Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

KISSINGER ĐI ĐÊM VỚI BẮC KINH, HÀ NỘI CAY ĐẮNG – Bùi Anh Trinh

1Trích sách “Giải Mã Những Bí Ẩn Của Chiến Tranh Việt Nam” của Bùi Anh Trinh

Kissinger bí mật đi Bắc Kinh

Năm 1971, ngày 8-7, Kissinger viếng thăm thủ đô nước Pakistan.  Tại đây với sự sắp xếp của Tổng thống Pakistan, ông giả cớ đau bụng trong một bữa tiệc, sau đó ông lẻn đi Bắc Kinh. Tại Bắc Kinh, từ ngày 9 đến ngày 11-7, Kissinger hội đàm với Thủ tướng Chu Ân Lai.

Năm 1971, ngày 12-7, Kissinger từ Pakistan trở lại Paris gặp Lê Đức Thọ để cho biết quan điểm của Tổng thống Nixon về đề nghị 9 điểm mà Hà Nội đưa ra trong lần trước.  Kissinger nói rằng Nixon không chấp nhận chuyện “bồi thường” nhưng sẵn sàng trình xin Quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận một ngân khoản “đóng góp tái thiết” toàn Đông Dương.

Lê Đức Thọ không có phản ứng gì về việc này, có nghĩa là “vậy cũng được” nhưng sau đó thì Lê Đức Thọ không hề đả động tới cái giá của ngân khoản tái thiết là bao nhiêu, ông ta chỉ nằng nặc đòi phải  hạ bệ Nguyễn Văn Thiệu.

Khi Kissiger hỏi rằng làm cách nào đề hạ Thiệu thì Thọ đáp : “Các ông thiếu gì cách” ( Nguyên văn còn ghi trong biên bản được lưu trữ trong hồ sơ Bộ Ngoại giao CSVN ).  Tuy nhiên theo như hồi ký của Kissinger thì: “Thọ đòi tôi phải hạ Thiệu bằng mọi cách, kể cả đảo chánh hay ám sát”.

Hai bên chia tay trong phấn khởi và hy vọng, hẹn gặp lại nhau vào ngày 26-7.  Hồi ký của Kissinger ghi lại là “Đáng khích lệ chưa từng có”.

* Chú giải :  Từ trước đến nay Kissinger chỉ sợ nhất 2 điều : Một là Hà Nội đòi giá cao cho việc đổi nhóm chữ “bồi thường chiến tranh” thành “đóng góp tái thiết sau chiến tranh”, nghĩa là Hoa Kỳ phải mua “danh dự” bằng Đô la.  Hai là HK phải chuộc tù binh trở về cũng bằng Đô la.

Chỉ cần Hà Nội đòi ghi rõ con số Đô la mà Hoa Kỳ phải “chung chi” vào trong văn bản hiệp định thì dư luận quốc tế thừa sức hiểu rằng con số đó là tiền bồi thường chiến tranh hay là tiền viện trợ thiện nguyện.  Bởi vì theo quy luật quốc tế thì nước nào bị thua trong chiến tranh sẽ phải chi tiền bồi thường chiến tranh cho đối phương.

Nhưng nay căn cứ theo thái độ của Lê Đức Thọ và Xuân Thủy thì rõ ràng Hà Nội không hề lưu ý tới nỗi lo sợ bị mang tiếng là thất trận của Hoa Kỳ.  Ngược lại, Lê Đức Thọ chỉ quan tâm tới hai vấn đề rất nhẹ ký đối với Hoa Kỳ, đó là rút hết quân càng sớm càng tốt và phải thay chế độ Nguyễn Văn Thiệu.

Chuyện rút hết quân thì ngay chính Washington cũng đang mong được rút sớm để mau rảnh nợ đối với giới phản chiến Hoa Kỳ.  Mà nay Hà Nội lại gắn liền chuyện rút quân song song với việc trao trả tù binh thì quá hay, Nixon sẳn sàng rút hết quân  trong 10 ngày (184 ngàn người) nếu Hà Nội chịu trao trả tù binh trong 10 ngày.

Riêng chuyện Hà Nội nằng nặc đòi thay Thiệu khiến cho Kissiger chú ý và tung ra nhiều câu hỏi hóc búa dưới dạng ngây thơ để moi cho được thâm ý của Hà Nội trong việc này, linh tính cho ông biết rằng Hà Nội coi trọng chuyện lật đổ Thiệu hơn là chuyện bồi thường chiến tranh.

Và sau đó thì các chuyên gia phân tích của Kissinger đã không khó khăn gì để thấy ra ý đồ của Hà Nội :  Họ muốn Hoa Kỳ làm cái việc mà Hà Nội phải làm sau khi quân đội Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam, đó là giao chính quyền Miền Nam Việt Nam vào tay một chính phủ do CSVN đưa ra.

Chính phủ này sẽ ra lệnh cho các quân nhân VNCH giao nộp vũ khí để trở về cuộc sống dân sự.  Sau khi đã tước vũ khí của quân đội rồi thì họ lùa tất cả các sĩ quan và công nhân viên chức của chế độ VNCH vào các trại tập trung.  Sau đó bắt nhân dân Miền Nam phải giao nạp tất cả đất đai tài sản cho “cách mạng” ( tức là giao nộp cho Đảng CSVN ).  Làm được như vậy họ không phải tốn thêm tiền, thêm đổ máu,  và thêm hận thù.

Bắc Kinh trở mặt, Hà Nội cay đắng

Năm 1971, ngày 13-7, hai ngày sau khi tiễn Kissinger, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai bí mật sang Hà Nội.  Trong cuộc họp với Lê Duẫn và Phạm Văn Đồng, Chu cho biết là vừa qua Kissinger bí mật đến Bắc Kinh với hai đề nghị của Nixon, một là nhờ Trung Quốc giải quyết chiến tranh Đông Dương, hai là Hoa Kỳ sẽ để cho Trung Quốc được gia nhập Liên Hiệp Quốc và Mỹ sẽ rút bớt 2/3 quân số đang trú đóng trên đảo Đài Loan.  Nhưng vấn đề số một và số hai có liên quan với nhau, nghĩa là có giải quyết xong vấn đề chiến tranh tại Đông Dương thì mới tới chuyện Trung Quốc. (Bạch thư của chính phủ Hà Nội, Sự Thật Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, trang 57).

Nguyên văn của Bạch thư : “ Thông báo cho phía Việt Nam biết về cuộc đi Bắc Kinh lần thứ nhất  của Kít -xinh-giơ , ngày 13 tháng 7 năm 1971 Đoàn đại biểu cấp cao của Trung Quốc ( Chu Ân Lai ) đã nói :

“Vấn đề Đông Dương là quan trọng nhất trong cuộc gặp gỡ giữa chúng tôi và Kít-xing-giơ.  Kít-xing-giơ nói rằng Mỹ gắn việc giải quyết vấn đề Đông Dương với việc giải quyết vấn đề Đài Loan .  Mỹ nói nếu có rút được quân Mỹ ở Đông Dương thì mới rút quân Mỹ ở Đài Loan .  Đối với Trung Quốc thì vấn đề Mỹ rút quân tại Miền Nam Việt Nam là vấn đề số 1.  Còn vấn đề Trung Quốc vào Liên Hiệp Quốc là vấn đề số 2”.

* Chú giải :  Sau khi Hà Nội cho công bố Bạch Thư vào ngày 4 tháng 10 năm 1979 thì quốc tế có được bằng chứng để kết luận rằng chiến tranh Việt Nam là nguyên do khiến cho Hoa Kỳ phải tự ý bãi bỏ lệnh bao vây cấm vận đối với Trung Quốc và trả chiếc ghế Hội viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc cho Trung Quốc.

Cũng trong Bạch thư đó ông Đồng đã nêu ra một câu nói của Mao Trạch Đông vào năm 1954 : Trung Quốc trước đây đã quyết tâm đánh Mỹ cho tới người Việt Nam cuối cùng ( Bạch thư của Nước Cọng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Sự Thật Quan Hệ Việt Nam- Trung Quốc trong 30 năm qua,  trang 20;  và nhắc lại trong trang 52 ).

Tới lúc này thì Hà Nội thực sự cay đắng, hóa ra lâu nay Bắc Kinh hết lòng hỗ trợ cho CSVN không phải vì tinh thần vô sản quốc tế, mà vì Mao trạch Đông muốn dùng máu của người Việt để buộc Mỹ phải giải tỏa lệnh cấm vận đối với Trung Quốc và đặt Trung Quốc ngang hàng với Hoa Kỳ, Liên Xô trong vị trí 5 cường quốc của thế giới.

Năm 1971, ngày 12-10, Nixon loan tin ông ta sẽ đi Liên Xô vào tháng 5 năm 1972.  Ngày 20-10 lại loan tin Kissinger sẽ đến Trung Quốc lần thứ hai.

Ngày 25-10, đại diện của Lê Đức Thọ tại Paris là Võ Văn Sung đến gặp đại diện của Kissinger là Tướng Walters, nói rằng Lê Đức Thọ sẵn sàng gặp Kissinger vào ngày 20-11-1971.  Nhưng đến ngày 17-11 Võ Văn Sung lại thông báo Lê Đức Thọ bị ốm không thể đi Paris.  Thực ra ngày hôm đó Lê Đức Thọ và Phạm Văn Đồng đi Bắc Kinh gặp Chu Ân Lai.

Theo như tài liệu “Sự thật về quan hệ Việt Nam- Trung Quốc 30 năm qua” thì trong cuộc gặp gỡ này Chu Ân Lai đã nói với Phạm Văn Đồng : “Việt Nam nên tranh thủ thời cơ để giải quyết trước vấn đề rút quân Mỹ và quan tâm giải quyết vần đề tù binh Mỹ, việc đánh đổ ngụy quyền Sài Gòn là về lâu dài”.  Nghĩa là hãy trả tù binh và đừng đòi hỏi Hoa Kỳ phải thay thế chế độ VNCH.

* Chú giải :  Lê Duẩn cầu cứu Liên Xô

Sau khi Trung Quốc đã trở mặt bắt tay với Hoa Kỳ, Lê Duẩn và Bộ chính trị ĐCSVN quyết định ngã hẵn theo Liên Xô, quay ra đối mặt với Bắc Kinh, kể cả chấp nhận trở thành kẻ thù của Bắc Kinh.

Nhận được tín hiệu cầu cứu của Hà Nội, Liên Xô nhanh chóng đáp ứng vì họ biết rằng Hoa Kỳ đang muốn giải quyết chiến tranh VN qua con đường Bắc Kinh.  Vì vậy Mạc Tư Khoa muốn chứng minh cho HK thấy rằng cần phải thương lượng với họ chứ không phải riêng với Bắc Kinh là đủ.

LX khẩn cấp lên kế hoạch viện trợ vũ khí và kinh tế cho Hà Nội để tổ chức một trận đánh lớn chưa từng có trong lịch sử chiến tranh Việt Nam ( Trận Mùa Hè 1972 ).

Cuối năm 1971 Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô là Nicolai Pogorny sang Hà Nội, sau khi ông trở về thì Tướng Pavel Batistsky, Thứ trưởng Quốc phòng Liên Xô, đến Hà Nội ( Trần Đông Phong, Việt Nam Cọng Hòa Mưới Ngày Cuối Cùng, trang 31.  Và Frank Snepp, Decent Interval, trang 137 )

Chẳng những vậy, Liên Xô còn vận động các nước Cọng sản thân Liên Xô đổ dồn viện trợ cho Hà Nôi : Ngày 3-12-1971 tại Hà Nội, Cọng Hòa dân Chủ Đức và CSVN ký kết hiệp định viện trợ kinh tế và quân sự cho Hà Nội trong năm 1972.  Ngày 29-12-1971 tại Cuba, CSVN và Cọng hòa Cuba ký kêt hiệp định viện trợ kinh tế cho Hà Nội trong năm 1972.  Ngày 31-12-1971 Cọng hòa Nhân dân Mông Cổ ký kết hiệp định viện trợ kinh tế cho Hà Nội trong năm 1972.

Bắt đầu từ tháng 10 năm 1971, vũ khí tối tân hạng nhất của Liên Xô ào ạt cập bến Hải Phòng với xe tăng T.54, hỏa tiễn địa địa 107 ly, hỏa tiễn địa địa 122 ly; hỏa tiễn cá nhân chống tăng AT.3 và Hỏa tiễn cá nhân chống máy bay SA.7 ( Hỏa tiễn AT.3 là loại hỏa tiển điều khiển bằng dây, trái đạn đi xa trên 2.000 mét, người xạ thủ điều khiển cho trái đạn đi theo ý mình bằng một bảng điều khiển cầm tay.  Còn Hỏa tiễn SA.7 là loại Hỏa tiễn tầm nhiệt được phóng ra từ một súng đặt trên vai người chiến binh, sau đó nó sẽ tự dò theo hơi nóng của ống khói máy bay mà đuổi theo và nổ trong ông khói máy bay.  Các loại vũ khí này quá tối tân so với vũ khí hiện có của quân đội VNCH ).

Số lượng vũ khí do Liên Xô viện trợ lớn đến độ trong trận Mùa hè đỏ lửa năm 1972 quân CSVN có thể pháo trong 1 đêm vào Thị xã An Lộc 10.000 trái hỏa tiễn địa địa, và tại Kontum họ đã bắn tất cả khoảng 1.320 quả hỏa hiễn chống tăng AT.3.  Còn hỏa tiễn tầm nhiệt SA.7 đã bắn phi cơ Trực thăng và phi cơ L.19 của VNCH rơi như sung rụng, đến nỗi phi công trực thăng thuộc Sư đoàn 6 Không quân VNCH khai bệnh hàng loạt để từ chối bay hành quân.

Nixon đi Bắc Kinh, Tổng thống Thiệu cay đắng

Năm 1972, ngày 14-1, Đại sứ Bunker đến gặp Tổng thống Thiệu và trình bày về bài diễn văn mà Tổng thống Nixon sắp đọc trước Quốc hội Hoa Kỳ vào ngày 18-1.  Trong đó có nói tới việc lâu nay Hoa Kỳ đã thương lượng mật với Hà Nội nhưng không kết quả, mặc dầu Hoa Kỳ và VNCH đã hạ mức tối đa những thỏa thuận có thể được như là Tổng thống Thiệu và phó Tổng thống Trần Văn Hương sẽ từ chức sau 5 tháng ký kết hiệp ước, tháng kế tiếp sẽ tổ chức bầu cử Tổng thống mới cho chính phủ Liên hiệp 3 thành phần.

Tổng thống Thiệu ngạc nhiên và nói rằng trước đây ông đã có đồng ý sẽ từ chức sau 6 tháng ký hiệp định với Tướng Haig, nhưng Haig cho biết khi nào HK chuyển cho Hà Nội đề nghị đó thì sẽ thông báo cho ông biết, nhưng nay bản nháp bài diễn văn cho thấy Hoa Kỳ đã trao đề nghị đó cho Hà Nội mà không hề thông báo cho ông biết.

* Chú giải :  Biết được sự không hài lòng của Tổng thống Thiệu, Bunker cố gắng thuyết phục Thiệu thông cảm cho hoàn cảnh của Nixon.  Bài diễn văn chỉ nhằm đề cao thiện chí hòa bình của Tổng thống Thiệu chứ không tổn hại gì đến uy danh của Tổng thống.

Tổng thống Thiệu nhận bản dự thảo bài diễn văn và nói rằng ông cần có thêm 1 đêm để  suy nghĩ.  Đêm hôm đó ông làm một việc bất thường là viết một “bản ghi nhớ” liệt kê chi tiết những thủ đoạn lừa gạt tinh tế của chính quyền Nixon.  Ngày hôm sau ông cho Bunker xem bản ghi nhớ và ông muốn có một văn kiện bằng giấy trắng mực đen rằng ngày đó ( 15-1-1972 ) ông đã được Đại sứ Bunker trao cho ông một văn kiện được coi là bản dự thảo sáng kiến hòa bình mà Nixon dự tính sẽ đọc vào ngày 18-1.

Ngoài ra, khi bàn về tinh thần bài diễn văn, Tổng thống Thiệu nói rằng : “Không ai hỏi ông đưa ra một danh sách những nguyên tắc cho tương lai của đất nước ông.  Thiệu đòi muốn biết ai sẽ ký vào bản tuyên bố nguyên tắc này và ai sẽ ký vào bản hiệp ước cuối cùng.  Ông muốn biết, ai đã ấn định những khái niệm, thí dụ như khái niệm một chính sách ngoại giao trung lập? 

Tại sao không có điều khoản về sự triệt thoái quân đội Cọng sản ở Nam Việt Nam?  Làm sao để họ triệt thoái trước khi có bầu cử?  Liệu Nixon có thể tin rằng có thể tổ chức bầu cử tự do trong khi quân đội Miền Bắc còn đóng ở trong Nam không?” ( Larry Berman, No Peace, No Honor, bản dịch của Nguyễn Mạnh Hùng trang 162 ). 

Sau đó :  Thiệu cảnh cáo Nixon rằng, trừ khi những mối quan tâm của ông được trả lời, “Tôi không thể đứng ra cùng loan báo toàn văn bản tuyên bố chính sách.  Ngược lại, ngày hôm ấy, tôi sẽ nói với nhân dân Việt Nam rằng tôi có một để nghị hòa bình khác”. ( Larry Berman, No Peace, No Honor, bản dịch của Nguyễn Mạnh Hùng trang 163 ). Bài diễn văn của Tổng thống Nixon bị đình lại.

Tài liệu của Bunker ghi lại :

Bunker cố dàn hòa với Thiệu bằng cách thú nhận rằng “ Tổng thống và Tiến sĩ Kissinger đồng ý rằng ngài có quyền biểu lộ sự thất vọng.  Chúng tôi công nhận đã sai lầm… Tôi muốn chắc chắn được ngài hiểu cho rằng không ai có ý định lừa dối hoặc tiến tới mà không có sự đồng ý hoàn toàn của ngài…” ( Larry Berman, No Peace, No Honor, bản dịch của Nguyễn Mạnh Hùng trang 163 )

Cuối cùng Tổng thống Thiệu buộc Bunker phải đưa cho ông một bản đề nghị y như bản mà Walters đã trao cho Võ Văn Sung vào ngày 10-11, bởi vì trong bài diễn văn Tổng thống Nixon có nói rằng Tổng thống Thiệu đã đồng ý về điểm này ( Nghĩa là đồng ý trước ngày 10-11).

Đến ngày 24-1 ông lại đòi sửa lại vài chỗ như “Với sự hiểu biết và hoàn toàn ủng hộ của Tổng thống Thiệu”;  thay thế chữ “Mặt trận Giải phóng” bằng chữ “Việt Cộng”, bởi vì ông chưa bao giờ dùng chữ Mặt trận Giải phóng.  Và thay chữ “we” bằng chữ “tôi và Tổng thống Thiệu”, bởi vì trong tiếng Việt chữ “chúng tôi” cũng được hiểu là “tôi”.

BÙI ANH TRINH

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

1 Trackback / Pingback

  1. KISSINGER ĐI ĐÊM VỚI BẮC KINH, HÀ NỘI CAY ĐẮNG | dòng sông cũ

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: