Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

hoànglonghải – “Hương Tràm Trà Tiên” Bài 11: Mừng Sinh Nhật “Bác”!

1Mỗi năm, cứ đến những ngày lễ, tết, Việt Cộng thường tổ chức những cuộc tấn công, ám sát, đắp mô, đặt mìn phá hoại, hoặc ít ra là rải truyền đơn để kỷ niệm, mừng ngày thành lập hay “mừng sinh nhật “bác” nếu đó là dịp ngày sinh của Hồ Chí Minh. Tính chung, chỉ nói riêng về ngày sinh của một người như Hồ Chí Minh thì có hàng chục, hàng trăm, có khi hàng ngàn người bị giết chết, tùy theo Việt Cộng tổ chức tấn công lớn nhỏ. Nhân dịp sinh nhựt Hồ năm 1973, ở Vàm Rầy, một xã nhỏ, có 3 người bỏ thân: Thiếu úy Cảnh Sát Phan Trí Huệ, 20 tuổi, gia đình ở đường Nguyễn Cư Trinh, Saigon, còn độc thân; thiếu úy Trực, bỏ lại một vợ hai con và thượng sĩ Trần Văn Út, bỏ lại một vợ bốn con. Đó là chưa kể những hậu quả khác từ những cái chết ấy. Tính chung, cả miền Nam, không ít người xuống âm phủ gặp Diêm Vương để kêu oan, khiếu nại họ Hồ.

Cũng nhân dịp đó, một số người bị Quốc Gia bắt:

            Người bị tội nặng nhứt là cha con Sáu Chơn. Sáu Chơn cũng ở xóm Đồn Giữa, xã Đức Phương, nhà gần nhà Năm Tu-Hú.

Sáu Chơn giữ nhiệm vụ dẫn một toán Việt Cộng, đi xuống xóm Biển, vượt qua kinh Vàm Rầy, rồi đi ngược lên hướng cầu Vàm Rầy, tấn công vào mặt sau trụ sở Cảnh Sát và Phân Chi khu. Sáu Chơn cũng khai luôn em gái ông ta, (không nhớ tên), vợ của một binh sĩ Sư Đoàn 21, treo đèn sau nhà, để toán đặc công bên kia kinh Vàm Rầy, biết là không có lính Quốc Gia phục kích bên phía nầy, nhất la toán nghĩa quân hay phục kích ở gần chùa, bên kia con đường mòn xuống xóm Biển, để toán đặc công nầy qua sông, tấn công trước. Toán do Sáu Chơn dẫn đường sẽ tiếp ứng sau đó. Con trai Sáu Chơn tên là Quận, dẫn một toán khác, đi dọc theo kinh Xà-Tón, vượt qua kinh Hà Tiên – Rạch Giá, tiến từ hướng Hà Tiên xuống tấn công vào phía trái mục tiêu nói trên.

            Lực lượng Việt Cộng khoảng một trăm tên, trong khi lực lượng Cảnh Sát chỉ có 7 ngoe, kể cả thiếu úy Phan Trí Huệ, trưởng cuộc và thiếu úy Trực, phân chi khu trưởng. Thiếu úy Trực không có lính, ngoài tiểu đội nghĩa quân gác cầu Vàm Rầy.

            Thiếu úy Huệ, mới xuất thân ở học viện, không có kinh nghiệm đánh chác gì cả, làm việc chăm chỉ, cần cù, nhưng về tình báo thì cũng mù tịt luôn. Thiếu úy Trực mới tốt nghiệp khóa sĩ quan đặc biệt, có lẽ cũng có kinh nghiệm chiến đấu ít nhiều. Ông ta tới đóng chung với Cảnh Sát vì tình bạn giữa Trực và Huệ, hơn là nhu cầu công tác.

            Theo kinh nghiệm, vào những ngày lễ của Việt Cộng như sinh nhật Hồ Chí Minh, lễ độc lập 2 tháng 9, ngày thành lập đảng Cộng Sản 3 tháng 2 hay dịp Tết âm lịch, Việt Cộng thường hay tổ chức tấn công nơi nầy nơi kia để lập chiến công. Năm nay, 1973, nhân ngày sinh nhựt Hồ Chí Minh, 19 tháng 5, chúng cũng tổ chức lập chiến công dâng “Bác”.

            Phe ta cũng có phòng bị. Trước ngày lễ hơn nửa tháng, trung ương đã gởi văn thư xuống tới xã ấp, chi khu, phân chi khu chỉ thị chỉnh đốn hệ thống phòng thủ, theo dõi hoạt động của địch, v.v… đề phòng địch tấn công. Theo dõi địch thì tương đối dễ, nhưng chỉnh đốn hệ thống phòng thủ thì “hơi”… trở ngại. Đã lâu lắm, chúng tôi không còn được phát kẽm gai, cọc sắt để chỉnh đốn hàng rào phòng thủ. Lựu đạn còn phải mua, nói chi tới cọc sắt kẽm gai, ngoại trừ mua để làm nhà như ở dinh điền Cái Sắn thì hàng không giờ bị thiếu.

            Đêm 18 tháng 5, hai ông thiếu úy Trực và Huệ cũng không đi ngủ sớm, đôn đốc canh gác, đâu đó xong xuôi, quá nửa khuya hai ông mới đi ngủ. Họ không có kinh nghiệm. Nếu Việt Cộng có tấn công, cũng phải quá nửa đêm, chờ chúng ta ngủ say. Nếu biết vậy, mới tối, nên lo đi ngủ sớm, cỡ 11 giờ đêm, thức dậy canh chừng. Địch có tấn công thì còn phản ứng kịp. Đàng nầy, đầu hôm, khi địch chưa có khả năng tấn công thì họ thức chờ. Đến thời điểm địch có thể tấn công được thì cả hai buồn ngủ, rủ nhau đi ngủ. Thành ra, khi mấy tên đặc công chui qua khỏi hàng rào mà không ai biết, thì cứ mỗi phòng, chúng ném một quả bêta. Hai ông thiếu úy chết ngay tại chỗ, ngay trong phòng ngủ của họ. Thượng sĩ Nguyễn Văn Út, phó cuộc, chạy ra hầm truyền tin, để báo cáo về quận, chưa kịp gọi thì cũng bị Việt Cộng ném một quả bêta vào hầm truyền tin, thượng sĩ Út cũng chết tại chỗ. Các nhân viên Cảnh Sát khác, kịp chui qua hàng rào, lao xuống cái hào sâu bên cạnh, thoát nạn.

            Việt Cộng tràn vào chợ xã. Xã trưởng Ngô Văn Àn nhà ở cuối chợ, sát kinh Rạch Giá – Hà Tiên, thấy động, lẻn ra bờ kinh, lặn xuống nước núp, chỉ chừa cái đầu để thở. Trưởng ấp Chín Đực, một cựu hồi chánh viên, chỉ huy toán nhân dân tự vệ khoảng chục người, trốn ra phía sau trường học.

            Cô chủ quán hủ tiếu ngay chợ, nói với tôi:

– “Họ (Việt Cộng) đói lắm ông ơi! Vào quán, họ lấy hủ tiếu của tui ăn hết!”

– “Họ ăn với gì? Ăn nể à?” Nhớ “nể” là tiếng địa phương, người Nam không hiểu, tôi sửa lại: “Ăn không à?”

– “Không, họ biểu tui lấy xì dầu với ớt! Hết cả rổ hủ tiếu của tui.” Cô ta trả lời.

– “Vậy là can tội nuôi Việt Cộng đó!” Tôi nói đùa.

– “Tui chưa khiếu nại là may. Quốc Gia giữ an ninh không xong, để Việt Cộng vô cướp tài sản của tui.”

Nghe nói, tôi làm thinh, không ngờ dân quê mà họ cũng rành luật pháp vậy. Đúng là trách nhiệm phe Quốc Gia, không “Bảo Vệ Dân Chúng” được như trong các bài học về Phượng Hoàng.

– “Cô có nghe họ nói tiếng gì không. Bắc hay Nam?” Tôi hỏi.

– “Không có người Bắc đâu, toàn giọng Nam. Có một ông hỏi tui, trạm y tế đâu.” Cô ta trả lời.

– “Hỏi trạm y tế để làm chi?” Tôi lại hỏi.

– “Xời! Có ai bị thương đâu mà hỏi trạm y tế. Người ta hỏi để lấy thuốc chớ chi!” Cô ta giải thích.

Câu chuyện làm tôi nhớ tết Mậu Thân ở Huế, hồi ấy tôi còn đi dạy, chưa đi lính. Chiếm thành phố Huế tới đâu là Việt Cộng vét hết thưốc trong các tiệm thuốc Tây tới đó. Đói ăn và đói thuốc, Việt Cộng cần cả hai.

Sáng hôm đó, sau khi bên phía Chi Khu cũng như Cảnh Sát không liên lạc được với đơn vị thống thuộc, tôi gặp ông thiếu tá quận trưởng Sầm Long lúc hơn 2 giờ sáng tại chi khu. Chúng tôi hẹn nhau sáng mai sẽ xuống Vàm Rầy sớm.

Chúng tôi lên xe đi khi trời mới rạng sáng. Cũng yên tâm một chút, ông quận có ra lệnh cho nghĩa quân, ra khỏi đồn giữ an ninh lộ trình.

Sau khi kiểm tra đâu đó xong, thì thiếu uý Kiệt, phụ trách Cảnh Sát Đặc Biệt, cũng xuống xã sau tôi chỉ ít phút, cho nhân viên bung ra điều tra. Hồi sau nửa đêm, sau khi gặp quận Long, tôi có nói với thiếu úy Kiệt, lúc đó cũng có mặt ở văn phòng của ông rằng: “Đánh giặc ở miệt ruộng, không có giao liên, chúng nó không thể tấn công vào xã được. Ông rán tìm cho được bọn giao liên.”

Vì vậy, chỉ hơn nửa tiếng sau khi xuống tới xã, thiếu úy Kiệt và thượng sĩ Năm Hùng gặp tôi nói:

– “Tối qua, khi Việt Cộng tấn công, Chín Đực dẫn toán nhân dân tự vệ chém vè phía sau trường học. Vợ y, nghe súng nổ dữ quá, chui xuống gầm giường. Có hai tên vào nhà Chín Đực, dùng hộp quẹt để mở lấy cái đầu máy may của con vợ. Nhờ lửa hộp quẹt, vợ Chín Đực thấy rõ mặt là cha con Sáu Chơn.”

Thiếu úy Kiệt cũng cho biết đã cho nhân viên xuống nhà Sáu Chơn lục soát.

Chưa được nửa tiếng, nhân viên thiếu úy Kiệt gọi máy báo cáo tìm thấy một đầu máy may dấu sau nhà Sáu Chơn. Vậy là rõ, cả hai cha con Sáu Chơn bị bắt.

Sáu Chơn, một vợ 7 con, đi lính Bảo An thời Ngô Đình Diệm, không nhớ lý do giải ngũ, dân cố cựu ở Vàm Rầy. Con trai đầu của y, tên Quận cũng đã lớn, tới tuổi quân dịch nhưng còn trốn tránh ở nhà. Xóm đồn giữa xôi đậu, ban ngày Quốc Gia, ban đêm Cộng Sản. Quốc Gia cũng ít lui tới chỗ nầy nên tên Quận còn trốn quân dịch được. Vả lại, suốt ngày hai cha con đi làm đồng, Quốc Gia làm sao đụng tới y mà bắt đi lính. Chiều tối, khi cha con về tới nhà thì Quốc Gia cũng rút về xã, về quận, chẳng có ai gan lì ở lại đó để đụng đầu với Việt Cộng.

Ruộng vườn không có, vốn liếng không có, chạy ăn từng ngày, làm đồng không đủ sống, theo Việt Cộng để dễ kiếm ăn như ưu tiên bắt cá đìa, ưu tiên đốn tràm, v.v… lần hồi không theo Việt Cộng cũng không được.

Chúng nó hẹn đêm đó, 18 tháng 5, khi chúng nó tới thì dẫn đường cho chúng đi đánh Quốc Gia, ngoài ra, chẳng biết mô tê gì.

Theo lời khai của Sáu Chơn, khi vào rừng đốn tràm, gần kinh Kháng Chiến, người y thường gặp là Bảy Mốc. Bảy Mốc cũng từng đi lính Bảo An với Sáu Chơn thời Ngô Đình Diệm, giải ngũ về làm trưởng ban kinh tài cho xã Đức Phương của Quốc Gia. Máu mê cờ bạc, Bảy Mốc thua sạch tiền quĩ xã. Xã trưởng báo cáo lên quận, Cảnh Sát đang điều tra thì Bảy Mốc bỏ theo Việt Cộng vì y nghĩ trước sau cũng bị tù. Tiêu tiền quỹ của xã gần 5 chục ngàn, đâu phải số tiền nhỏ. Nếu không có tiền đền, ở tù là chắc. Cảnh Sát cho biết vậy rồi nên y dông vô trỏng. Theo Việt Cộng một thời gian, y được huyện cho làm bí thư xã. Xã chỉ có hai cán bộ: Bảy Mốc là bí thư, Tư Ngọc là kinh tài. Ngày hoạt động loanh quanh vùng tràm cùng với đám du kích của huyện, giữ rừng tràm và đường giây 1-C.

Lần Bảy Mốc gặp Sáu Chơn hỏi tình hình lính tráng, đang đứng nói chuyện thì bỗng có một người từ trong rừng tràm đi ra, có hai du kích đi hộ tống. Bảy Mốc có vẻ lo sợ, nói: “Ông huyện tới.” Sáu Chơn cũng không biết ông huyện là ai mà Bảy Mốc có vẻ sợ sệt như vậy.

Hai Quận bị bắt, nhưng ông quận Long thấy cả hai cha con đi tù tội nghiệp, bèn dụ Hai Quận làm đơn xin chuyển qua hồi chánh, chỉ đi học 3 tháng ở Trung Tâm Chiêu Hồi, sau đó đi lính, còn hơn ở tù. Thằng bé nhà quê, học hành chưa tới lớp Ba, nghe nói khỏi ở tù thì mừng, bèn ký đơn do Cảnh Sát làm giúp. Nó được đưa ra Trung Tâm Chiêu Hồi. Trước khi đi còn được về thăm nhà, mặc dù có Cảnh Sát Đặc Biệt theo canh chừng, sợ thằng bé dông tuốt vô trỏng, nhưng Hai Quận cũng vui mừng lắm. Cha y thì giải về tỉnh.

Hôm tôi từ xã Tín Đạo (Tri Tôn – Rạch Giá) về ngang đồn giữa, nhớ chuyện cha con Sáu Chơn, tôi hỏi nhà, ghé lại thăm hỏi. Đứa con nhỏ còn bú, năm đứa còn lại ở trần lòi rún, không có cơm ăn. Vợ Sáu Chơn chịu thua số phận, không biết làm gì để nuôi con. Vả lại, trước nay, vợ Sáu Chơn chỉ lo đẻ và giữ con. Cơm gạo Sáu Chơn lo hết. Nay Sáu Chơn ở tù, ai nuôi con? Thấy người chính quyền Quốc Gia tới, vợ Sáu Chơn khóc: “Mấy ông bắt chồng tui ở tù, tui lấy gì nuôi con tui mấy ông ơi!” Vốn ít khi có sẵn tiền, tôi mượn tài xế tờ giấy 5 trăm, biểu đưa cho bà. Biết làm sao bây giờ!

Tôi cũng ghé ngôi chùa kế nhà Sáu Chơn, tìm ông thấy chùa nổi tiếng sư hổ mang, sư lại cái.

Ông sư còn trẻ. Có lẽ đi tu chỉ là trốn quân dịch. Đang tu ở chùa nào đó ngoài Rạch Giá thì ông bỏ vào đây, ở trong ngôi nhà lá bỏ hoang, mà ông gọi là chùa.

Nói sư hổ mang thì cũng tội nghiệp. Vào chùa chỉ là cái cớ để ông được “hoãn dịch vì lý do tu sĩ” còn cỡ như ông nầy, nếu không núp bóng Phật giáo vì sợ đi lính thì ông ta sẽ là ông đạo như các ông đạo Liếm, đạo Sờ nổi tiếng trên báo chí một thời, nhưng chắc chắn không phải ông đạo Dừa.

Chùa của ông như cái chòi lá ai bỏ hoang, ông đặt một cái bàn trên có hình phật tổ và một bát nhang chiếu lệ như là nơi tu hành. Bên cạnh có một cái giường tre. Vậy mà ông cũng có một đệ tử, nữ đệ tử mới éo le. Cô gái bỏ nhà ở Rạch Giá theo ông là em một anh cảnh sát dã chiến, thuộc trung đội của thiếu úy Ký. Biết chuyện, thiếu úy Ký gọi cho người lính của ông vào đem cô em gái về. Phải mấy lần như vậy, gia đình cô gái làm dữ với cô, cô mới chịu bỏ tu hành với ông “thầy chùa” trẻ.

Vậy là chùa chỉ còn môt mình ông. Ông ta bỏ chùa đi tối ngày, có đêm không về, bỏ nhang tàn bàn lạnh. Ông ta đi đâu?

Ông đi buôn lậu, mang đường cát từ Hà Tiên về bán ở Rạch Giá. Gai mắt, mấy bà buôn lậu hỏi ông: “Thầy chùa mà cũng đi buôn lậu?” Ông ta nói liều: “Bộ tui ăn chưn nhang mà sống được sao?”

Thiếu úy Ký thấy ông đi buôn lậu, lại điệu bộ như PD, bèn báo cáo về tỉnh, tỉnh liên lạc với chùa ở Rạch Giá, gọi ông ta về.

Không chịu về chùa, ông bỏ xóm đồn giữa đi mất tiêu.

hoànglonghải

(xem tiếp bài 12)

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: