông càng mong muốn ký kết được một hiệp ước hòa bình ở Ba Lê trước ngày bầu cử” ( Bản dịch của Nguyễn Mạnh Hùng trang 194 ).

Tháng 2 năm 1972 Kissinger nổi tiếng trong việc bắt tay với Trung Quốc, sang tháng 5 năm 1972 Kissinger lại nổi tiếng trong việc bắt tay với Liên Xô;  nhưng người ta sẽ đặt dấu hỏi về tài năng của Kissinger nếu ông ta không chấm dứt đựợc cuộc đàm phán kéo dài đã 4 năm nay.

 Chính vì vậy mà Kissinger muốn có một thành công thứ 3 cũng trong năm 1972 thì ông ta sẽ làm thành một cuộc thành công “triple” ( Gấp ba ).  Với thành công này ông ta sẽ trở thành nhân vật số một trong lịch sử của ngành ngoại giao thế giới.  Chắc chắn chiếc huy chương Nobel Hòa Bình trong năm 1973 sẽ về tay ông ta, và ông ta vượt qua nhân vật Nixon để trở thành nhân vật có uy tín bậc nhất để đứng ra hòa giải mọi tranh chấp quốc tế.

Mộng ước của Kissinger đã trở thành rõ nét trong cuộc họp với Lê Đức Thọ ngày 1 tháng 8 năm 1972.  Lê Đức Thọ đưa ra 2 đề nghị mà trong 4 năm qua Hà Nội vẫn giữ khư khư như là 2 món bửu bối, đó là không đòi hỏi phải lật đổ Thiệu và đặt ra vấn đề đòi bồi thường chiến tranh.  Trong ngày này quân VNCH đã chiếm lại quận Hải Lăng, quận Mai Lộc , quận Triệu Phong của tỉnh Quảng Trị và đang chuẩn bị tấn công chiếm lại Cổ thành.  Tuy nhiên Kissinger mưu đồ dành chiến công này cho Liên Xô, ông muốn cả thế giới biết rằng Hà Nội chịu ký hòa ước là do áp lực của Liên Xô, dĩ nhiên Liên Xô chịu ra tay giúp Hoa Kỳ là do tài đi đêm của Kissinger.

Trong khi đó sự thực hoàn toàn khác hẳn, Hà Nội ngưng tấn công là do quân đội CSVN bị thất bại hoàn toàn trên các chiến trường Miền Nam, và quan trọng hơn hết là tất cả hỏa tiễn, xe tăng và đạn đại bác của quân CSVN đã sài hết sạch trong cuộc tổng tấn công Mùa Hè.  Còn kết quả áp lực của Liên Xô trong chuyến đi Hà Nội của Katusep đã được ghi lại trong tài liệu của CSVN :

Ngày 27-4-1972, Thủ tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng tiếp Katusep để nghe chuyển các đề nghị của HK thông qua Mạc Tư Khoa.  Nghe xong các đề nghị của HK, Thủ tướng Đồng đập bàn trước mặt Katusep : “Ai cho phép họ đe doạ chúng tôi? Ai cho phép họ nói cho chúng tôi làm việc này, không cho chúng tôi làm việc nọ? Ai cho phép họ nói: Nhà Trắng không cho phép kéo dài đàm phán trong thời gian có bầu cử ở Mỹ?”. ( Tài liệu “Các cuộc Thương Lượng của Lê Đức Thọ & Kissinger Tại Paris”,  do Lưu Văn Lợi công bố )

Trong thời điểm này, 27-4, quân CSVN đang tiến quân gần tới Huế, vừa mới chiếm xong Dak Tô và Tân Cảnh 3 ngày trước, đang chuẩn bị tấn công An Lộc lần thứ 5 sau gần 1 tháng vây hãm.

Sự nổi giận của Phạm Văn Đồng ngày đó hoàn toàn có lý, những người ngồi tại Washington cứ đinh ninh rằng Hà Nội nhận viện trợ của LX và TQ để đánh Miền Nam cũng giống như VNCH nhân viện trợ của HK để đánh CSVN, một khi bị đe dọa cúp viện trợ thì Hà Nội sẽ ngoan ngoãn theo lệnh của Mạc Tư Khoa hay Bắc Kinh.  Trong khi đó Washington không ngờ rằng trong hằng chục năm nay Hà Nội cắp rổ đi mượn nợ với quyển sổ nợ khổng lồ.  Nếu họ thất bại thì liệu Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa có xóa nợ cho họ hay không ?

Bạch thư của CSVN năm 1979 cho thấy mặc dầu Bắc Kinh  buộc Nixon phải giải tỏa lệnh cấm vận và lấy được chiếc ghế đồng chủ tịch Hội đồng Bảo an LHQ nhưng Bắc Kinh vẫn bắt HN phải trả đủ 20 tỉ USD tiền chiến phí mà CSVN đã vay của TQ để chống Mỹ.

BÙI ANH TRINH

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

1 Comment on Bùi Anh Trinh – PHÂN TÍCH KẾT QUẢ CỦA TRẬN MÙA HÈ ĐỎ LỬA

  1. tôi không rành lắm về thời cuộc lúc đó nhưng theo tôi HK năm 1972 sáng BK nhằm gây chia rẽ giữa LX & BK nhằm thực hiện kế hoạch nhằm vào khối ĐÔNG ÂU vì LX mới là đáng ngại bằng có chỉ 4 năm sau khởi ĐỘNG ÂU hoàn toàn tan rã mà không tốn tiền của & xương máu

    Số lượt thích

3 Trackbacks / Pingbacks

  1. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ CỦA TRẬN MÙA HÈ ĐỎ LỬA | dòng sông cũ
  2. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ CỦA TRẬN MÙA HÈ ĐỎ LỬA – Bến cũ
  3. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và cuộc chiến chống CSBV từ 1967 – Tháng Tư 1975 – Bến xưa

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: