Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

SAU MẬU THÂN, NGƯNG NÉM BOM BẮC VIỆT VÔ ĐIỀU KIỆN – Bùi Anh Trinh

1Trích sách “Giải Mã Những Bí Ẩn Của Chiến Tranh Việt Nam” của Bùi Anh Trinh.

Ngưng ném bom Bắc Việt hoàn toàn và vô điều kiện

Năm 1968, ngày 31-10, lúc 7 giờ chiều, tại Washington, Tổng thống Johnson đọc thông báo ngưng ném bom Bắc Việt hoàn toàn, phiên họp đàm phán sẽ diễn ra sau đó 1 tuần, và chính phủ VNCH sẽ không tham dự.

Năm 1968, ngày 1-11, lúc 8 giờ sáng, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đọc một bài diễn văn đặc biệt trước lưỡng viện Quốc hội.  Sau vài câu mào đầu, ông đi thẳng vào vấn đề chính : “Chính phủ Việt Nam Cọng Hòa rất tiếc là không thể tham dự những cuộc hòa đàm sơ bộ hiện nay tại Paris”.  Cả Quốc hội đồng loạt đứng dậy vỗ tay.

Sau đó ông phân tích tình hình chiến sự hiện tại và giải thích vì sao VNCH không thể ngồi vào bàn đàm phán mặc dầu làm như vậy thì có thể dân tộc Việt Nam sẽ không còn sự hỗ trợ của đồng minh nữa.  Ông nói “Nếu cần thì dân tộc Việt Nam sẽ chống Cộng một mình”.

Cuối cùng ông kết thúc bài diễn văn với câu : “Dân tộc Việt Nam yêu hòa bình nhưng không muốn nô lệ, chúng ta sẽ không bao giờ nô lệ”.  Bài diễn văn dài 27 phút và bị những tràng pháo tay làm ngắt đoạn 18 lần.

* Chú giải :  Đây là một bài diễn văn công kích tình đồng minh của Hoa Kỳ.  Câu kết thúc của bài diễn văn hàm ý người Mỹ đã xem nước Việt Nam như một thuộc địa của Hoa Kỳ ( nô lệ ).  Lời cáo buộc của Tổng thống Thiệu trở thành quá đáng đối với ông Đại sứ Bunker và chính phủ Hoa Kỳ nhưng lại thích đáng đối với dân chúng Việt Nam, những tràng vỗ tay của Quốc hội đã chứng tỏ điều đó.

Thái độ của các giới chức Hoa Kỳ trong suốt tháng 10 vừa qua cho thấy mối quan hệ Mỹ Việt y như là quan hệ của mẫu quốc đối với thuộc địa.  Hành động gọi điện thoại dựng dậy một vị nguyên thủ quốc gia trong khi ông ta đang còn ngủ là một hành động không thể chấp nhận được.  Rồi lại còn đến dinh Độc Lập bất kể giờ giấc, sáng trưa chiều hay giữa khuya.  Đã vậy lại còn chất vấn với những lời lẽ hằn học thì rõ ràng là thái độ kẻ cả, không còn gì là đồng minh.  Trong khi Quốc gia VNCH là nhân vật chính của cuộc chiến.

Đây là những chi tiết do chính Bunker ghi chép lại trên giấy trắng mực đen chứ không phải là phỏng đoán hay suy diễn.  Thái độ nhiệt liệt tán thành của lưỡng viên Quốc hội đủ nói lên dân tộc Việt Nam muốn gì.

Đáng tiếc là Washington cũng như báo chí Hoa Kỳ đánh giá bài diễn văn của Tổng thống Thiệu và thái độ của Quốc hội Việt Nam là “Bài Mỹ”.   Đối với chính sách ngoại giao của người Hoa Kỳ thì họ chỉ biết đánh giá đối tượng bằng hai tiếng “Thân Mỹ” hay “Bài Mỹ”.  Họ quan niệm rằng những người “bài Mỹ” là những kẻ chẳng kiếm chác gì được nơi Hoa Kỳ và ganh tị với vị trí ưu đãi của dân tộc Hoa Kỳ nên mới thù ghét, còn những người “thân Mỹ” là những kẻ muốn làm đàn em (thuộc hạ) cho Hoa Kỳ, muốn kiếm chác một thứ quyền lợi gì đó nơi chính phủ Hoa Kỳ.

Vì cho rằng Nguyễn Văn Thiệu là người “thân Mỹ” cho nên mặc nhiên các chính trị gia Hoa Kỳ xem ông Thiệu như là một người đã chịu làm tay sai kể từ khi được Hoa Kỳ đưa lên làm Tổng thống.  Tài liệu “CIA và gia đình họ Ngô” đã cho thấy người Mỹ nhìn Tổng thống Ngô đình Diệm chẳng khác gì Bunker nhìn Nguyễn Văn Thiệu.  Nghĩa là ông Diệm và ông Thiệu là những nhân vật được Hoa Kỳ giao phó cho trọng trách điều hành đất nước Việt Nam theo đường hướng của Hoa Kỳ.  Để rồi đến khi ông Diệm, ông Thiệu tỏ thái độ phản kháng thì liệt họ vào hạng “bài Mỹ”, tức là phản chủ.

Không phải riêng ông Diệm hay ông Thiệu hiểu lầm ý nghĩa của hai chữ “đồng minh” của người Hoa Kỳ, mà toàn dân Việt Nam cũng hiểu lầm như thế.  Ai ai cũng cho rằng quan hệ giữa người Mỹ với người Việt là quan hệ của hai người bạn bình đẳng, chẳng qua giữa hai người có một người giàu hơn, muốn ra tay giúp đỡ người bạn nghèo.

Trong khi đó thì người Hoa Kỳ lại cho rằng quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là quan hệ giữa người bỏ tiền ra và người được thuê làm một công việc nào đó.  Người chủ Mỹ chi tiền thì dĩ nhiên người Mỹ có quyền đặt điều kiện trước khi móc túi ra.  Nếu đối tượng nhắm làm được thì nhận tiền (viện trợ), còn không thì có quyền từ chối chứ người Mỹ không ép.  Đây mới là thực chất trong quan hệ giữa hai quốc gia, còn chuyện đồng minh bình đẳng chỉ là chuyện ngoại giao.

Chính vì có sự hiểu lầm như vậy mà sinh ra thù oán, trách hận nhau.  Phía Việt Nam thì trách Hoa Kỳ không có tình nghĩa ( trong quan hệ bạn bè ),  còn phía Hoa Kỳ thì trách Việt Nam phản bội ( trong quan hệ người chi tiền và người nhận tiền, tức là quan hệ giữa quốc gia viện trợ và quốc gia nhận viện trợ ).

Sơ hở của Bunker : Những khía cạnh tế nhị trong quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ đã hiện rõ qua lời tường thuật lại của Đại sứ Bunker:  Đã từ rất lâu các chính khách Hoa Kỳ thường hay phàn nàn rằng người Việt Nam có tính không bao giờ thích nói thật, họ thường nói ngược lại hoặc nói quanh co xa gần.  Nhưng trong suốt thời gian thuyết phục Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ, Bunker và Berger đã quanh co một cách rất vụng về khiến cho các nhà lãnh đạo Việt Nam đoan chắc rằng Washington đang lừa gạt họ.

Rõ ràng cái mốc thời gian 5-11-1968 là nguyên do chính của ngày khai mạc hội nghị Paris.  Thế nhưng trước sau Bunker và Berger vẫn cứ luôn miệng chối bỏ.  Cho rằng đây là kết quả của 6 tháng tiếp xúc hòa đàm, chẳng qua là nó vô tình rơi vào thời điểm trước ngày bầu cử.

Những người lãnh đạo Việt Nam buồn cười cho cách nói của Bunker, họ luôn luôn lợi dụng yếu điểm này của Bunker trong các cuộc tranh luận như là mèo vờn chuột.  Hễ mỗi lần muốn bắt bí Bunker thì y như rằng ông Thiệu hay ông Kỳ, và ngay cả ông Trần Chánh Thành cũng đưa ra câu hỏi : “Tại sao lại phải tuyên bố trước ngày 5-11?  Đợi tới ngày 6 tháng 11 mới tuyên bố không được sao?”.

Hoặc “Cuộc tiếp xúc đàm phán đã kéo dài 6 tháng nay rồi, thì bây giờ kéo thêm 6 ngày nữa thì đâu có chết ai”.  Sau đó các ông thử đề nghị ngày khai mạc hội nghị tới sau bầu cử, thì y như rằng Bunker dẫy lên như đỉa phải vôi.  Rõ ràng người Mỹ nói láo quá dở dưới con mắt của các ông nói láo bậc thầy Việt Nam.

Và rồi cũng vì thấy Bunker không thành thật mà các nhà lãnh đạo Việt Nam thiếu tin tưởng nơi sự chân thành của giới ngoại giao Hoa Kỳ.  Từ đó họ suy ra quan hệ Việt Mỹ không phải là quan hệ bằng hữu chân tình như lâu nay các nhà chính trị Hoa Kỳ thường tuyên bố.

Ngoài ra có một điều khó hiểu lớn nhất đến với các nhà lãnh đạo Việt Nam là tại sao phe ta đang trên đà thắng lợi, vững vàng hơn bao giờ hết mà giờ đây lại vác chiếu tới ngồi tại bàn hòa đàm trong tư thế như sắp bị thua tới nơi?  Đây là một thiếu sót trầm trọng của chính phủ VNCH.  Chính phủ không có cơ quan điệp báo phân tích tình hình chính trị ngay tại Washington.  Xem như Sài Gòn hoàn toàn đui và điếc trước những gì đang xảy ra tại Washington.  Cũng như hoàn toàn không xác định được tình đồng minh giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Cọng Hòa.

Bài diễn văn của Tổng thống Thiệu cho thấy ông phản ứng mạnh và bản lĩnh hơn Tổng thống Ngô Đình Diệm.  Tổng thống Diệm phản kháng nhưng không dám phản ứng.  Đến khi không còn lối thoát mới phản ứng bằng cách dọa bắt tay với CSVN, một phản ứng nguy hiểm mà Hoa Kỳ không thể nào chấp nhận.

Ngoài ra đằng sau bài diễn văn này ông Thiệu đã có bọc lót bằng lá bài Nixon, nghĩa là nếu lọt “sàng” Humphrey thì xuống “nia” Nixon.  Dĩ nhiên một khi chấp nhận chơi canh phé đó thì ông Thiệu đã tính tới phần chắc ăn phải trên 75%.  Và ông đã thành công.  Tuy nhiên đáng tiếc là cái nia Nixon cũng có quá nhiều lỗ rách nát khiến cho số phận dân tộc Việt Nam đành phải rơi xuống đất, tức là rơi vào tay Cọng sản.

Tất cả những lỗ hở của cái nia Nixon là do thừa hưởng những tai hại do Johnson để lại.  Tai hai quan trọng nhất là khi Nixon bắt đầu nắm chính quyền thì cũng là lúc cả con tàu chính trị Hoa Kỳ đã ngoặt sang con đường khác, đó là con đường thương thuyết để rút quân về.

Những cố gắng của Nixon sau 1968 cho thấy ông ta đã đúng hướng khi giao trách nhiệm chống Cộng lại cho dân tộc Việt Nam.  Tuy nhiên cuối cùng ông cũng đành phải bó tay vì dân chúng Hoa Kỳ không còn một mảy may tin tưởng hay hy vọng gì đối với chính quyền VNCH và nhân dân Miền Nam Việt Nam.

Kể từ khi McNamara và Westmoreland rời chức vụ và Johnson rút lui khỏi chính trường thì dân chúng Hoa Kỳ biết rằng đã tới lúc phải buông tay với VNCH.  Vấn đề còn lại là tiến hành giải pháp đàm phán tại Paris.  Còn chính phủ VNCH và công cuộc chống Cộng của nhân dân Miền Nam chỉ là một gánh nặng cần phải giải quyết càng sớm càng tốt.

BÙI ANH TRINH

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: