Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

SAU MẬU THÂN, HOA KỲ TÌM ĐƯỜNG THÁO LUI – Bùi Anh Trinh

1Trích sách “Gải mã những bí ẩn của chiến tranh Việt Nam” của Bùi Anh Trinh.

Đầu năm 1967 Tổng thống Johnson gởi thư cầu hòa với Hồ Chí Minh nhưng Hà Nội bác bỏ, Washington quay ra mở đường dây tiếp xúc trực tiếp với Mặt trận Giải phóng Miền Nam.  CIA bắt liên lạc được với Trần Bửu Kiếm, Ủy viên Ngoại giao của Mặt trận Giải phóng Miền Nam.

Cuối tháng 6-1967 Trần Bạch Đằng, Ủy viên thường trực Trung ương Cục Miền Nam, gởi một liên lạc viên tên Trương Đình Tòng đến gặp Tổng giám đốc Cảnh sát Nguyễn Ngọc Loan trao thư đề nghị trao đổi tù binh.

Thời gian này Tướng Nguyễn Chí Thanh, bí thư Trung ương cục Miền Nam vừa mới chết vì bệnh tim, Hà Nội cử Phó thủ tướng Phạm Hùng vào Nam thay thế Nguyễn Chí Thanh.  Trong thời gian Hùng chưa vào Nam thì Trung ương cục Miền Nam do Nguyễn Văn Linh lãnh đạo nằm bên Cam Bốt không biết gì về hoạt động bắt tay với CIA của Võ Văn Kiệt và Trần Bạch Đằng.

Ngày 9-7- 67 CIA đưa Trương Đình Tòng về lại MTGP qua ngã Củ Chi.  Hơn mười ngày sau Tòng trở lại đưa thư của Trần Bạch Đằng, cho biết sẵn sàng nói chuyện với Hoa Kỳ về việc trao đổi tù nhân.  Ngày 28-9-67 CIA đưa Tòng trở về MTGP, có mang theo máy liên lạc vô tuyến để khỏi mất công đi lại.

Ngày 25-10-67 Tòng trở lại cho biết MTGP không dùng máy vô tuyến của CIA và đưa thư trả lời của MTGP, trong thư cho biết ngoài chuyện trao trả tù binh còn có thể bàn những chuyện khác, nhưng dứt khoát không nói chuyện với chính phủ Nguyễn Văn Thiệu.  Ngày 4-11-1967 Đại sứ Bunker thông báo cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu biết về cuộc tiếp xúc với MTGP.

Trong khi đó Hà Nội hoàn toàn không hay biết về việc làm của Kiệt, Đằng.

Ngoặt sang con đường hòa đàm

Năm 1967, đầu tháng 12, Tài liệu của CIA : “Đầu tháng 12/67 Bunker đích thân gặp Thiệu và thuyết phục Thiệu đồng ý trả tự do cho 3 người gồm bà Mai Thị Vàng, vợ của Trần Bạch Đằng, Tòng và người mang thư đầu tiên của Kiếm. ( CIA and The Generals, bản dịch của Trần Bình Nam).

Năm 1968, Tài liệu của CIA : “Ngày 30/1, cộng sản mở cuộc tấn công Mậu Thân, nhưng Hoa Kỳ vẫn không lơ là theo dõi việc trao trả tù nhân.  Ngày 3/2 Miller gặp Thiệu yêu cầu Thiệu thả thêm tù nhân đế đáp lễ MTGP.

Hy vọng Kỳ có thái độ hợp tác với Hoa Kỳ (về việc tiếp xúc với MT qua việc trao đổi tù nhân) hơn tổng thống Thiệu, ngày 8/2 Miller gặp Kỳ và cho Kỳ biết – theo Tòng – cộng sản đánh trận Mậu Thân là để tạo điều kiện cho cuộc thương thuyết nên Việt Nam nên thả thêm tù nhân. Kỳ hứa sẽ thảo luận thêm với Thiệu. ( CIA and The Generals, bản dịch của Trần Bình Nam).

Năm 1968, hai tháng sau trận Mậu thân, ngày 18-3 tại Washington, Đại sứ VNCH tại Hoa kỳ là Bùi Diễm xin gặp Tổng thống Johnson.  Ông được Tổng thống mời tiếp kiến vào khoảng 5 giờ chiều.  Bùi Diễm kể lại :

“Lúc ngồi xuống, đối diện sát ông, tôi mới nhận thấy là mới cách đó vài tháng ( lần trước tôi gặp ông là tháng 11 năm 1967 ) mà ông già hẵn đi.  Trông ông có vẻ mệt mỏi, ưu tư hiện rõ trên nét mặt, dường như gánh nặng của chiến tranh Việt Nam đang thử thách sức chịu đựng của ông.  Trong thâm tâm lúc này, tôi muốn chia sẻ với ông những nỗi khó khăn đang đè nặng lên ông.  Tôi thấy ái ngại cho ông”… …

Trong phòng không một tiếng động.  Bên ngoài trời đã sẩm tối.  Đến khi tôi dứt lời thì Tổng thống Johnson ngồi yên đến hai ba phút rồi mới chậm rãi phát biểu ý kiến.  Ông nói : “Nếu chúng ta không thắng thì rắc rối to.  Tôi đã cố gắng hết sức nhưng một mình tôi không thể cầm cự mãi được” ( Bùi Diễm, Gọng Kìm Lịch Sử, trang 363 ).

Năm 1968, ngày 20-3, Đại sứ Bùi Diễm đến gặp tân Bộ trưởng Quốc phòng Clifford.  Ông kể lại :

“Ông không ngần ngại, nói đốp chát, cộc lốc, đi thẳng vào vấn đề… Ông nói : “Lúc này không còn phải là lúc dùng những danh từ mỹ miều ngoại giao nữa ( We have run out of time for diplomatic niceties )….Chúng tôi ngấy đến tận cổ về những chuyện xích mích của các ông (giữa ông Thiệu và ông Kỳ). Dân chúng Hoa kỳ đã mất hết tinh thần, và sức ủng hộ của chúng tôi có giới hạn… … Chúng ta bắt buộc phải tìm ra một giải pháp nào đó, nếu không thì chắc chắn sẽ có tai họa”. (Trang 365)

Năm 1968, vài ngày sau 20-3, Đại sứ Bùi Diễm đến gặp Ngoại trưởng Hoa Kỳ Dean Rusk.  Bùi Diễm thuật lại lời của ông Ngoại trưởng : “Chúng tôi không có sự lựa chọn nào khác, và mục tiêu của chúng tôi không còn là thắng lợi quân sự nữa, nhưng là hòa bình trong danh dự” ( Trang 366. Nghĩa là làm sao có vẻ như hai bên cùng bãi binh, Hoa Kỳ lấy được tù binh trở về mà không mang tiếng thua trận ).

 

Clark Clifford quyết định rút quân HK ra khỏi VN

Năm 1968, ngày 31-3, Tổng thống Hoa Kỳ Johnson tuyên bố giảm ném bom Bắc Việt và không ra tranh cử tổng thống nhiệm kỳ 2.  Để đáp lại, Hà Nội tuyên bố sẵn sàng gặp nhau tại Paris để thương lượng ngưng bắn.

* Chú giải :   Quyết định bất ngờ của Tổng thống Johnson có vẻ như là một biểu hiện của sự mệt mỏi và chán ngán;  khiến cho dư luận quốc tế, kể cả Hà Nội, tin rằng đây là hậu quả của đợt tổng công kích tết Mậu Thân.  Tuy nhiên hồi ký của Bộ trưởng Quốc phòng Clark Clifford, người thay thế McNamara, cho biết Tổng thống Johnson không còn lựa chọn nào khác:

Johnson được coi như là “tác giả” của chiến tranh Việt Nam.  Nhưng giờ đây dân chúng Hoa Kỳ đòi hỏi phải chấm dứt chiến tranh, nghĩa là không còn ủng hộ ông nữa.  Do đó ông không thể quay 180 độ để biến thành người chống chiến tranh như Thượng nghị sĩ Robert Kennedy.

Nếu ông cứ giữ vững lập trường theo đuổi chiến tranh thì ông sẽ không đắc cử mà trái lại đảng Dân Chủ có thể mất đi cơ hội tiếp tục giữ chiếc ghế Tổng thống Hoa Kỳ trong nhiệm kỳ sắp tới.  Vì vậy ông rút lui để ứng cử viên Dân chủ Humphrey có cơ hội thắng cử với chiêu bài xúc tiến hòa đàm chấm dứt chiến tranh.

Ngoài vấn đề tranh cử, Tổng thống Johnson còn phải đối diện với vấn đề cải tổ xã hội, xóa khoảng cách khác biệt giữa giới giàu với người nghèo;  một chính sách mà ông đã hứa khi ra tranh cử năm 1964.  Mục sư Luther King đang mở một phong trào vận động phản đối Jonson không thực hiện lời hứa cải tổ xã hội cũng như phản đối chiến tranh Việt Nam.

Rõ ràng lúc đó Johnson không thể nào có đủ ngân sách cho chương trình cải tổ xã hội vì phải tăng thuế mới có đủ ngân sách thực hiện cải tổ xã hội trong khi một nửa ngân sách quốc phòng đã dồn hết cho chiến tranh Việt Nam.  Nếu chính phủ xin tăng thuế thì chắc chắn Quốc hội buộc Tổng thống phải rút quân trước khi chấp thuận tăng thuế.  Vì vậy giải pháp rút quân là chuyện “no choice” (không còn chọn lựa nào khác) đối với Tổng thống Johson.

Hơn nữa, những lời tham vấn của tân bộ trưởng Quốc phòng Clark Clifford đã cho Tổng thống Johnson thấy rằng vấn đề không phải là nên rút quân hay không, mà là nên theo đuổi chiến tranh Việt Nam hay không? Nếu không thì rút quân.

Sở dĩ Clifford có ý nghĩ đó vì sau khi nhận chức Bộ trưởng Quốc phòng thì ông nhận được thỉnh cầu của Tướng Westmoreland xin tăng thêm 206 ngàn quân, Clifford đã hỏi Tham mưu trưởng liên quân HK là Tướng Wheeler cùng với các sĩ quan trong Bộ tham mưu liên quân:

–  Nếu thêm 200 ngàn quân chúng ta có biết chắc sẽ thắng hay thua không?

–  Nếu 200 ngàn quân vẫn chưa đủ thì bao nhiêu mới đủ?

– Và một khi đã đủ thì có chắc sẽ không bao giờ xin thêm nữa không?  Thí dụ như Hà Nội thấy Mỹ tăng quân thì họ cũng tăng quân thì tính làm sao?

Không có câu trả lời khẳng định nào được đưa ra, nghĩa là các ông tướng cũng mù mờ về những gì đang xảy ra tại Việt Nam, và rồi cũng không ai dám chắc những gì sẽ xảy ra. Từ buổi hội ý này, Bộ trưởng Clifford đã có quyết định dứt khoát phải rút quân khỏi Việt Nam.

Có thể nói thời bấy giờ, và cả 20 năm sau này, Clifford là một chính trị gia lỗi lạc nhất của Hoa Kỳ.  Từ một thiếu úy Hải quân đồng hóa (không qua trường đào tạo sĩ quan căn bản) vào năm 1944.  Nhờ tài năng và bản lĩnh, hai năm sau Clifford đã trở thành đại tá phụ tá Hải quân cho Tổng thống Truman, và 2 tháng sau khi mang lon đại tá, ông đã trở thành phụ tá đặc biệt của Tổng thống Truman.

Sau 6 năm làm việc với Truman, Clifford trở về hành nghề luật sư nhưng với uy tín đầy mình và quen biết hầu hết các nhân vật quan trọng của Hoa Kỳ cũng như của Thế giới.  Ông là cố vấn cho hầu hết các Tổng thống Hoa Kỳ trong hai thập niên 1960-1970.  Trong đời ông kết thân với 9 vị Tổng thống Hoa Kỳ.

Do đó khi ông nhận lời Johnson giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng thì cũng có nghĩa là ông quyết định ra tay giải quyết chính trị Hoa Kỳ trong thời kỳ sóng gió do cuộc chiến tranh Việt Nam.

Vừa mới nhập cuộc Clifford đã dễ dàng đi tới quyết định rút quân chỉ vì lý do là theo đuổi chiến tranh Việt Nam không có lợi.  Ông đã đưa ra cho chính ông và cho nhân dân Hoa Kỳ 2 lựa chọn:  một là theo đuổi chiến tranh với kết quả biết chắc là bất lợi, hai là rút quân về.  Điều này chứng tỏ Clifford không đủ bản lĩnh như danh tiếng của ông ta, chẳng qua là ông ta gặp may quá nhiều,

Bởi vì vấn đề gải quyết chiến tranh Việt Nam có tới hằng ngàn lựa chọn từ thấp tới cao, từ hay tới dở chứ không phải chỉ có 2 lựa chọn.  Chẳng hạn như lựa chọn thứ 3 là giao việc chống Cộng cho người Việt Nam.  Hoa Kỳ chỉ yểm trợ về tài chánh, vật liệu thì tức khắc người Việt Nam sẽ làm hay hơn các cố vấn Hoa kỳ và quân đội Hoa Kỳ rất nhiều, điều này được chứng thực trong cuộc đọ sức giữa quân đội VNCH và quân đội Bắc Việt vào năm 1972; mặc dầu năm đó quân đội VNCH như người bệnh mới dậy sau khi quân đội Hoa Kỳ đột ngột rút về gần hết, nhường chiến trường lại cho một mình quân đội VNCH.

Còn chuyện đối phó với chiến tranh du kích của CSVN thì không khó, dân tộc Việt Nam đã làm rồi và làm rất đẹp dưới thời Nguyễn Văn Tâm hay Bảy Viễn.  Chẳng qua là dưới thời CIA thì các nhà chiến lược chiến thuật VNCH đành ngồi ngó rồi lắc đầu ngao ngán mà thôi.

BÙI ANH TRINH

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: