Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

TÌNH XƯA – Đỗ Thành

1

Tình xưa 2

Yêng theo chiếc xáng đón tôi tại bến đò.  Lúc ngồi trên xe, tôi đã lo lo, chỉ sợ đến nơi không gặp Yêng thì không biết về đâu, trọ đâu nữa.  Gặp nhau mừng quá, tôi líu ríu khen : em thiệt đúng giờ, anh chỉ sợ em dềnh dang, chắc anh hỏi thăm đường, mệt nghỉ.

Yêng không đáp, chỉ cười, miệng chúm chím.  Tôi chợt nhớ tới những nụ cười len lén trao nhau dạo mới quen, nhưng ngại.  Tôi cũng muốn cầm tay Yêng để biểu tỏ một tình cảm xưa cũ, nhưng thấy Yêng nghiêm quá, tôi lại thôi.

Yêng phá tan sự rụt rè của nhau bằng cách nói xí la xí lô : anh đưa em xách cái túi cho, mình kiếm đâu ăn sương sương rồi còn về, kịp con nước.  Tôi còn đang lãng đãng thì Yêng đánh trống lảng : sao hồi này anh hiền dữ dzị.  Rồi như chợt nhớ ra, nàng nói bâng quơ : kể cũng lạ, ông nào đi tù về cũng so đo, láo liên, như bị hốt hồn đâu mất.

Tôi chạm cục tự ái nên lí nhí nói với Yêng : dzìa được là may, chứ tưởng đâu chết mất xác ở trỏng cũng nên.  Yêng tôn trọng nỗi đau táng tận của tôi, nên một bề lặng thinh.  Nàng láu táu xách cái bị đi trước, tôi líu ríu theo sau.  Ngẫm tức cười vì chợt tôi có ý so sánh thân phận chàng rể đi hầu bà mẹ vợ.

Thấy tôi cười cười, Yêng hỏi chặn : bộ em dị hợm lắm sao mà anh có ý cười nhạo  ?  Tôi chống chế nói lảng : hổng phải đâu, tại anh thấy thứ gì cũng lạ nên ngây ngô cười.  Em đừng nghĩ anh nhạo báng em, tội nghiệp anh.

Giọng tôi chắc thiểu não lắm nên nghe Yêng kể : so với hồi đó, anh giờ khác nhiều.  Chưa chi em đã  thêm vô : mấy chả giỏi thiệt, nắn bóp các anh thế nào mà khi ra khỏi cửa nhà giam, anh nào cũng hiền khô và sợ sệt nữa.

Tôi ngao ngán không muốn nhớ lại những ngày cơm hẩm gạo hiu, lao động cực thấy mồ thấy tổ.  Tôi chợt nhớ tới cái góc khuất sau trại giam, nơi chằng chịt giăng những vòng concertina thu nhặt từ các căn cứ cũ, mỗi khi được giỡ ra là có thêm một bạn tù chết.

Những ngày chém tre đẵn gỗ trên ngàn không sợ mà chỉ thấy tối xầm khi sáng ra sờ vào một thằng nào đó thấy nó đã quay lơ, gục hồi nào không rõ.  Hậu sự của nó vỏn vẹn chỉ mấy tấm ván bìa mỏng, chẳng bào chẳng ghép, cứ dện đinh vào thành hình cái hộp, rồi thồn hết đồ đạc của nó vào, bạn tù khiêng nó đi vùi vào mảnh đất sau kia.

Bây giờ hơn 30 năm trôi qua, không biết có ai nhặt nhạnh những cái xác oan uổng đó tựu về chôn ở một nơi nào hay vẫn để nằm trơ vơ đó heo hút biệt tăm ?  Yêng thấy tôi im re thì hung hắng ho như nhắc về sự hiện diện của nàng.

Đầu tôi nặng trịch vì sự xóc xe trên đường từ thành phố đến.  Tôi lặng lẽ vào quán theo Yêng, em líu ríu gọi một món gì đó, tôi chẳng quan tâm.  Gắp, húp sụp sụp cho chóng hết mà cái bụng chẳng ra no hay đói.  Tôi tự cảm thấy mình lừng khừng thiểu não.

Yêng te te dẫn tôi vòng vòng qua những con đường hẹp xíu, chen chúc giữa những vách lá và ra một cái bến nhỏ.  Một chiếc thuyền con bằng gỗ ém sẵn, Yêng kéo rột tôi lên.  Hành khách vắng hoe, chỉ có Yêng và tôi cùng một hai người nữa.

Chiều sông nổi sóng mạnh, đập ì òm vào mạn thuyền, gây chòng chành xao động.  Tôi hỏi nhỏ Yêng : sao ta không chọn đi phà mà lại theo chiếc ghe nhỏ xíu này.  Yêng ờ ờ nói chỉ có loại nhỏ mới vô tận nơi em ở được.

Chờ hoài không có thêm ai, chủ ghe lom khom tách bến, sóng rào rạt nhẹ hều.  Thuyền trôi ra sông, gió hây hây mà không dập được cơn nóng bứt rứt còn ám ảnh.  Tôi vẫn đứng, bấm mạnh đầu dép cho khỏi chao ngã.  Yêng nhắc nhở : anh ngồi xuống đi để té.  Ngó bộ anh giống chàng rể dìa nhà vợ, sao rụt rè quá đỗi, ai ngăn cản gì mà anh không ngồi cạnh em.

Vừa nói Yêng vừa xích vô thêm, dù chiếc băng còn trống trải.  Tôi chớm rớm ghé ngồi, ngó mung lung ra con sông rộng.  Nước phù sa cuồn cuộn đỏ ngầu, nghe rạt rạt mỗi khi mái chèo khua giạt đẩy thuyền lướt tới.

Trời chạng vạng nhuộm xám mặt người rất nhanh.  Tôi hỏi bâng quơ : chừng nào mới tới ?  Yêng nhanh nhảu đáp : cũng hổng lâu và chưa chi em trách : anh thiệt lạ, chưa đi đã đòi tới liền.  Có chiện gì đâu mà lo sớm với muộn.

Tôi nghĩ về dòng lạch heo hút với dạng bần thấp lè tè, người đứng phải cúi đầu mỗi khi ghe tách sông chui vào xóm.  Tôi không dè Yêng lại bỏ nổi con phố để về sống tại nơi này.  Lòng tôi chớm thấy buồn và trách sao tìm thăm Yêng chi thêm nặng tình nặng nghĩa.

Chợt Yêng hỏi tôi : hay là anh không ưng và chê nhà em ru rú nơi góc đồng không mông quạnh.  Tôi phải vội nhanh miệng chống chế : nào anh đã tới và biết gì đâu mà chê hoặc khen.  Yêng cảm động chụp lấy bàn tay tôi ấp khẽ và an ủi : em ở được thì anh cũng ở được.  Thời buổi này còn được một chỗ ra vào vẫn hơn là lang thang ngày buổi không nơi nương tựa.

Thỉnh thoảng một chiếc phà lạch bạch chạy qua, sóng dồn lên làm chiếc ghe nghiêng nghiêng, Yêng lại nắm chặt tay tôi cho chắc.  Có lúc em dựa hẳn bên vai vào người tôi, đưa đẩy như ru và lào khào kể : mau thiệt hen, mới đó mà mấy chục năm đằng đằng.

Tôi không thở dài và tuy thuyền đang trôi trên sông mà sao nghe muối mặn đắng lòng.  Nhớ lại thời xa xưa, Yêng vào nơi tôi đóng quân đúng vào đêm căn cứ bị pháo.  Tiếng 122 rú rít ghê rợn, Yêng bíu lấy tôi quính quáng hỏi : liệu có rớt trúng đây không anh ?

Dạo đó sao tôi tỉnh trí gớm.  Tôi đã giảng giải với Yêng : nếu em còn nghe được tiếng đoành đoành và nhịp hú âm u là không sao cả.  Còn khi em kịp nghe ục rồi hết là coi như xong, lúc đó mình có kịp nhận ra gì đâu thì hồn đã vất vưởng xa rồi.

Yêng sợ, hơi run, bíu sát vai tôi mà nói : em sợ.  Hồi đó tôi đã ân hận, lỡ em có chuyện gì, chắc tôi sẽ không tài nào sống nổi.  Vậy rồi lần lữa Yêng vẫn bò vào, thật bất chợt, đôi khi như chơi trò trốn bắt, tôi cản không được nên đành chấp nhận theo.

Những đêm trong căn cứ, nằm nghe tiếng gió vi vu thổi vào rặng phi lao, Yêng có nhiều ý tưởng chất vấn : đời lính khổ thế này mà sao ai cũng ham đánh nhau, sống hòa bình thì ai chịu xa nhà làm gì nhỉ ?  Tôi chỉ còn biết kéo em xích gần lại và đặt một nụ hôn lên chỏm tóc em thay cho một câu đáp.

Nhận thấy vẻ đăm chiêu của tôi, Yêng lại thúc : anh nghĩ gì mà thừ người ra vậy.  Tôi ôn tồn nhắc lại kỷ niệm cũ, Yêng theo dõi nghe và thở dài khe khẽ : đánh nhau thì mong hòa bình, giờ mấy mươi năm tiếng súng ngưng mà lòng người vẫn rách nát.

Bóng tối ụp xuống càng nhanh.  Nhọ mặt người, phụt cái nhìn ai cũng xám ngoét.  Bác chủ ghe gắng  thắp ngọn đèn bão và nhịp chèo vẫn xé nước đẩy ghe đi.  Chút ánh sáng vàng ệch loe hoe soi không tỏ một đoạn rạch và khoang ghe, nhưng ai cũng vững tâm vì còn có chút lấp lánh.

Tiếng rào rạt càng rõ, thuyền lướt đi như được ai phụ đẩy từng chặp.  Cuối cùng lạt xạt chạm be bờ.  Yêng đứng lên trước tiên lay tỉnh tôi ra khỏi cơn say sóng : tới rồi, anh.  Tiếng kêu rất khẽ, song đầy âu yếm và ngọt ngào.

Em đưa tôi cầm một bị kèm cái túi của tôi mà nhắc : anh cầm bớt cho em món này.  Tôi chòng chành vài thoáng vì ghe dựa nơi triền sỏi hổng chưn không vững.  Yêng cùng bíu vào tôi lục tục rời đò.  Cả hai lạch bạch như những con vịt bầu túc tắc.

Căn nhà Yêng dựa sát con nước.  Trong bóng tối trông lênh khênh như không chắc.  Gió lòn lòn quanh vùng, có tiếng muỗi kêu vo ve.  Yêng một hai căn dặn tôi : đi cẩn thận coi chừng té.  Thường những người mới đi ghe hay có cảm tưởng chênh vênh, đêm nằm vẫn bồng bềnh, phải vài hôm mới quen.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

3 Trackbacks / Pingbacks

  1. TÌNH XƯA 2 – Đỗ Thành | Văn Tuyển
  2. TÌNH XƯA 3 – | Văn Tuyển
  3. TÌNH XƯA 4 – Đỗ Thành | Văn Tuyển

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: