Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Lời trần tình… thẳng thừng – hoànglonghải

1Nếu có ai bảo rằng tôi là người yêu nước cực đoan thì tôi vui lòng đón nhận. Câu nói đó có hai ý: Yêu nước và Cực đoan.

Trước hết, tôi cũng như mọi người Việt Nam, đều yêu nước, phải yêu nước. Nếu tổ tiên chúng ta ngày xưa, và cả chúng ta ngày nay nữa, không yêu Nước thì Nước đã không còn. Có tinh thần yêu nước, yêu nước đậm đà, mãnh liệt, hay cực đoan, cũng chỉ là một cách để nói lên lòng yêu nước của người Việt.

Nếu không yêu nước đậm đà, mãnh liệt, cực đoan thì người Việt chúng ta làm sao có thể thoát khỏi “một ngàn năm đô hộ giặc Tầu” hay “một trăm năm nô lệ giặc Tây” và cũng không thể dẹp bỏ những cuộc nội chiến dai dẳng trong lịch sử để “thống nhất sơn hà” – tôi không dùng chữ “thống nhất đất nước” như Cộng Sản thường dùng.

Cũng nhờ tinh thần yêu nước đó nên sau cuộc phân ly Nam- Bắc Hà, nhà Mạc, tuy có thế lực của nhà Minh bên Tàu, cũng chỉ sống hiu hắt thêm ba đời nữa mà thôi ở vùng Cao Bằng, không khác chi các tù trưởng miền cao. Cũng nhờ tinh thần đó, nên vua Gia Long, tuy có dựa vào thế lực Xiêm La và ông cố đạo Bá-Đa-Lộc, – dù ông có là người dẫn đường cho Thực Dân Pháp xâm lăng Việt Nam như có người lên án -, thì mãi đến 82 năm sau, sau khi Gia  Long lên ngôi, người Pháp mới thực sự cai trị nước ta.

Trong ý nghĩa đó thì không có cái gì ngoại lai có thể tồn tại lâu dài trên Đất Nước nầy. Đạo Phật từ Ấn Độ, là ngoại lai, du nhập vào nước ta hơn hai ngàn năm, từ phía Bắc xuống hay từ “Tây phương cực lạc” sang thì cũng phải “đồng hóa” với Văn Hóa Dân Tộc Việt. Không chịu sự “đồng hóa” đó thì đạo Phật không thể tồn tại ở xứ sở nầy.

Đạo Thiên Chúa La Mã, tuy có lạ lẫm hơn với Văn Hóa Việt, muốn “rao giảng lời Chúa” và tồn tại trên đất nước nầy, cũng phải làm như thế. Nếu không thì tôn giáo ấy chỉ có thể tồn tại trong sự “cô lập” trong các “Xóm Đạo”, “Làng Đạo” và khi thế lực ngoại bang không còn, các ông cha cố người Tây Dương không còn thì tôn giáo ấy lại phải tìm cách “hòa đồng” với Văn Hóa Việt, như cái “Melting Pot” của Văn Hóa Mỹ.

Dĩ nhiên, sự đồng hóa ấy không phải ngày một ngày hai mà có được. Nó phải kéo dài hàng trăm năm, có khi hàng ngàn năm. Trong thực tế, sự đồng hóa ấy đã bắt đầu, khi các ông cha cố người Tây Dương vắng bóng dần, và các ông linh mục trẻ, với tinh thần cởi mở của Văn Hóa Âu Mỹ, và với tinh thần yêu Dân Tộc Việt Nam, bắt đầu đóng vai trò càng ngày càng quan trọng hơn, trong đời sống Đạo Thiên Chúa La Mã ở Việt Nam.    

Cộng Sản, theo một ý nghĩa nào đó, cũng là một tôn giáo phát xuất từ phương Tây, và nó đã bị loại trừ vì nó không những không “hòa đồng” vào Văn Hóa Việt mà còn đi ngược chiều. Sự tồn tại của chính quyền Cộng Sản Hà Nội ngày nay, không nói thì ai cũng đồng ý, chỉ là ngọn đèn hột vịt của người bán thuốc lá lẻ trên đường phố Saigon trước cơn bão tranh đấu cho Tự Do, Dân Chủ và Độc Lập đang ập tới.

Tất cả các tôn giáo ở nước ta đều ngoại lai, vì nó không phải là tôn giáo bắt nguồn từ người Việt. Và nếu không chịu “đồng hóa” trong Văn Hóa Việt, nó sẽ bị loại trừ.

Từ bé, tôi từng thấy các đám rước kiệu “Đức Mẹ La Vang” ở quê tôi. Bên cạnh các “Đội Kèn Đồng” inh ỏi của Tây là “Phường Bát Nhã” của các nhạc sĩ cổ nhạc Việt Nam. Ngoài các bài hát Tây hát bằng tiếng Việt của các em “Thiếu Nhi Thánh Thể” là các bài hát Việt theo điệu “Đăng Đàn Cung”. Tôi không nhận xét về cái nào hay hơn cái nào, nhưng ngay từ thời thơ ấu ấy, tôi phân biệt cái gì là Tây, cái gì là Việt. Và với tinh thần dân tộc đang bị Tây đô hộ, độc giả biết rõ tôi yêu cái nào hơn cái nào.

Sau khi Việt Nam Độc Lập, trong một đám rước kiệu “Đức Mẹ La Vang” khác, chỉ có cờ tôn giáo mà không có cờ Quốc Gia, một cấp chỉ huy Quân Đội bèn cưỡi lên mình một con ngựa, tay giương cao lá cờ Quốc Gia đi dẫn đầu đoàn kiệu. Trước hành động ấy, mọi người vỗ tay hoan hô.

Tôi không nói tới tính cách dị đoan trong mỗi tôn giáo – tôn giáo nào lại chẳng có dị đoan – nhưng trong vài lần vào nhà thờ, tôi “dị ứng” với những câu kinh đọc bằng tiếng La Tinh. Chúa là của nhân loại, đọc kinh bằng thứ tiếng nào Chúa chẳng hiểu được mà phải đọc bằng tiếng La Tinh. Không đọc bằng tiếng La Tinh thì Chúa sẽ không hiểu chúng ta cầu nguyện điều gì hay sao?

Đạo Phật ngày nay cũng có nhiều khuynh hướng “vọng ngoại” như vậy. Bỗng nhiên trong cuốn kinh “Nghi thức Tụng Niệm” xuất hiện những trang kinh tiếng Ấn Độ. (hay tiếng Phạn, tôi không rõ). Phật cũng của nhân loại, đọc kinh bằng tiếng Việt nhắm bộ Phật sẽ không hiểu Phật Tử cầu nguyên điều gì hay sao?

Đọc kinh, cầu kinh, trước hết là phải thông hiểu câu kinh chúng ta đọc, thứ hai là phải chú tâm vào câu kinh đọc, không những chú tâm mà còn phải để hết “tấm lòng” của người ta vào trong đó.

Tôi không chắc người đọc kinh bằng tiếng La Tinh hay bằng tiếng Phạn đã hiểu tiếng La Tinh hay tiếng Phạn, hay họ chỉ đọc như con vẹt. Trong ý nghĩa đó, sích lợi của việc đọc kinh, cầu kinh, sẽ không có kết quả gì hết.

Đó là chưa kể tính khoe khoang của người đọc kinh bằng “tiếng nước ngoài”, chứng tỏ có biết ngoại ngữ, thậm chí “giỏi ngoại ngữ”. Các nhà tu hành, du học Ấn Độ hay La Mã, thì cũng nên nhớ rằng, tín đồ của mình, không biết những ngoại ngữ mà mình biết, để dạy cho tín đồ của họ trở thành những con vẹt.

Từ thời Ngô Đình Diệm, bóng dáng các ông cha cố người Tây Dương xuất hiện ít dần đi, một là vì tinh thần Đôc Lập của người Việt được khơi dậy mạnh mẽ hơn, khi Tây cuốn gói về Tây. Vả lại, các ông cha cố đó đã già, nghỉ hưu hay về Tây, Đạo Thiên Chúa ở Việt Nam có đủ số linh mục để “phục vụ nhà Chúa” mà không cần nhờ đến các linh mục người Tây, thì hình ảnh Đức Mẹ cũng có phần thay đổi.

Một lần, đang ngồi ăn cơm, có cả Tuệ và Ủy, ông chú tôi nói: “Tao theo “cụ” là vì “cụ” chống Tây, nay bảo tao thờ ông Chúa mắt xanh mũi lõ như Tây sao được!”

Nói như thế, ông chú tôi chứng tỏ ông là người yêu nước cực đoan đấy. Và cũng có thể là “cậu Cẩn” hay đám bộ hạ của “cậu” muốn ông chú tôi thêm vào một chữ Đ nữa trong lý lịch của ông, để nắm một cái gì đó, như chức “quận trưởng” mà ông đã có lần từ chối.

Có lẽ, – tôi nói là có lẽ -, từ trong Giáo Hội Thiên Chúa Giáo La Mã, xuất hiện những tranh tượng Đức Mẹ với đường nét, và trang phục một phụ nữ Việt Nam. Đó không phải là một sự cách tân hội họa mà chính là việc cải cách Tôn Giáo. Bọn trẻ Việt Nam thấy gần gũi với “Đức Mẹ Việt Nam” hơn “Đức Mẹ Tây Phương”. Điều đó, cũng bắt nguồn từ “Tinh Thần Việt Nam” mà ra.

Tôi “đi chùa” từ khi bốn hoặc năm tuổi, chắc chắn không lớn hơn số tuổi ấy, một năm chỉ có một lần, vào ngày mồng một tết, trong nhà tôi không thờ Phật.

Ngày đầu một năm, là ngày thiêng liêng nhất trong năm, có lẽ cậu tôi (thân phụ tôi) nghĩ như thế nên dành hôm ấy để đi Chùa. Dù là công chức, trước 1945, không có lệ chúc Tết “sếp” vào ngày đầu năm như sau nầy –

Chùa cậu tôi dẫn anh em chúng tôi đi là “Chùa Phật Lồi” ở Ái Tử, nơi đóng quân đầu tiên của Chúa Tiên (chúa Nguyễn Hoàng) khi mới vào Nam năm 1558.

Năm 1309, Huyền Trân Công Chúa về xứ Chàm để làm vợ Chế Mân, hai châu Ô – Rí là sính lễ vua Chiêm trao cho Đại Việt. Người Chàm ở hai châu nầy bỏ xứ di cư về phương Nam. Hồi ấy, họ  cũng theo Đạo Phật. Khi ra đi, không mang theo được các tượng Phật bằng đá, cũng không muốn Phật của mình rơi vào tay ngoại bang, người Chàm bèn chôn tượng Phất xuống cát.

Ái Tử thuộc quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị là vùng cát trắng. Khi mùa gió Nam (còn gọi là gió Lào) thổi, tượng Phật ở dưới cát, cát bị gió thổi bay đi nên đầu Phật “lồi” (trồi) lên. – Vả tượng Phật cũng thấy nóng khi bị chôn dưới cát hay sao?!- Người Việt thấy tượng, thấy “tội”cho Phật, và cũng là người theo đạo Phật, không phân biệt Phật Chàm hay Phật Việt, nên đào lên, dựng chùa rước tượng về thờ. Tôi không rõ tên chữ, nhưng nôm na dân chúng gọi là “Chùa Phật Lồi”. Chùa nằm ở sát phía Đông truông Ái Tử. Tiền đình chùa có tượng ông Thiện ông Ác, nên tôi sợ lắm, không vào trong chùa bao giờ.

Tôi và hai người anh thường leo lên ngọn đồi cát phía sau chùa, lăn theo triền đồi mà chơi. Trong khi đó, thân phụ tôi cúng lạy

Phật hay chuyện trò cùng Sư Cụ. Đến khi ra về, chúng tôi bị gọi vào, chào Sư Cụ. Mỗi anh em chúng tôi được Sư Cụ cho một cái bánh nhỏ, và được vuốt đầu, khen ngoan.

Do hoàn cảnh như thế, Phật của tôi chính là hình ảnh của Sư Cụ: Một cụ già hiền từ, nói năng nhỏ nhẹ, rất thương người, và thương anh em chúng tôi. Hình ảnh ấy, sau nầy, tôi có thể thấy lại qua bóng dáng “Ngài Tường Vân” ở Huế một đôi lần.

Sư Cụ chùa Phật Lồi thường mặc áo nâu, cùi tay áo có khi đã sờn, có khi có miếng vá, mang guốc gỗ. Sư Cụ không giàu có gì, như các sư thường tự gọi mình là “Bần tăng”. Không “Bần” thì không thể là “Tăng”.

Về sau, khi hơn mười tuổi tôi mới đi Chùa thật sự. Có nghĩa là tôi vào tới chánh điện, chắp tay ngó lên tượng Phật trên đài sen. Và tôi ngạc nhiên, nghĩ thầm: Ông Phật nầy không phải là Phật của tôi.

Phật nầy khác xa với hình ảnh ông Phật trong trí óc của tôi từ khi còn nhỏ dại. Phật của tôi chính là Sư Cụ, là hình ảnh hiền từ, trong sáng, mộc mạc, nghèo nàn… Phật của tôi mặc áo nâu, – mầu nâu dân tộc, màu của người Việt làm nghề nông – . Ông ngồi trên tòa sen tóc quăn, áo vai trần. Đó là ông Phật Ấn Độ, không phải Phật của tôi. Ngày nay, vào bất cứ chùa nào, người ta đều thấy các sư nam náo vàng rực rỡ – với Văn Hóa Ấn Độ đó là màu “hoại sắc”, nhưng với Văn Hóa Việt Nam, đó là màu vua chúa. Không biết người tu hành, khi choàng lên mình cái áo màu vàng ấy, có nghĩ rằng mình thuộc hàng vua chúa, hay chỉ là muốn mặc chiếc áo vàng đẹp đẽ, rực rỡ, sang trọng mà không quen với màu nâu dân tộc, không quen với việc làm ruộng nặng nhọc như các tăng sĩ Phật Giáo ngày xưa đã làm.

Mỗi chùa không giàu, chỉ có tương chao, được làng cấp vài ba sào ruộng, để tăng sĩ tự cày cấy lấy, thu hoạch lúa gạo, sống vừa  đủ một năm. Năm sau lại làm mùa. Đến mùa hạ, khi công việc ruộng rẫy đã xong, sau ngày Rằm tháng Tư là tới mùa “kiết hạ an cư” là mùa tu học, kinh kệ.

Ngày nay, đời sống tu hành nhàn nhã hơn. Tăng chúng không phải làm ruộng, trồng khoai cà vất vả, mà sống bằng sự cúng dường hậu hĩ của tín hữu, nên không phải “lao động” gì nhiều. Tăng chúng có cơ hội để mặc những áo màu sặc sở, một màu vàng rực rỡ từ chùa trong ra chùa ngoài… và không kém phần… Ấn Độ.

Phật Việt Nam đâu cần phải giống Phật Ấn Độ. Nhìn một bức tranh, một bức tượng, người xem có thể biết đây là Phật Trung Hoa, Phật Thái Lan, Phật Chàm, Phật Miên… Đâu nhất thiết phải từ Ấn Độ mà ra!

Nếu Phật phải là của Ấn Độ hay Chúa phải là của La Mã, thì Phật Bà hay Mẹ Maria không bao giờ có thể là Mẹ Việt Nam, (1) dù tôn giáo cũng là một người Mẹ, cũng như Dân Tộc là Mẹ của chúng ta vậy.

Người ta có thể thấy tất cả các tôn giáo đều có khuynh hướng “thế giới”, “nhân loại”. Trong khi đó, nếu tôn giáo ấy du nhập vào nước nào, thì có khuynh hướng đi ngược lại. Nó sẽ bị “địa phương hóa” theo Văn Hóa Dân Tộc của địa phương ấy.

 

Trong “Lời Nói Đầu” của cuốn sách “Tôn Giáo và Dân Tộc”, tác giả, Giáo Sư Lý Chánh Trung viết:

“Dân tộc là mẹ, tôn giáo cũng là mẹ. Điều đáng buồn là trong lịch sử, hai bà mẹ thường xung đột với nhau, tranh giành những đứa con của mình, buộc chúng phải chọn lựa dứt khoát là con của ai. Lịch sử Giáo hội Công giáo tại Việt Nam thời bách hại là trường hợp điển hình nhứt của sự tranh giành đó.”

(“Tôn giáo và Dân tộc”

Lời Nói Đầu. Lý Chánh Trung)

 

Vâng, Dân Tộc là Mẹ, Tôn Giáo cũng là Mẹ. Nói như thế có nghĩa rằng chúng ta không thể không có Mẹ, dù là Mẹ Tôn Giáo hay là Mẹ Dân Tộc.

Cũng không hẳn thế! Người ta có thể bỏ tôn giáo được, tức là từ bỏ người Mẹ Tôn giáo – Bỏ đạo nầy theo đạo kia là vì tín ngưỡng, mà cũng có thể là vì quyền lợi. Thậm chí người ta không cần có tôn giáo, – như người Cộng Sản chẳng hạn -, cũng vì quyền lợi. Lịch sử, không chỉ của người Việt Nam, mà cả nhân loại, đã cho thấy như thế!

Nhưng liệu chúng ta có thể từ bỏ người Mẹ Dân Tộc được không? Không thể! Bởi vì nếu chúng ta bỏ người Mẹ Dân Tộc, chúng ta sẽ thành người phản bội: Phản bội Dân Tộc, phản bội Tổ Quốc.

Khi được (hay bị?) phỏng vấn để nhập quốc tịch Mỹ, ông John Cash, người phỏng vấn tôi, hỏi: “Ông (ông ta dùng tiếng Mỹ, gọi tôi là “you”) sau khi có quốc tịch có trung thành với Hoa Kỳ hay không?” Tôi băn khoăn: “Trung thành với nước Mỹ? Còn Việt Nam của tôi thì sao?” Nhưng tôi không thể trả lời khác chữ “Yes” được, vì các con tôi ở Việt Nam đang chờ bảo lãnh “để đi với ba má”. Tiếng “yes” đơn giản ấy, ám ảnh tôi mãi cho đến bây giờ, chỉ vì một điều, theo tôi nghĩ, Mẹ Việt Nam chính là Mẹ tôi.

Người ta có thể từ bỏ người Mẹ Tôn Giáo, nhưng không thể từ bỏ người Mẹ Dân Tộc, Mẹ Đất Nước vì đó chính là “Mẹ của mình”.

Tôi từng đi dự những đám ma của những đứa trẻ trai gái 15 hoặc 17 tuổi vừa mất mẹ. Cũng như một số học sinh của tôi, cũng 15 – 17 tuổi, mồ côi mẹ trong Tết Mậu Thân ở Huế. Nhìn chúng, lòng tôi xúc động mãnh liệt. Đó cũng là lý do thúc đẩy tôi nhập ngũ sau cái Tết đau thương ấy.

Mất mẹ, chúng nó nghĩ gì, thấy gì ở tương lai! Một tương lai kinh hoàng và đen tối vì thiếu bóng dáng người mẹ dấu yêu.

 

“Tôi biết tôi mất mẹ

Là mất cả bầu trời…

(Xuân Tâm)

Tháng Tư năm 1975, tôi cũng thấy tôi mất mẹ, mặc dù mãi hai năm sau, khi tôi ở trong trại tù cải tạo, mẹ tôi mới qua đời.

Nếu không thấy mình mất mẹ, tại sao ông Phan Nhật Nam, ông Hoàng Xuân Sơn, một ông là nhà văn, một ông là nhà thơ, đã rơi nước mắt vào buổi trưa ngày 30 tháng Tư, khi nghe Đại Tướng Dương Văn Minh, chịu làm Lê Lai, để đầu hàng Cộng Sản. Còn những người tự vẫn thì sao, các ông tướng tự bắn vào đầu mình thì sao? Họ tự thấy trách nhiệm và đau đớn, khi không làm trọn nhiệm vụ mà người Mẹ Dân Tộc Thân Yêu của mình đã giao phó.

Ba mươi tháng Tư, một tương lai đen tối kinh hoàng hiện ra trước mắt tôi. Tôi thấy tôi mất Mẹ, như bao nhiêu người miền Nam yêu nước khác, cũng mất Mẹ như tôi!

Ngày nay, lòng yêu nước của bao nhiêu người Việt Nam vẫn vậy, và họ đang vui mừng vì thấy Đất Nước hồi sinh. Đất nước ấy, phải là của người Việt Nam, Dân Tộc Việt Nam. Cùng với sự hồi sinh của Mẹ Việt Nam, người Mẹ Tôn Giáo cũng sẽ hồi sinh trên đất nước ấy.

Hồi sinh, nhưng sẽ không tạo ra sự xung đột tôn giáo như thời Hậu Ngô Triều? Rồi đây, những kẻ cuồng vọng, tín ngưỡng cuồng vọng, chính trị cuồng vọng, vẫn chưa chịu từ bỏ cái ý niệm lạc hậu, phải giương “ngọn cờ tôn giáo” cao hơn “ngọn cờ Dân Tộc”.

Giai cấp thống trị xã hội Việt Nam có hai lần bị xáo trộn mãnh liệt. Lần thứ nhất là khi người Pháp xâm lăng và cai trị nước ta. Giai cấp thống trị cũ bị lật đổ cùng với ngai vàng của các vua Triều Nguyễn. Giai cấp thống trị mới, với nhiều người do Chế Độ Thực Dân hoặc do Giáo Hội Thiên Chúa Giáo đào tạo, nắm lấy vai trò giai cấp mới, như tôi trình bày trong bài viết về ông Ngô Đình Khả.

Tháng Tư/ 1975, giai cấp thống trị xã hội Miền Nam Việt Nam bị Cộng Sản đánh tan tác, đánh một cách “triệt để” như chính học thuyết của chủ nghĩa Mác đã chỉ ra vậy.

Khi còn chế độ quân chủ chuyên chế, mặc dù, như tôi đã trình bày, đạo Phật không ở trong chính quyền mà rút ra khỏi nơi triều chính, nhưng ít ra, giai cấp thống trị xã hội trong một thời kỳ lâu dài, rõ nhất là sau khi thoát khỏi ách nô lệ của người Tàu, vua chúa, hàng quan lại, từ trung ương đến địa phương, hầu hết là những người tin Phật, tín đồ Phật Giáo. Hoàn cảnh đó, có lợi cho việc xây dựng truyền bá đạo Phật trong dân chúng Việt Nam.

Dĩ nhiên, khi xâm lăng và cai trị Việt Nam, với sự hỗ trợ của giáo sĩ và tín đồ đạo Thiên Chúa La Mã, Thực Dân Pháp cùng với các giáo sĩ đã đánh sụp giai cấp thống trị ấy, tạo nên một giai cấp thống trị xã hội mới, mà trong đó, không ít là người có đạo Thiên Chúa La Mã. Giai cấp thống trị nầy kéo dài tới 30 tháng Tư/ 1975.

Đạo Thiên Chúa La Mã khi truyền bá vào nước ta, họ cố đào tạo một tầng lớp cán bộ cho tôn giáo của họ. Những người nầy, nếu không được “ơn kêu gọi” để thành linh mục, thì ít ra cũng trở thành tầng lớp trên của xã hội, nắm giữ các chức vụ trong chính quyền, binh lính, kinh tế, giáo dục, v.v…

Nói rõ hơn, trong dân chúng thì tín đồ đạo Thiên Chúa La Mã là thiểu số, khoảng hơn 6.5% dân chúng. Tuy nhiên, trong giai cấp thống trị xã hội thì tỉ lệ đó cao hơn. Số tín đồ đó có tỷ lệ cao hơn trong hàng ngũ cai đội Khố Xanh, Khố Đỏ thời Pháp thuộc, cao hơn trong hàng ngũ tướng tá trong Quân Đội, trong Hành Chánh, Giáo Dục, Khoa Học, Kỹ Thuật và trong thương trường của miền Nam Việt Nam.

Cái tỷ lệ cao đó, đem lại cho đạo Thiên Chúa La Mã một thế lực mạnh hơn trong giai cấp thống trị xã hội Miền Nam Việt Nam trước 1975.

Không phải chừng đó mà thôi đâu. Cái “thế lực mạnh mẽ” đó có ảnh hưởng đến cả những thành phần khác, không có đạo Thiên Chúa La Mã trong giai cấp thống trị xã hội miền Nam trước kia.

Xin đơn cử một thí dụ có tính cách “cá thể”:

“Ngoài những cuộc thăm viếng của bà con, bạn bè, anh em đồng chí, tôi còn có một cuộc tiếp xúc đặc biệt với một nhân vật quan trọng dưới chế độ Diệm là người đã trực tiếp giam giữ tôi, đó là Bác Sĩ Trần Kim Tuyến. Nhớ lại quãng đời tù tội ở trại Lê Lợi, sống như một con vật trong sở thú, lẽ ra tôi phải qui trách nhiệm giam giữ chính trị phạm, một cách khắt khe vô nhân đạo như thế, cho Bác Sĩ Tuyến, nhưng lạ lùng là tôi thấy lòng mình dửng dưng. Bình thản, không vướng bận một chút oán trách nào cả. Về sau chúng tôi trở thành bạn.

(trích “Sống Còn Với Dân Tộc”, SĐD)

 

Điều gì đã làm cho hai người trở thành bạn? Lòng quảng đại tha thứ của ông Hà Thúc Ký? Cũng có thể. Nhưng nhìn vấn đề theo môt khía cạnh khác, thì lại là vấn đề quyền lợi của giai cấp thống trị xã hội miền Nam trước 1975.

Là một lãnh tụ một đảng phái chính trị, dù không nghĩ tới quyền lợi cá nhân mình, một nhà cách mạng mà người dân Huế từng yêu mến, ông Hà Thúc Ký, cũng phải nghĩ tới quyền lợi đảng và  đảng viên của ông. Trong viễn tượng đó, liên danh Bông Lúa, – liên danh đắc cử Thượng Nghị Viện của Đại Việt – nếu liên minh với liên danh Bông Huệ – liên danh của Thiên Chúa Giáo La Mã, phe Bác Sĩ Trần Kim Tuyến, mà có lợi, để chống lại liên danh Hoa Sen, – liên danh của Phật giáo có đa số quần chúng -, thì ông Hà Thúc Ký tại sao lại không làm. Sinh hoạt liên minh để có thế mạnh là việc rất thường thấy trong sinh hoạt chính trÂu – Mỹ.

Trong Hội Đồng Đô Thành Saigon – Chợ Lớn trước 1975, có người đề nghị dời Mả Tây (tức nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi) ra khỏi đô thành Saigon, – như đã có dán dời Sở Thú Saigon lên gần núi Châu Thới ở Biên Hòa vậy -. Việc nầy không thể thực hiện được vì việc dời mồ có liên hệ đến nhiều nhân vật lớn, gia đình và thân tôc của họ trong chế độ, có nghĩa là những người ở trong giai cấp thống trị xã hội thời bấy giờ.

Sau 1975, giai cấp thống trị xã hội miền Nam không còn. Một số đã nhanh chân chạy trốn khỏi miền Nam trước 30 tháng Tư, một số không ít sau đó, cũng rời khỏi đất nước sau khi bị Việt Cộng cướp đoạt hết tài sản. Chế độ mới đã xóa sổ nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi mà không “vướng bận” gì cả.

Bây giờ, trước viễn tượng sụp đổ của chế độ Cộng Sản Hà Nội, những “lãnh tụ” tôn giáo đang nghĩ gì, âm mưu gì?

Giới Tăng Lữ Phật Giáo có thể an tâm chờ đợi, hy vọng sau khi chế độ hiện tại ở Việt Nam không còn, một chế độ mới Tự Do, Dân Chủ hoàn toàn được dựng nên, đạo Phật sẽ không còn sợ cái “bóng ma người da trắng” cùng với cái bóng đen của các ông cha cố người Tây Dương hay các linh mục, giám mục cuồng tín từng đè nén, đàn áp như đã từng xảy ra trong thời gian “nô lệ giặc Tây” và “dư chấn” của nó sau đó.

Trong khi đó, những người cuồng tín Thiên Chúa Giáo, trong cũng như ngoài hàng giáo sĩ, trong nước và nhất là ở hải ngoại, muốn xây dựng lại thời kỳ huy hoàng của đạo Thiên Chúa La Mã trong thời gian đã qua. Họ có những mâu thuẫn kỳ lạ. Nếu họ muốn có một Việt Nam Dân Chủ, Tự Do thời kỳ hậu Cộng Sản, lại còn muốn quay trở lại thời kỳ huy hoàng của mình, thì đạo Thiên Chúa La Mã, chỉ có mộ thiểu số trong dân chúng Việt Nam, làm sao có thể nắm quyền cai trị đất nước? Không thể ở cái thế thiểu số, lại nắm quyền cai trị đa số dân chúng mà không dùng bạo lực hay gian trá như đã từng có trong lịch sử. Họ đang cố vùng dậy chống chế độ Hà Nội mãnh liệt, để ngày sau “nắm công đầu”, hay ve vản những người đấu tranh chống chế độ ở trong nước để sau nầy, khi những người nầy nắm quyền trong tay, sẽ không quên “miếng khi đói”, hay âm mưu về những cuộc bầu cử sau nầy, bằng những cách gian lận như chế độ Diệm đã làm, v.v… Họ có nhiều âm mưu, kế hoạch, thủ đoạn, chưa thể vạch mặt hết được.

“Thiên Chúa giáo hóa” toàn thể dân tộc Việt Nam là tham vọng của các ông cha cố ngày xưa từng âm mưu mà không thể làm được, để đến nỗi khi Tây ra khỏi miền Nam, họ phải khăn gói đi theo. Cũng chính vì cái tham vọng đó của ông Ngô Đình Thục mà khiến cho ba anh em nhà họ Ngô chết thảm. Đó không phải là những kinh nghiệm vô cùng đau đớn để cho các ông giám mục, linh mục cuồng tín sáng mắt hay sao. Tại sao người ta không thể để cho mọi người ai vui với đạo nấy, mà phải dùng thủ đoạn, mưu lược, vũ lực, cường quyền để buộc người khác phải bỏ đạo nầy theo đạo kia. Đó không phải là cái ngu xuẩn từng có trong lịch sử nhân loại chỉ làm cho nhân loại đau đớn hay sao! Không lý những kẻ cuồng tín muốn có một cuộc “Thập Tự Chinh Việt Nam” thời hậu Cộng Sản?

Trong cuồng vọng ấy, họ muốn đất nước nầy xáo trộn, giết chóc lẫn nhau như ở các nước Hồi giáo hiện nay. Họ muốn quay trở lại thời kỳ tôn giáo độc tôn thời Trung Cổ.

Làm như thế là đi ngược dòng lịch sử nhân loại. Một người hay một nhóm người, một hay nhiều đảng phái họp nhau lại để cai trị đất nước, thì trước hết, mục tiêu họ phục vụ là người Mẹ Dân Tộc, chứ không phải người Mẹ Tôn Giáo.

Chính vì giai cấp thống trị xã hội miền Nam Việt Nam trước 1975, để vị trí người Mẹ Tôn Giáo trên người Mẹ Dân Tộc mà những người dân miền Nam như chúng ta gánh chịu nhiều đau khổ, trong khi chúng ta cũng gánh chịu nhiều nỗi đau khổ vì chế độ Cộng Sản Việt Nam trung thành với “cụ Các Mác, cụ Lê-Nin” như di chúc Hồ Chí Minh nói tới một cách kính cẩn mà không đến xỉa gì tới người Mẹ Dân Tộc.

Thế hệ bọn trẻ ngày nay ở trong nước cũng như hải ngoại, chúng chỉ phải gánh chịu những nỗi đau khổ vì chế độ Cộng Sản, trong khi chúng ta gánh chịu gấp đôi, cả hai nỗi đau khổ về hai chế độ trước và sau 1975.

Con em chúng ta chỉ biết nỗi đau khổ chúng đang gánh chịu và không có kinh nghiệm gì về những nỗi đau khổ mà cha ông chúng đã gánh chịu trước kia.

Có một điều quan trọng nhứt, người cầm vận mệnh đất nước không thể quên, không thể lơ là, là người Mẹ Dân Tộc bao giờ cũng ở một vị trí cao nhất trong sinh hoạt của một Đất Nước. Người Việt Nam tranh đấu, hy sinh cho sự sống còn của người Mẹ Dân Tộc, chứ không thể một bà mẹ nào khác. Điều đó phải rất khẳng định.

Tất cả, tất cả đều phải đi theo một dòng sinh mệnh của Dân tộc và Đất Nước: “Đất nước còn, còn tất cả” (2)

 

 

 

(1)-Mẹ là nhu cầu tâm lý của mọi người, dù trẻ hay già, dù nam hay nữ, dù còn hay mồ côi mẹ. Vì vậy, bên cạnh các “Ông”, không thể không có các “Bà”. Đó là ý nghĩa đích thực nhất để có “Mẹ Maria” hay “Phật Bà”.

            Lợi dụng tâm lý đó, “Vô Thượng Sư Thanh Hải” đã có một đời sống vật chất ít ai bằng.

(2)-“Đất nước còn, còn tất cả, đất nước mất, mất tất cả”

                                           Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: