Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Một lần về thủ đô, thăm các vị La Hán – hoànglonghải, thuhương

1Phần 1

Nỗi buồn tỉnh lẻ

Khi bà Sarah Pailin đứng chung liên danh với ông John McCain để tranh cử tổng thống, thì bà governor của xứ tuyết xa xôi “khỉ ho cò gáy” phải về thủ đô Washington để vận động, v v… bà Bùi Bích Hà trên Radio VNCR gọi đùa bà Pailin là “dân tỉnh lẻ”.

Câu nói đùa ấy ám ảnh tôi không ít, nhất là thời gian mới rồi, tôi từ một thành phố nhỏ ở tiểu bang Massachusetts về Little Saigon thăm viếng bạn bè. Bà Hà gọi bà Pailin dân tỉnh lẻ là gọi đùa, – tôi đoán chừng như thế – nhưng trường hợp tôi về Little Saigon, khi tôi nói với bạn bè rằng “Tui là dân tỉnh lẻ về thủ đô” là tôi nói thiệt.

Thật vậy, Little Saigon, như người ta thường gọi là “Thủ đô tỵ nạn”. Tôi, từ một thành phố xa xôi về đó, tôi không phải là dân tỉnh lẻ thì còn là cái gì chứ? Mặc dù, khi tôi nói tôi là dân tỉnh lẻ, các bạn bè cứ nhìn tôi mà cười. Dân tỉnh lẻ là dân còn quê, không

văn minh như dân thủ đô, người còn phèn. Họ cười tôi là dân tỉnh lẻ là dân quê hay cười vì họ cho rằng tôi chỉ nói đùa.

Nói cho đúng, dân tỉnh lẻ về thủ đô sẽ học được nhiều cái hay cái đẹp hơn, thậm chí cố bắt chước dân thủ đô để rửa, để che dấu một ít “phèn” của người tỉnh lẻ. Điều ấy, tôi đã từng thấy, từng gặp, hơn nửa thế kỷ trước, khi tôi còn ở Huế. Saigon lúc ấy là thủ đô Việt Nam Cộng Hòa.

Có lần, ông anh tôi đi Saigon về, cho tôi mấy cái áo “sơ mi carô” là thứ ở Huế tôi chưa từng mặc bao giờ. Một cô gái trẻ, học trò cũ của tôi, đến thăm nhà tôi, nói: “Thưa cô, em mới đi Xè-goòng về”, khiến tôi cũng suy nghĩ. Sao lại “Xè-goòng” mà không phải Sàigon như người Huế thường nói? Cô ta muốn nói cho ra giọng dân Saigon đấy. Bớt đi một chút “phèn”, cho nó “văn minh hơn” mặc dù cô ta là người Huế, cựu kinh đô. Nhưng có ai chê dân Huế quê bao giờ đâu!

Tuy nhiên, những món quà mang từ Saigon về, những món quà không thấy bán ở Huế, dù ở nhà hàng Morin sang trọng, cũng chứng tỏ Huế, cựu kinh đô, không bằng kinh đô miền Nam hiện tại được.

Huống chi tôi hiện đang cư ngụ tại một thành phố cũ, mấy chục năm không thấy xây thêm building mới, chỉ toàn là những ngôi nhà có số tuổi trăm năm, gạch đỏ, tường loang. Nhiều hãng, xưởng bỏ hoang vì bankrupcy hay dời ra những town chung quanh, khiến tôi gọi đùa thành phố tôi ở là “Phố cổ Hội An” của Mỹ. Sinh sống ở một thành phố như thế, không những đã quê mà lại còn buồn nữa, cái buồn của sự tàn phai, của hoang hóa, của thời gian, cứ như hiển hiện ra trước mắt mỗi ngày, mỗi khi ra phố. Nếu như Trịnh Công Sơn viết “Chiều nay em ra phố về, thấy đời là con nước trôi” thì tôi phải sửa lại cho đúng hoàn cảnh của tôi là “Chiều nay tôi ra phố về, thấy đời là con phố… hoang”.

Sự hưng thịnh của thành phố nầy đã qua rồi, không có cách chi níu kéo lại được.

Độc giả có thể tìm trong Wikipedia để biết thêm về thành

phố Worcester nầy, nếu quí vị muốn. Phần tôi, tôi chỉ viết lại vài nét đặc biệt thành phố tôi ở mà thôi, những câu chuyện, những sự kiện, những hình ảnh đập vào mắt tôi, kể từ trước khi tôi rời Việt Nam và tới nơi đây.

Nhờ một người quen thân làm linh mục từ trước 1975, nên con gái thứ hai (kể theo ngoài trung) của tôi “giã từ Cali” lên học hành, định cư ờ thành phố nầy, sau khi con gái tôi tới Mỹ không lâu.

Trong lịch sử, sinh hoạt tôn giáo ở thành phố nầy khá mạnh, kể từ sau 3 lần nơi nầy “chết đi sống lại” vì chiến tranh, trước khi có cuộc Chiến Tranh giành Độc Lập của Cách Mạng Mỹ xảy ra. Nó có nghĩa rằng nơi đây, di dân Mỹ định cư từ lâu lắm: năm 1673, trên con đường người ta gọi bằng nhiều tên khác nhau. Tên thường gọi nhất là “Boston Post Road”, “Route 9”. Route 9 là con đường tổ tiên người Mỹ dùng để đi về phía Tây, nhất là sau khi có sự kiện “Gold Rush” trong lịch sử đi tìm vàng của di dân Mỹ. Trên Route 9, đi từ Đông sang Tây có nhiều thành phố, nhiều town có lịch sử xưa lắm, cùng với lịch sử Tây Tiến (West Ward). Lịch sử Tây Tiến của Mỹ không lâu dài như lịch sử Nam Tiến của ta nhưng nó đẫm máu hơn với những cuộc tàn sát người mọi da đỏ, như độc giả từng thấy trong phim cao bồi.

Không biết có phải người Việt không “hiếu sát” như người Mỹ, nên cuộc Nam Tiến của cha ông chúng ta không có nhiều máu, nhưng về mặt tàn ác, ông cha chúng ta có nhân đạo hơn chăng, khi dân tộc Chàm bị đàn áp và nước Chiêm Thành  tiêu diệt, biến mất trên bản đồ?

Mấy năm còn hòa bình, có lần đi chấm thi trung học, tôi cùng mấy người bạn rủ nhau đi xe đò từ Quảng Ngãi vào Nha Trang, xe chạy theo con đường Nam Tiến của cha ông ngày xưa, không hiểu sao tôi thấy lòng tôi sao buồn quá vậy?!

Người ta có thể thấy con đường Nam Tiến của tổ tiên ngay

trong ca dao: “Chiều chiều gió thổi Ải Vân, Chim kêu ghềnh đá gẫm thân em buồn.” hoặc “Tiếng ai trên núi véo von, Phải chăng

chú lính trên hòn Cù Mông. Xa xa em đứng, em trông, hỏi chàng

lính mộ thử chồng em đâu?” Vô tới Nam bộ người ta còn buồn cho

thân phận của mình đấy: “Rồng chầu ngoài Huế, ngựa tế Đồng Nai. Nước sông xanh sao lại chảy hoài, Thương người xa xứ lạc loài đến đây” (1).

Tôi từng đi xe hơi dọc con đường số 9 (Route 9) nầy, ít ra là đoạn đường nằm gọn trong chiều ngang của tiểu bang Massachusetts, nhưng quả tình tôi không thấy buồn như khi đi “Dọc đường số 1” (cũng là tên một tác phẩm của Phan Nhật Nam). Có phải vì cuộc Tây Tiến là của tổ tiên người Mỹ mà không phải là cuộc Nam Tiến của ông cha chúng ta?! Vì nơi nầy không phải là quê hương cha sinh mẹ đẻ của tôi.

Tôi có một kỷ niệm. Một đêm khuya lắm, đi làm về. Tôi một mình lái xe trên Route 9, hướng về phía tây. Qua khỏi một ngọn đồi, tôi thấy có mảnh trăng lưỡi liềm sắp lặn còn treo lơ lững ở cuối chân trời. Dù đã già, tôi vẫn thường nhớ tới mẹ, và hai câu thơ của Trần Trung Đạo chợt hiện ra trong trí, làm cho nỗi nhớ thương mẹ quay quắt hơn:

Ôi đời mẹ như một vầng trăng khuyết

Vẫn ngàn năm lơ lững ở đầu sông.

Mỗi khi lái xe qua cây cầu trên hồ Quincigamond, (cũng là tên cũ của thành phố Worcester), hồ nằm giữa thành phố nầy và town Shrewsbury, chỗ nầy hồ hẹp nhứt và bờ không dốc đứng, tôi thường nghĩ tới những chiếc xe ngựa của người Mỹ đi về phía Tây hồi mấy trăm năm trước, như thường thấy trong phim Western, như “Convoi des femmes”, như ““Rio Bravo”, “The river of no return” chẳng hạn. Trong cuộc Tây Tiến, người Mỹ gian khổ không kém gì cha ông chúng ta hay còn hơn thế nữa?! Và trong những nỗi gian khổ của kiếp người, nhất là những kiếp người “đi tìm đất sống” như người Việt chúng ta ngày nay, thì ai cũng như ai, dân tộc nào cũng như dân tộc nào, có ai khác chi?

Ai có đọc “The Red Pony” của John Steibeck sẽ ngạc nhiên khi thấy cậu bé Jody đòi đóng tầu đi nữa, vượt Thái Bình Dương tiếp tục cuộc Tây tiến của cha ông cậu bé.

Người Việt cũng vậy, mặc dù trẻ con người Việt không có ai có ý nghĩ như cậu bé Jody, muốn đóng thuyền đi nữa, khi cha ông chúng ta đã tiến tới mũi Ông Trang ở Cà Mau, nhưng quả thật sau 1975, người Việt lại vượt biển ra đi, tiếp nối cuộc Nam Tiến mà cha ông đã bỏ dở ngày trước.

Thành phố tôi ở nằm trên con đường Tây Tiến của người Mỹ, quanh quẩn trên 7 ngọn đồi nên có khi người ta còn gọi là “thành phố Seven Hills” như một cái tên nào đó trong lịch sử Châu Âu. Di dân Mỹ, cũng như người Việt chúng ta vậy, họ đem cái tên cũ nơi quê hương cũ của họ mà đặt tên cho vùng đất mới.

Ngoài tính cách tôn giáo, nằm trên đường giao thông Đông – Tây, thành phố nầy một thời là thành phố công nghiệp phát triển.

Hai mươi năm trước, khi mới tới đây, tôi cư ngụ ở town Barre, một town nhỏ của người Mỹ gốc Ý, cách không xa lắm nơi tôi ở hiện nay. Nơi cũ không có một gia đình Việt Nam nào, ngoài gia đình tôi, một thời kỹ nghệ dệt ở cái town nầy rất phát triển. Nhà tôi nằm trên một sườn đồi toàn là thông. Phía dưới chân đồi là một cái hồ rộng, chung quanh hồ cũng là những cây thông cao có hàng chục tuổi. Nước hồ trong vắt, xanh ngắt, tưởng như đáy hồ sâu lắm, thấy mà sợ! Cuối hồ là một cái thác, nơi ấy có một nhà máy dệt, đóng cửa gần trăm năm nay. Nhà máy nầy chuyên dệt thứ vải dày, có thứ để làm mui xe. Không rõ khi ông Levi dùng vải mui xe may quần jean để bán cho thợ đào vàng Cali, ông ta có dùng thứ vải sản xuất ở nhà máy dệt nầy hay không?

Tuy nhiên, rõ ràng hơn, ông Clark đã mua cuốc xẻng sản xuất thành phố nầy, đem bán cho người đào vàng ở Cali mà trở nên giàu có, giàu hơn cả người đi đào vàng.

Sau khi thực dân Pháp trở lại xâm lăng nước ta sau Thế Chiến thứ 2, chúng ta thấy quân đội Pháp đã dùng “giây kẽm gai” để rào đồn bót. “Barber Wire”, người ta thường gọi là “giây kẽm gai” là sản phẩm “ngày xưa”, xuất hiện đầu tiên từ thành phố nầy đấy. Nói cách khác, đây là “quê hương bản quán” của giây kẽm gai. Nó được sản xuất ở đây trước tiên, trước khi “lan tràn” ra nhiều nơi khác trên nước Mỹ, trên khắp thế giới, và dĩ nhiên, cũng trước cả ông Hoàng Kim Qui, ông “vua kẽm gai” của miền Nam Việt Nam.

Nói như thế, nó có nghĩa rằng một thời, thành phố nầy có kỹ nghệ luyện kim. Nói một thời, có nghĩa rằng nơi nầy, nay không còn là thành phố luyện kim nữa. Hầu hết những nhà máy luyện kim đều bỏ hoang, sập tiệm hay dời đi đâu đó cả. Nhưng Viện Đại Học Clark ở đây, khá nổi tiếng, là một viện đại học do việc bán cuốc xẻng của ngành luyện kim ở thành phố nầy mà ra.

Trên Main St, dĩ nhiên, như nhiều thành phố Mỹ khác, là con đường chính đi qua trung tâm thành phố, Viện Đại Học Clark nằm chình ình ở đó, khá đẹp, khá rộng, với nhiều du học sinh Âu Mỹ cũng có, da vàng mũi tẹt Nhật Bản, Đài Loan, Tầu lục địa hay từ Việt Nam sang cũng không thiếu chi.

Ngay trong sân trường, trước cửa chính, tại bồn hoa, tượng đồng ông Sigmund Freud (2), nhà phân tâm học người Đức, ngồi dựa lưng đọc sách, còn uy nghi ở đó. Người ta dựng tượng kỷ niệm một thời ông triết gia nầy, được mời từ Đức sang dạy cho sinh viên ở đây.

Clark là một viện đại học nổi tiếng vùng Đông Bắc Mỹ, cùng số tuổi với các đại học danh tiếng khác như Havard và Yale, được thành lập năm 1887, sáng lập viên là thương gia Jonas Gilman Clark. Gọi là thương gia cho văn vẽ chứ thật ra ông là người buôn xẻng cuốc.

Trong thời kỳ Gold Rush, người Mỹ đổ xô về Cali đào vàng, người ta đi nườm nượp, từng người, từng nhóm, từng đoàn xe nối đuôi nhau như người ta thấy trong phim cao bồi. Ông Clark không đi đào vàng. Ông buôn xẻng cuốc bán cho người đào vàng vì không lý người ta đào vàng bằng tay? Nếu như ông Levi bán quần jean cho dân đào vàng mà giàu, thì ông Clark bán cuốc xẻng cho dân đào vàng, giàu cũng chẳng kém chi. (3)

Thôi học từ khi còn trẻ, sau khi tốt nghiệp trung học, cái mộng học vấn ám ảnh và đeo đuổi ông ta nhiều năm, sau khi ông làm đủ nghề để sinh nhai. Trước hết, nói như cách của người Việt Nam chúng ta, ông làm nghề đóng xe thổ mộ, rồi qua nghề đóng bàn ghế gia dụng, bán bàn ghế, địa ốc và đi dần vào nghề luyện kim. Chính vì cái nghề nầy mà ông dấn thân vào việc buôn xẻng, bán cho người Mỹ đào vàng ở San Francisco. Rồi ông ta trở lại Mass năm 1881, cùng vợ và bạn thân, mua đất dựng nên ngôi trường đại học nầy, sau khi ông ta đã đi một vòng Châu Âu, tìm hiểu về các viện đại học bên ấy.

Có hai điều khiến tôi quí trọng ông Clark nầy. Một là công lao của ông trong việc giáo dục ở xứ nầy và hai là cả ông và vợ đều tham gia “Phong trào chống nô lệ” (“Anti-slavery movement”). Dĩ nhiên, trong cuộc nội chiến Mỹ, hai vợ chồng ông đứng về phía Tổng Thống Lincoln.

Đến Mỹ, tôi không ghi tên học ở trường nầy được mà phải học ở Cambridge College, xa nhà những 30 dặm. Tuy nhiên, ông cựu viện trưởng đại học nầy, ông Jackson, một giáo sư sử học, lại là thầy ESL của tôi khi tôi mới định cư, học tại thư viện ngôi trường nầy.

Học với ông nầy “vui lắm”. Ban đầu thì ông dạy đúng bài bản: Lật sách, đọc, nghe, văn phạm… Dần dần, các buổi học trở thành việc “đấu láo” giữa tôi và ông, đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Ông ta khoe với tôi: “Năm 1968, khi (tao) làm president ở trường nầy, 50 ngàn sinh viên toàn khắp nước Mỹ, tụ họp về đây để biểu tình chống chiến tranh Việt Nam. (Tao) đã “gave a speech” (viết đúng câu ông ta nói), cùng với 2 ông president khác nữa là 3.” Tôi hỏi: “Ông nói cái gì?” Ông ta bảo: “Đã đến lúc phải chấm dứt chiến tranh VN.” Tôi lại hỏi ông ta: “Ông không nghĩ rằng chiến tranh VN đã góp phần đánh bại khối Cộng Sản, đưa nước Mỹ lên vị trí hàng đầu như ngày nay hay sao?” “Việc ấy thì đã như vậy rồi!” Ông ta cười khi nói câu ấy với tôi.

Có lần tôi lại nói với ông: “Kennedy là một anh chàng (tôi dùng chữ guy) hết sức ẩu tả. Đang làm tổng thống mà lén mọi người đi gặp Marilyn Monroe. Lỡ thằng Krutchov nó bấm hỏa tiển thì sao?”. “Thì chết chứ sao?” Ông ta vừa nói vừa cười (4).

Bữa đó, tôi lại nói với ông thầy: “Dòng họ nhà Kennedy dâm lắm. Ông nào cũng có chuyện sex, kể cả ông “Rô bợt”, phải không?” “(Tao) cũng nghĩ vậy!” Ông ta nói. Tôi lại nói: “Tôi nghĩ trên đời nầy, gần như hầu hết đàn ông, dù đã có vợ rồi, vẫn còn có bồ! Đúng không?” “(Mày) nói gần đúng đấy!” Ông ta trả lời. Tôi lại nói: “Ông có biết đạo Phật phân biệt hai cái dâm không? Dâm là sex đấy!” Ông thầy hỏi: “Phân như thế nào?” Tôi giải thích: “Chính dâm và tà dâm. Vợ chồng ăn nằm với nhau là chính dâm. Người nào “nhảy dù”, sex với người ngoài chồng, ngoài vợ mình là tà dâm.”. “Vâng, đạo Phật nói đúng đấy.” Ông ta bảo. “Tuy nhiên,” tôi lại nói: “Trong việc sex, vợ chồng càng thương yêu nhau, càng khoái lạc, đẻ con càng thông minh. Những người say rượu mà ngủ với vợ là không đạt được cái khoái đó, sinh con thường ngu đần.” Ông thầy tôi cười: “Lần đầu tiên (tao) nghe nói tới cái khoái lạc đó. (Tao) cũng cho là có lý.” Tôi cười: “Vậy thì bây giờ y khoa người ta có một ngành học mới. Thay vì tâm sinh lý (psycho-physiology) thì bây giờ có một ngành mới: sex-tâm lý (sex-psychology). Đúng không?” Cả ông ta và tôi đều cười.

Đại loại là những câu chuyện như thế, nhưng có hôm ông ta bảo tôi: “(Mày) thấy không, các tòa nhà của viện đại học nầy không phải để làm trường học. Nó là kiểu kiến trúc của một cái hãng gì đó, sau mới mở viện đại học.”

Ở Việt Nam thì bây giờ “Hy sinh đời bố, củng cố đời con”. Cha mẹ cố làm giàu, dù phi pháp cũng được, để có tài sản để lại cho con thụ hưởng, ăn chơi.

Xứ Mỹ thì khác. Con cái ít khi muốn thừa hưởng tài sản cha mẹ để lại bởi chúng có tinh thần độc lập, tự lập. Cha mẹ cứ làm giàu thật nhiều, khi chết thì đem cho từ thiện. Trường hợp ông Clark cũng không lạ ở cái xứ Mỹ nầy. Ông Bill Gates hiện giờ là người đi theo con đường của ông Clark đấy.

Mặc dù định cư ở đây đã lâu, tôi thấy ít gắn bó với nó. Càng đi Cali nhiều lần, tôi càng thấy rõ điều đó.

Tại sao vậy?

Tại vì người Việt ở đây khác người Việt Cali? Dĩ nhiên. Không có người Việt ở nơi nào, trên đất Mỹ, giống người Việt ở nơi nào! Người Việt ở San José khác với người Việt ở Orange County, cả hai nơi nầy cũng khác với người Việt ở Houston, và lại khác với người Việt ở xứ tôi.

Xóm tôi ở “toàn là Mẽo”, như tôi thường nói đùa. Nhà bên phải là của một ông già gốc Nga, theo cha mẹ chạy sang đây từ cái gọi là “Cách mạng tháng Mười”. Bên trái là nhà một ông Ba-Lan, chạy qua Mỹ từ sau vụ nổi loạn ở cảng Poznan, và xa hơn nữa, bên phải cũng như bên trái đều “mắt xanh mũi lõ”. Người Mỹ lịch sự, nhưng “vô tình”, nói theo văn hóa người Việt!

Nhưng liệu người Việt ở với nhau có tình chăng?

Một người quen than với tôi: “Nó (Nó là anh hàng xóm, gốc ở hòn Tre, hòn Đầm, hòn Heo gì đó ở vịnh Rạch Giá) sau 5 ngày làm lụng vất vả, tới chiều thứ sáu, ra khỏi hãng là dong xe chạy tuốt xuống Connecticut (chỗ có sòng bài). Khuya thứ Bảy mới về. Sáng chủ nhựt, sáu bảy đứa họp nhau lại nhậu, hát karaoke um sùm, tới đêm mới chịu đi ngủ để sáng hôm sau bắt đầu lại “một tuần như mọi tuần. Ông (tức là hỏi tôi) có chịu nỗi không?”

Người Mỹ ở xóm tôi, phần đông gốc gác ở Ái Nhĩ Lan, Nga hay Ba Lan, v.v… Có người qua Mỹ đã mấy đời, có người mới qua một hai đời, nhưng không ai còn nói tiếng mẹ đẻ của họ, nhất là những người thế hệ thứ hai, chẳng biết mô tê gì về bản quán của họ cả. Như vậy là không nên. Biết thêm một sinh ngữ là thêm nhiều điều bổ ích. Đó là nói tới thực tế của cuộc sống. Còn như ai không nói được tiếng mẹ đẻ, là coi như đã mất hết một nửa mẹ của mình rồi đó.  Ít ai nghĩ như vậy phải không? Bởi vì người ta không nghĩ tới cái tình cảm thiêng liêng của người mẹ thương con hay chăng? Hay người ta mang cái mặc cảm dân Mít. Mới thế hệ thứ 1 rưởi, thứ 2 mà nhiều người không nói được tiếng Việt, vậy mà vẫn cứ nghĩ mai kia về lại Việt Nam làm ăn? Làm ăn cái gì nhỉ? Mấy người con ông bà Ngô Đình Nhu không nói tiếng Việt. Trong nhà vợ chồng, cha mẹ, con cái chỉ nói với nhau bằng tiếng Pháp. Vậy khi nhà Ngô còn thịnh thời, họ có nghĩ đến việc “cha truyền con nối” không nhỉ?

Không lý dân ta trao quyền lãnh đạo đất nước Việt Nam cho một người không rành tiếng Việt?

Cái cảm tưởng của tôi khi rời Little Saigon về lại đây, sao không thấy xúc động một chút nào cả. Khác với ngày trước, mỗi lần từ Saigon về Huế, chưa bước chân lên máy bay là “lòng đã thấy nôn nao khó ngủ”. Khi phi cơ hạ cánh xuống phi trường Phú Bài, lòng tôi sao rộn ràng thế?! Rõ ràng cái cảm tưởng của tôi là “trở về”, là “về Huế”, “về miền Trung”, là “về cố hương”. Trong trí tưởng của tôi, không hẳn chỉ có sông Hương hay sông Thạch Hãn, không hẳn chỉ có núi Ngự hay núi Mai Lĩnh, mà còn lũy tre làng trải dài, là bãi cát vàng nằm im bên kia sông.

Cái náo nức của người trở về, khi thấy lũy tre làng hiện ra phía xa xa, thường được mô tả trong văn chương, sao hiện ra rõ ràng trong lòng tôi lúc đó vậy?

Mai đây, khi tuyết xuống che trắng những đồi thông, che trắng những con đường ngang dọc, thì tôi lại ngồi bên lò sưởi để nhớ lại những hình ảnh, những bè bạn, những người thân quen ở Little Saigon hay ở một nơi chân trời góc bể nào đó, và niềm hoài vọng xa xôi lại hiện về trong tâm khảm, như những cuốn phim nối tiếp nhau, với những hình ảnh, những con người, những tiếng nói, tiếng cười tiếp nối nhau, chẳng bao giờ dứt.

Tôi không có nỗi buồn như A. F. trong Pensée d’ Automne rằng “tôi ngồi bên lò sưởi để sưởi cho khô những vệt bùn lành của con đường, giọng mưa buồn buồn đã giữ tư tưởng tôi trong một giấc mơ buồn và tôi suy nghĩ: “Thế nào cũng phải lên đường.”

Cái buồn khi mùa đông giá đang tới đâu có phải chỉ một mình A. F. mới có. Khi “mùa thu rung đôi cánh dưới bầu trời chập chùng”. Nhìn cảnh thu, ai cũng buồn cả. Trong sự đổi thay của cảnh vật, người ta có nỗi buồn riêng, và cũng có nỗi buồn chung. Vậy, ngoài nỗi buồn riêng, tôi cũng có một nỗi buồn chung với thiên hạ.

Khi mới định cư ở xứ người, ai cũng mang nỗi buồn tha hương như ai, nỗi buồn của những kẻ cô đơn nơi xứ người, không có ai tâm sự, không có ai, như bà Huyện Thanh Quan nói: “Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ, Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?!”  Cũng có kẻ ra đi một thân một mình, để lại vợ con hay người yêu “bên ấy” và cũng buồn, cũng lo như Hàn Hủ rằng: “Chương Đài liễu, Chương Đài liễu, Tích nhật thanh thanh kim tại thủ, Túng sử trường điều tự cửu thùy! Dã ưng phan chiết tha nhân thủ” hay đã bị Dziệt Cộng làm cho héo rủ ra rồi. (5).

Nỗi buồn riêng của tôi là nỗi buồn chung với bà con, anh em, bạn bè còn lại ở Little Saigon. Nơi đây là xứ người, mà “xứ người thì biết hát với ai? Hát với trăng ư? Trăng lặn rồi.” Và khi trở về đây, không như khi tôi ở Saigon trở về miền Trung, về với quê hương mà về nơi xứ người. Về “xứ người thì biết hát với ai?”

như Hương Lan hát vậy!

Anatole bảo “Thế nào cũng phải lên đường!” Có nghĩa là ông ta sẽ rời bỏ vùng quê để lên thủ đô Paris. Tôi thì làm ngược lại. “Khi mùa thu rung đôi cánh dưới bầu trời chập chùng” thì tôi lại bỏ thủ đô để về lại một vùng xa xôi, một vùng quê, không phải là quê hương bản quán của tôi.

Suy cho cùng thì dù ở Little Saigon hay nơi nào đó trên địa cầu nầy, kẻ đã “tha hương” là đã mất quê hương bản quán. Ước vọng trở về cố hương là ước vọng chung của nhiều người, điều người ta thấy rõ trong truyện Kiều “Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương.” Chính cái ước vọng đó đã khiến cô Kiều trở thành người phản bội Từ Hải, khi cô Kiều khuyên Từ Hải ra hàng.

Về ước vọng nầy, tôi cũng đã thưa cùng bạn bè khi tôi đến thăm Little Saigon, khi nói tới việc ông Kỳ về Việt Nam.

Tôi không rõ ông Kỳ là người như thế nào nên tôi không biết ông Kỳ yêu nước yêu nôi như thế nào! Yêu nước thì ai chẳng có. Thằng bé ăn xin người Ý trong “Grand Coeur” của De Amicis cũng rất yêu tổ quốc của nó nữa là, huống chi ông Kỳ, tổ quốc đó cho ông ta rất nhiều mà ông ta yêu nước được bao nhiêu? Cái ông Kỳ được lớn hơn cái đóng góp của ông quá nhiều. Và tôi cũng không nói chi tới tư cách của ông Kỳ vì tôi có hồ nghi cái “thế giới tỵ nạn” nầy, không ít người ưa cầm cọ sơn đen người khác để cho mình sáng lên, do cái “bệnh lãnh tụ” mà ra. Tôi không bênh ông Kỳ trong việc ông bỏ bà nầy, lấy bà kia, hay “chôm” tiền người nọ.

Nhưng cái “miệng mồm” của ông Kỳ khiến ông ta được khen cũng nhiều, mà chê cũng không ít. Oan nghiệt là do ở cái miệng hay nói trong khi óc não không chịu làm việc, như tục ngữ thường nói “Thần khẩu hại xác phàm”. Miệng ông Kỳ thì không có thần mà xác ông thì phàm tục lắm. Nói theo nhà Phật thì đó là “khẩu nghiệp”.

Sau khi hai anh em ông Diệm Nhu bị giết, đạo Phật lại mạnh lên. Và thế là người Mỹ sợ! Tài chánh của chính quyền miền Nam do Mỹ viện trợ, chấm dứt viện trợ thì chính quyền miền Nam

coi như “sập tiệm”. Mỹ nắm mấy ông tướng đương quyền là coi như nắm lấy quân đội. Còn nhân dân? Tín đồ Phật giáo là đa số, Bắc – Nam – Trung thống nhất một mối. Liệu người Mỹ có để yên, để “khó nắm” chính quyền miền Nam?

Chia rẽ là chính sách cai trị đã có từ muôn đời: Phe chùa Xá Lợi “vô can”, phe Việt Nam Quốc tự có chùa Vĩnh Nghiêm sợ Dziệt Cộng mà di cư, và phe Ấn Quang của người miền Nam. Hai phe Việt Nam Quốc tự và Ấn Quang chống nhau, thậm chí vác cả dao gậy đánh nhau trối chết! Phe Ấn Quang lui về Huế “cố thủ”, thậm chí có cả tướng lãnh, quân đội tham gia chống chính quyền trung ương. Ai dẹp được vụ nầy? Phải có một người “điếc không sợ súng”, hay nói theo tổng thống Thiệu, ông Kỳ, “con người của thời cuộc” đứng ra làm việc ấy.

Đối với giới trí thức Huế, nhất là với sinh viên học sinh, họ

không “mặn nồng” lắm với “Hội đồng Nhân dân Cứu quốc”, và họ cũng đã hoan hô tướng Kỳ khi ông ta nói chuyện với họ tại rạp Hưng Đạo: “Xưa Kinh Kha sang Tần không về. Ngay hôm nay, sau khi rời khỏi nơi nầy, Kinh Kha sẽ lái máy bay sang oanh tạc đất Tần và Kinh Kha sẽ trở về!”  (Hội trường vỗ tay hoan hô).

Nói cho thật lòng, không phải ông Kỳ không làm được việc: Nền “Kinh tế cao bồi” bắt thăm trúng tên Tạ Vinh đem xử bắn ở chợ Bến Thành làm cho giá gạo xuống ngay. Hữu sản hóa xe Taxi cho người lái Taxi, bán xe Lam cho người lái xe Lam, công chức quân nhân mua góp xe gắn máy, v.v…

Những người cộng tác trong chính phủ ông Kỳ phần đông tài giỏi: giáo sư Âu Trường Thanh, bác sĩ Trần Văn Đỗ, giáo sư Nguyễn Hữu Hanh, v.v… và khác với ông Thiệu, ông Kỳ rất chịu nghe lời các cố vấn.

Nhưng, như người ta có nói: “Cái đầu của ông Kỳ là ông Loan.” (6) nên khi ông Kỳ họp ở Hội Đồng Quân Lực, không có ông Loan ngồi bên cạnh, và khi thấy tướng Lãm gỡ “loon” bỏ xuống bàn, tuyên bố Quân đội chia rẽ thì tướng Kỳ hoảng vía. “Người điếc” bỗng nghe được “tiếng súng” của Hội Đồng Quân Lực nên chịu đứng chung liên danh 9 với tướng Thiệu. Vậy thì cho rằng ông Kỳ là người có bản lãnh, can đảm, cương quyết sao đươc? Ông Kỳ trượt chân xuống dốc từ đó cho đến ngày ông qua đời.

Thành ra những gì ông Kỳ nói sau đó, sau khi tướng Loan bị “bay” cái đầu gối trong tết Mậu Thân, phần nhiều là nói… bậy, ai nghe mà chịu được! Mối quan hệ giữa Kỳ và Loan cũng không thấy nối lại, sau khi cả hai người đều lưu vong. Cũng vì vậy, suốt  bao nhiêu năm ở Mỹ, ông Kỳ vẫn là người không có cái… đầu.

Cái tư cách của ông Kỳ khi ở Mỹ bị người ta phê phán nhiều. Tuy nhiên, tôi không căn cứ trên những phê phán đó để phê phán ông Kỳ. Dư luận mà, nhất là “dư luận ở hải ngoại” nầy biết đúng sai như thế nào mà tin được. Và chuyện ông Kỳ về Việt Nam để “kiếm ăn”, để làm cò mồi cho tư bản Mỹ, ai mà biết chắc, biết rõ được để lên án. Tư bản thì cái gì có lợi mà không làm, họ dùng

ông Kỳ làm tay sai cũng là việc bình thường.

Nhưng ông Kỳ nói ông vì đất nước mà về, người ta có tin được không? Ông ta khoe rằng ông đã “cứu” được Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Ai tin thì tin, nhưng thực tế, thì thân nhân người chết bây giờ có thể vào đó thắp nhang, sửa sang phần mộ cho tử sĩ được rồi đấy. Việc đó nhờ ai mà được? Có phải nhờ ông Kỳ không? Nếu ông Kỳ làm được việc ấy thật thì so với ông Mai Thanh Lương ở Cali, cho rằng việc dẹp bỏ nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa là đúng vì “nó chiếm đất nhiều quá”. Người ta nên lên án ai cho phải đạo đây?!

Việc ông Kỳ “có công” giữ lại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa là thực hay ông Kỳ khoe khoang ẩu tả, nhận vơ, ít nghe ai nói tới. Nếu quả thật ông Kỳ có cái công đó thì cũng nên ca ngợi ông một chút chớ, sao lại bỏ qua. Sau khi bức tượng đồng “Tiếc thương” của họa sĩ Nguyễn Thanh Thu trước cổng chính nghĩa trang bị Dziệt Cộng hạ xuống, phá bỏ thì nhiều người lên tiếng, phê phán Dziệt Cộng. Vậy thì việc cứu cái nghĩa trang nằm phía sau bức tượng ấy mà không ca ngợi thì có bất công hay không? Ông Kỳ là kẻ xuống dốc, sa cơ thất thế, tuyên bố bậy bạ, bị người ta ghét nên người ta cho ông Kỳ tuột dốc luôn.

Còn như nhận xét của ông Mai Thanh Lương, cũng không nghe thấy ai phê phán gì cả là tại sao? Người ta “sợ” không dám đụng đến một vị có chức trọng, quyền cao nên dù ông ta có nói bậy thì cũng nhắm mắt mà cho “qua cầu”.

Hay người ta sợ cái gì nữa? Có phải sợ một đám cầm bút nào đó, đứng sau lưng ông Mai. Đám cầm bút ấy mà đâm cho thì bút ấy không những là bút thép mà thôi, mà là đạn đấy, kể cả đạn đại bác, nếu cần. Ở cái xứ Mỹ nầy, tự do dân chủ, nhưng dùng ngòi bút để không chế, tước đoạt cái tự do ngôn luận của người khác thì không phải là điều lạ lùng gì. Erathosthène còn bị cắt lưỡi, Galileo ngồi tù vì thuyết địa tâm (địa cầu tròn) đấy. Thời đại bây giờ có khác chi thời trung cổ bên châu Âu.

Ông “Cung củ đậu” kể rằng lần đầu tiên ông Kỳ về Việt Nam, trong khi ông Kỳ đứng nói chuyện với người đưa tiễn thì có một anh chàng Mẽo đến hỏi ông Kỳ hành lý ở đâu để người nầy đem gởi ở quầy?

Ý ông “Cung củ đậu” muốn nói ông Kỳ về VN là do Mỹ sai đi hay sao? Mỹ nào sai? Mỹ CIA hay Mỹ Tư bản? Mỹ nào cũng vậy thôi, ông Kỳ cũng chỉ là tay sai!

Trên bình diện nào đó, người ta vẫn phải suy nghĩ về việc ông Kỳ về Việt Nam, nếu người ta không hoàn toàn định kiến, ông Kỳ chỉ là người làm “cò mồi” cho mấy tay tư bản bỏ tiền ra kinh doanh tại VN. Không lý ông Kỳ tệ đến như thế sao?

Có khi người ta cũng đặt câu hỏi về ông Nguyễn Xuân Oánh, ông Nguyễn Văn Hảo ở lại VN sau 30 tháng tư. Sau 10 năm ngất ngư sắp chết, Dziệt Cộng vội vàng “đổi mới.” Anh Nguyễn Xuân Quỳnh, sui gia với anh chị tôi, qua mối quan hệ đó, gọi “Cậu Hải tới chơi” và hỏi tôi có biết gì về “Chương trình Stanley – Thúc”. Vì lý do cá nhân, tôi từng gặp giáo sư Vũ Quốc Thúc, và tôi có biết chút chút về “Chương trình phát triển kinh tế hậu chiến”! Và cũng vì tò mò, tôi có đọc một số tài liệu về chương trình ấy, như việc phát triển “khu tam giác kinh tế, thương mại, giao thông Vũng Tầu – Biên Hòa – Saigon”, chương trình xây dựng đường xe lửa Dăk-Nông – Vũng Tầu (để chở quặng Bô-Xít – Mõ nhôm nầy phát hiện từ thời Tây) hay phát triển ga xe lửa Saigon thành 5 tầng lầu, từ Bình Lợi vào Saigon, tới tận kho Tân Thuận, xe lửa chạy theo hai đường vào ra ở trên tầng cao, v.v…

Anh Quỳnh biểu tôi viết lại những cái ấy, nhớ chừng nào viết chừng đó vì ông ấy cần, vì “có sự hợp tác với ngoại quốc”. Tôi cũng được anh Quỳnh cho biết thêm: “Ông Oánh đã tập họp được một số giáo sư và sinh viên Luật của Saigon cũ” để làm chi? Để vẽ đường cho hươu chạy? Để chửa cháy cho Dziệt Cộng? Để đi cho đúng “con đường do Đế quốc Mỹ vạch ra.” Anh Quỳnh xuất thân từ Haute Commerce bên Tây về, từng làm cố vấn cho tổng thống, từng làm Tổng Giám đốc Viễn Đông ngân hàng. Họ đang làm gì đây, làm như các sinh viên cũ của họ, giúp Bà Ba Thi, cứu dân Saigon khỏi nạn đói năm 1985, sau “Mười năm giải phóng”, Sai-

-gon đang đứng trước nguy cơ “Saigon đói to” như người ta từng dự kiến?

Thành ra chuyện ông Kỳ về VN đúng hay sai? Nên hay không nên?

Thật ra, trước ông Kỳ, cũng đã có “nhiều ông chế độ cũ” đã về rồi. Ông Phó Bá Long, ông Nguyễn Hữu Hanh. Có người bị phê phán “theo đuôi Dziệt Cộng”, có ông không! Tại vì sao?

Ông Nguyễn Hữu Hanh về Việt Nam nhiều lần mà có ai phê phán gì đâu? (7). Ấy là tại sao? Tại vì ông Hanh thì mang theo cái đầu, còn ông Kỳ thì mang theo cái miệng. Cái miệng buộc cái thân, tạo ra cái “khẩu nghiệp!”

Người xưa nói “Cái quan định luận”. Đóng nắp quan tài lại thì mới phê phán người ta. Quan tài ông Kỳ đóng lại rồi nhưng chưa định luận được. Nói theo nhà Phật thì cái khẩu nghiệp của ông chưa dứt! Nói theo thời thượng chính trị thì ông Kỳ còn mang một vài “ẩn số” chính trị nào đó, cái đó chưa rõ thì luận định thế nào được chứ?!

Điều đang buồn chính là ông Kỳ tự xưng ông là “con Phật”, nôm na là “con cầu tự”. Mẹ ông đi “cầu” ở các chùa mà sinh ra ông. Không rõ ông ta có làm gì cho mẹ ông vui lòng? Tuy nhiên, cửa chùa (không phải là cửa Phật) đã không rộng mở cho ông, nên con cái ông Kỳ phải đưa (bài vị) ông ra… vườn hoa. Ông Kỳ đâu còn nhỏ dại gì nữa mà hát bài “Ra vườn hoa em (ba) chơi…” Chẳng qua, cũng vì sợ cái thùng phước sương bị lưng đi mà ông Kỳ không được vào chùa. (8)

Việc ông Kỳ về VN rồi tuyên bố vung vít làm cho không ít người phải suy nghĩ và cũng có người đau lòng nữa đấy. Một miền Nam chiến đấu kiên cường hai mươi năm để “Bảo vệ Tự do”, mà lại có một nhà lãnh đạo tư cách và trình độ như thế, có phải đó là điều đau lòng chăng? Những người đã chiến đấu và hy sinh một cách can trường và anh dũng, và cả những người đã nằm xuống, liệu họ và chúng ta nữa, có đau lòng chăng khi chúng ta có một nhà lãnh đạo tuyên bố và hành động như thế?

Nhưng mà về? Có nên về không? Về để làm gì?

Khi “giết” Việt Nam Cộng Hòa, Cộng Sản Bắc Việt cấu kết, gây sức ép với Mỹ để “giết” VNCH như thế nào có lợi nhứt cho chúng! Cái lợi đó là gì? Bớt hao tốn xương máu vì nếu quân đội VNCH chống tới cùng thì sao? Làm sao Saigon còn nguyên vẹn với tất cả công nghiệp, thương nghiệp, giao thông không bị phá hủy, (không như quân Tầu Cộng đánh dọc 6 tỉnh biên giới thì tất cả thành bình địa), v.v… Mỹ đã “ép” miền Nam làm sao để thỏa mãn đòi hỏi của Bắc Việt: Ông Khiêm thôi làm thủ tướng, ông Thiệu từ chức, ông Hương cũng phải từ chức, để “cái chức tổng thống đâu có phải là cái khăn “mùi-soa” trong túi mà muốn đưa cho ai thì đưa?” (Lời cụ Trần Văn Hương). Cuối cùng cái “mùi-soa” ấy phải trao cho ông Minh để ông Minh đem “lau mũi” cho Việt Cộng. Nhìn chung, VNCH đã đi vào một cái chết đúng như ý Bắc Việt muốn. Mỹ đẩy tướng Minh đứng ra nhận cái đầu hàng nhục nhã, làm một việc như thống chế Pétain làm để cứu Paris. Thế cũng “tội nghiệp” cho tướng Minh đấy chứ!?

Vậy thì bây giờ Việt Cộng sắp chết chưa? Có nên để nó tự chết một mình, không ai sắp đặt, can dự tới, để nó trở thành một cái xác thối và làm ung nhọt khắp nước VN, từ Bắc chí Nam hay sao? Điều mà Mác nói về cái xác thối của chủ nghĩa tư bản thì nay nó lại đang xẩy ra cho Cộng Sản đấy thôi! Người ta phải sửa soạn cho nó một cái chết như thế nào đó để nó bớt thối, bớt ghê tởm, bớt kinh hoàng, bớt ung thối cho xã hội VN?

Vậy thì phải có người về chứ? Về ồn ào như ông Nguyễn Cao Kỳ hay lặng lẽ như ông Nguyễn Hữu Hanh? Về bằng cách nào có lợi cho đất nước nhứt, cho dân tộc nhứt?

Nói như thế thì phải có người về, nên về, chuẩn bị một cái chết cho Việt Cộng và xây dựng một sức sống mới cho dân tộc. Điều đó, người ta có muốn tránh cũng không tránh được, có muốn trốn cũng không trốn được. Đó là trách nhiệm vậy.

Tôi nói “đùa” với một người bạn thân, là cháu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu: “Giả tỉ như ông Thiệu còn sống, ông cũng

phải nghĩ đến cái chết sắp tới của Việt Cộng. Ông muốn sắp đặt một cái chết cho tụi nó làm sao ít tệ hại nhứt. Và ông Thiệu nói với anh, rằng ổng chưa về được. Anh hãy về trước đi mà lo công việc. Anh từ chối được không? Không! Vậy là anh phải về. Thiên hạ sẽ chưởi um lên rằng anh là tên phản bội, tên thiên Cộng, tên “tù cải tạo” quên mình từng là tù. Anh sẽ nói gì, hay không nói được gì, đành ngậm miệng mà về. Phải không?”

Người bạn tôi chỉ cười.

Ngay từ lúc nầy, ai có tấm lòng với đất nước, với đồng bào, không vì danh vọng, lợi ích cá nhân, cũng về thôi. Đứng ngoài nầy mà la lối, ích lợi sẽ không được bao nhiêu?!

Nhưng về Việt Nam là về với ai?

Dĩ nhiên là về với Việt Cộng.

Về với Việt Cộng sẽ không làm được cái gì đâu. “Tụi nó” ngoan cố lắm. Quyền lợi mà! Ba mươi năm chiến tranh, Việt Cộng tốn hao biết bao nhiêu xương máu mới giành được chính quyền, cai trị từ bắc chí nam, là nắm lấy cái quyền cai trị đất nước, là làm vua, làm quan, là bước lên hàng giai cấp thống trị, là nắm lấy “tiền rừng bạc biển”. Liệu “tụi nó” có chịu buông hay không?

Về với Việt Cộng không hẳn là nói chuyện, “làm việc” với bọn chóp bu ở Hà Nội: “Nay các anh ngất ngư rồi, hấp hối rồi, các anh phải chọn cái chết như thế nầy, chết như thế kia.” Không có con đường nào sống, không còn cách chi cứu đảng, chỉ có chết mà thôi. Phải chết như vầy, chết như kia. “Tụi nó” có tin không, có nghe không? “Chúng nó” vẫn tin rằng chúng nó sẽ sống mãi, chưa chết, sẽ không chết, bởi vì “chúng nó” tin “chúng nó” còn Tầu Cộng, còn Mỹ, còn “thế giới tư bản”. “Chúng” sẽ đánh xiệc, đu giây để tồn tại, tự tin ở khả năng, tài ba của “tụi nó”. Tầu Cộng không muốn “tụi nó” chết, để “tụi nó” sống mà làm tay sai cho Tầu Cộng. Mỹ không muốn “tụi nó” chết, để làm cục đá cản đường Tầu bành trướng về phương nam, v.v…

Nhưng trào lưu thế giới hiện nay là Tự do, Dân chủ…

Dân chúng Bắc phi, dân chúng Trung Đông đã đứng lên rồi. Các chế độ độc tài bên đó lần lượt sụp đổ như đê vỡ. Ngọn gió cách mạng thế giới đang thổi tới Việt Nam. Nhân dân Việt Nam sẽ đứng lên.

Việt cộng biết việc đó, và “tụi nó” đã chuẩn bị từ… nửa thế kỷ trước.

Năm 1946, “toàn dân kháng chiến chống Pháp giành độc lập”. Cộng Sản tạm dùng các phần tử tiểu tư sản, tư sản để làm cán bộ trung cấp, cao cấp cho cuộc kháng chiến. Sau bốn năm năm đánh nhau với Pháp, Việt Cộng đã đào tạo được nhiều cán bộ từ giai cấp vô sản. Khi đã có được cán bộ từ “thành phần cốt cán”, Việt Cộng dần dần loại trừ những cán bộ không thuộc giai cấp vô sản, cho biên chế, đuổi về, bỏ tù, thủ tiêu…

Quan trọng nhứt là thành phần vô sản theo đảng, “theo cách mạng” bao nhiêu năm, hy sinh bao nhiêu xương máu, để được cái gì? Dễ lắm, chia cho chúng tài sản của người giàu: “Cải cách Ruộng đất”, tiêu diệt giai cấp địa chủ. Thực chất của “Cải cách Ruộng đất” là cướp của. Lấy của nhà giàu đem cho người nghèo theo đảng. Bọn Chí Phèo, thị Nở, bọn Bối – Đình – Cự và chuỗi của của chúng (9 –Ba Người Khác), chia nhau từng cái áo, cái quần, cái chén, cái bát, cái giường, chiếc chiếu, con trâu, con gà, ruộng đất của địa chủ…

Sau hiệp định 1954, dân Hà Nội, dân Nam Định, Hải Phòng, v.v… bỏ đi Nam đông lắm. Vậy là bọn vô sản theo đảng, phần đông (không phải là dân Hà Nội hay các thành phố lớn ngoài Bắc), – kéo nhau vô Hà Nội và các thành phố lớn mà ở.

Làm gì còn “người Hà Nội của đất nghìn năm văn vật”, làm gì còn “người Hà Nội thanh lịch”. Người ta đi Nam hết rồi. Nhà của họ để lại, bọn vô sản theo đảng vô đó mà ở. Thiếu nhà? Dễ thôi: Đánh tư sản, đuổi đi kinh tế mới, đày dân tư sản không “đi Nam” lên vùng mạn ngược để biết thế nào “Lao động là vinh quang”..

Bọn vô sản nầy số lượng là bao nhiêu?

“Cải cách Ruộng đất” đã “giải phóng” 2 triệu hộ gia đình.

Đó là theo thống kê của Việt Cộng. Hai triệu hộ tính ra là bao nhiêu người (nhân khẩu)? Nếu tính mỗi hộ có 4 người (hai vợ chồng, hai đứa con) thì tất cả là hơn tám triệu người. Tám triệu người trên tổng số dân chúng bắc vĩ tuyến 17 là gần 20 triệu người.

Chính bọn nầy đã đóng góp người và của để “chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam”. Vậy thì sau khi chiếm miền Nam xong, số người nầy phải được thưởng công chứ! Tức là chúng được “chi viện cho miền Nam” (trên danh nghĩa) nhưng thực tế là chiếm đoạt, hưởng thụ tài sản của dân chúng miền Nam như chiếm nhà, chiếm xe, máy móc, hãng xưởng, đất ruộng… bằng ngụy danh tịch thu “tài sản Mỹ Ngụy”, bằng “đánh tư sản”, “tịch thu tài sản nhà cửa của bọn phản động trốn ra nước ngoài” (như vượt biên…), cho vô trại cải tạo, v.v…

Khoảng cuối năm 1980, nữ nghệ sĩ Thúy Quỳnh gặp ông Đặng Ngọc C., một bác sĩ “ngụy” còn ở lại làm việc tại bệnh viện Chợ Rẫy, nói: “Sau năm 1954, dân Hà Nội đi Nam hết. Rồi đây, Saigon của anh cũng sẽ giống như Hà Nội, dân Saigon đi hết”.

 

Sau 1975, có bao nhiêu dân Bắc kỳ 75 “chi viện” cho miền Nam. Có người bảo ít nhứt là 5 triệu, có người bảo đông lắm, tới 10 triệu! Bây giờ họ chiếm hết quận 1, quận 2 (cũ) Saigon. Khó tìm thấy “dân Saigon cũ” ở hai quận đó. Dân “Bắc kỳ 75” ở trong những ngôi nhà tịch thu của “Mỹ ngụy”, của dân di tản, dân vượt biên. Đuổi đi “kinh tế mới” chính là một phương cách cướp nhà của dân Saigon cũ. Thành phố Saigon thì còn đó, nhưng dân Saigon thì không còn, giống như Hà Nội sau 1954 vậy.

Vậy thì bây giờ ở Saigon, Hà Nội, ai sẽ đi biểu tình chống Tầu Cộng, chống tham nhũng. Người dân Saigon cũ, muốn cầm biểu ngữ đi biểu tình, chưa ra tới đầu hẽm thì đã bị dân Bắc kỳ 75 đè cổ cướp mất biểu ngữ rồi.

Vì vây, việc biểu tình chống chính phủ, chống Tầu Cộng phải phát xuất ngay từ trong nội bộ của giai cấp thống trị mới, phải từ mâu thuẫn nội bộ của chúng. Đó là mâu thuẫn quyền lợi, ăn nhiều, ăn ít, tham nhũng nhiều, tham nhũng ít, mâu thuẫn quyền lực, tranh nhau chức to, chức nhỏ và một số người còn “nhứt điểm lương tâm”.. .

Còn mâu thuẫn lý tưởng? Mâu thuẫn giữa độc tài và tự do, giữa chủ nghĩa cộng sản và “chủ nghĩa tự do”, giữa “thế giới cộng sản” và “lý tưởng quốc gia”! Được bao nhiêu người có lý tưởng như vậy để có thể thành một phong trào, điều đó để độc giả suy đoán lấy.

Mâu thuẫn căn bản bao giờ cũng là kinh tế: giàu nghèo, sang trọng no nê, phè phỡn và nghèo hèn, đói rách. Cộng Sản biết lợi dụng cái mâu thuẫn căn bản đó để cướp chính quyền. Rồi ra, cũng chính vì điều mâu thuẫn căn bản đó mà Cộng Sản sẽ bị đánh đổ. Lịch sử cho chúng ta thấy đó là một định luật không sai bao giờ! Biết nắm lấy nó để đánh đổ Cộng Sản là cách nhìn, cách làm của các nhà “Cách Mạng tương lai” của đất nước chúng ta.

Thật ra, không phải ai ai cũng về, nhặng xị lên mà có ích chi?! Chúng ta, sau bao nhiêu năm chiến đấu (thật sự), nay việc ấy đã qua rồi. Bây giờ là lúc chăm sóc con cái học hành đổ đạt, kỹ sư bác sĩ, chuyên viên, v.v… và dạy cho chúng có tinh thần, có trách nhiệm đối với tổ quốc, dân tộc, chớ không phải “chỉ mong cho được một đời an nhàn vô sự, sống lâu giàu bền, còn việc nước việc đời không can hệ gì tới mình cả. Như thế gọi là sống thừa.” (Mạo hiểm, Nguyễn Bá Học).

Chúng ta không thiếu người “sống thừa”, ích kỷ. Sau bao nhiêu gian khổ, – khi chiến đấu chống Cộng, sau bao nhiêu năm tù đầy, sau bao nhiêu năm làm công dân hạng hai, và sau bao nhiêu năm làm lụng vất vả nuôi con ăn học, nay con chúng ta thành tài. Chúng ta mong gì cho chúng: giàu có và an nhàn. Chúng ta không muốn con cái chúng ta gian khổ như chúng ta đã từng trải qua. “Người sống có lý tưởng là người thiệt thòi (quyền lợi) nhứt”. Và chúng ta muốn con cái chúng ta cứ ở lại sinh sống ở Mỹ mà hưởng một đời sống giàu sang, đầy đủ tiện nghi…

Nhưng có thể đó là điều con cái chúng ta không muốn. Chúng nó muốn làm “một cái gì cho quê hương”.  Cao quí chính là

ở đó.

Và thế rồi con cháu chúng ta sẽ về.

Đất nước rồi ra sẽ nghèo lắm, có bao nhiêu tài nguyên bán sạch rồi! Chất xám của con cái chúng ta sẽ là tài sản của đất nước, của dân tộc. Đó là tài sản duy nhất mà dân tộc, đất nước còn có được, sẽ làm cho đất nước mau giàu mạnh.

&

Nhưng việc tôi đi Cali lần nầy không phải để “bàn tán” những chuyện “xa xôi” như thế.

Lịch sử rất vô tư, và những con người như thế, lãnh tụ như thế, lịch sử sẽ phán xét họ. Đó không phải là việc của tôi. Việc của tôi là việc đi thăm đồng hương, nó “tình nghĩa” hơn, thiết thực hơn.

Cỡ gần một chục năm nay, sau khi nghĩ hưu, tôi có thì giờ nhiều hơn và đi thăm đồng bào “Quảng Trị tui” cũng nhiều hơn. Càng không thể về Việt Nam được, càng không về cố hương, chúng tôi (tôi và nhà tôi) càng đi thăm đồng hương hiện đang định cư ở hải ngoại nhiều hơn, bởi vì “đi thăm đồng hương Quảng Trị cũng có nghĩa là về thăm Quảng Trị”.

Ông Trần Đạo Đông tổ chức “đồng hương Quảng Trị họp mặt” ở Phila, thế là chúng tôi đi, rủ bạn bè cùng đi. Ông Nguyễn Hứa Thảo, ông Ngô Ngọc Hồng tổ chức “họp mặt Liên trường Quảng Trị” ở Houston, chúng tôi cũng không thiếu mặt. Đi Houston như thế là 3 lần. Còn Cali thì không còn nhớ tới mấy lần, bạn bè xa cách từ bốn, năm chục năm, bây giờ thì “nhẵn mặt”.

Không cần gởi thư mời hay thông báo, “tụi nó” – tụi nó là ban tổ chức, là mấy “đứa bạn thân thiết”, cũng biết chắc chúng tôi sẽ về.

Lần nầy thì “Họp mặt Nguyễn Hoàng” trong nước và “thế giới”. Thế giới có nghĩa là họ từ Paris, từ Melbourn, từ Canada, từ các nơi trên thế giới về. Điều đó là sự thật chớ không phải dùng chữ cho “nổ” đâu! Nhưng một vài bạn bè của tôi lại không chịu mấy chữ “Họp mặt Nguyễn Hoàng.” “Tui học ở đó, khi trường nầy chưa có tên Nguyễn Hoàng” cho nên “tui không muốn đi”. Sá chi ba cái lặt vặt đó. Tui cũng thuộc loại học trò “Nguyễn Hoàng chưa sinh”, và vợ tui thì không là Nguyễn Hoàng bao giờ. Nhưng đi thì cũng cứ đi, vì “Đi Cali tức là về thăm Quảng Trị”, bởi vì Cali có “rất nhiều Quảng Trị”, từ các ông bà “cụ lão”, rồi tới “ông bà lão”, tới “người già”, “người lớn tuổi”, “người trẻ”, và “con nít” cũng không thiếu chi.

Về Cali để nghe người ta hát, người ta đọc thơ. Văn nhân thi sĩ, nhạc sĩ không thiếu chi vì Quảng Trị không thiếu chi người tài hoa, và cũng không ít người không phải Quảng Trị mà cũng mượn cái diễn đàn đó để khoe tài của mình. Với chúng tôi thì không hẳn vì thế, mà chỉ để thăm bạn bè, như vợ tôi nói: “Con nớ rứa mà đã bảy mươi rồi đó.” Con nớ tức là bạn của cô ấy khi tôi chưa gặp cô ấy, hay mấy “thằng bạn” của tôi, bạn từ thuở tuổi ấu thơ, gọi nó bằng “thằng”, bằng “mi tau” thì thấy dễ quá, “ngọt” quá, mà gọi “anh, tôi” thì thấy miệng ngượng ngùng.

Tôi vốn dĩ là một “thằng học trò” ham chơi hơn ham học, bị lũ bạn ngày ấy đã mắng là “thằng lãng tử”, từ đấu phố tới cuối chợ; từ làng Phước Môn, Như Lệ, ga xe lửa cho tới chợ Sãi, cửa Việt, cửa Tùng, cầu Hiền Lương; từ làng Trí Bưu tới Trấm, làng An Đôn, Nhan Biều, Ái Tử; từ Mỹ Chánh tới Cùa, Cam Lộ, Đông Hà, không nơi nào là tôi không đến, không có bạn chơi. Thì bây giờ “tụi nó” là một đám đông đúc ở Cali đấy, hoặc “chúng nó” nhân dịp nầy cũng về. Có dịp không đi sao được! Cần chi có Nguyễn Hoàng với không Nguyễn Hoàng.

Tôi nói đùa với lũ bạn ấy:

Khi tao tới, Nguyễn Hoàng chưa sinh

Khi tao đi, Nguyễn Hoàng chưa sinh.

Khi tao về, Nguyễn Hoàng cũng chưa sinh

Vậy tao là “đàn anh Nguyễn Hoàng”

Nguyễn Hoàng là “hậu sinh…”

Dù “…khả úy” hay “khả uế”,

Gặp Nguyễn Hoàng là tao vui…

Nói tới Nguyễn Hoàng là phải nói tới công lao các vị lập ra ngôi trường ấy, từ thuở ban đầu.

Sau cái gọi là “toàn dân kháng chiến”, bội đội Việt Minh rút ra khỏi các thành phố, để cho Tây chiếm đóng một cách dễ dàng. Trước các hành động hung hãn và tàn ác của Tây, giết người, đốt nhà, cướp của, v.v… cụ Trần Văn Lý, quê ở làng Hưng Nhơn, Hải Lăng, Quảng Trị, đứng ra lập “Hội đồng Chấp chánh Lâm thời” để giúp ổn định tình thế, ngăn chận bớt sự tàn ác của lính Tây. Các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Huế-Thừa Thiên, Quảng Nam, Hội An lập chính quyền dân sự Việt Nam. Cụ Đốc Hoài, trước 1945, có thời làm “quan đốc học” tỉnh Quảng Trị, ra làm tỉnh trưởng. Không thể để cho “bọn trẻ” gián đoạn sự học, việc học hành được các cụ quan tâm và cho các trường tiểu học tái hoạt động. Cụ Tôn Thất Dương Thanh, nắm lại nhiệm vụ “quan đốc học”, bây giờ gọi là trưởng ty Tiểu Học Vụ. Cụ Cao Huy Hy trước là “ông đốc” trường tiểu học, nay là ông Hiệu Trưởng.

Các năm 1948, 49, 50, học trò học xong cấp tiểu học, cũng thi bằng tốt nghiệp. Tốt nghiệp rồi thì học thêm ở đâu? Chỉ một số ít học sinh con nhà giàu có thì vô Huế học tiếp, còn số đông không có điều kiện tài chánh đi “du học”, đành thất học. Đó là cái lý do để trường trung học Quảng Trị hình thành. Năm học đầu tiên (1951-52), trường có tên là Trường Trung học Tư Thục Quảng trị, có thâu học phí. Trường ốc, bàn ghế do ty Tiểu Học Vụ cung cấp, “tiền thầy” thì trường “tự túc”. Ông Hồ Văn Hải, thường gọi là ông Tham Hải, nguyên cán sự công chánh, làm hiệu trưởng. Ông Hồ

Duy Tình, nguyên là một thầy giáo làng ở Hội Yên, Hải Lăng, làm thủ quỹ. Số đông các vị thân hào nhân sĩ trong tỉnh, đa số là các thầy giáo, không đồng ý việc học sinh phải đóng học phí. Các cụ muốn công lập hóa ngôi trường, không để cho hai ông họ Hồ nói trên, dùng trường sở nhà nước để lập trường tư, để kinh doanh.

Cụ Phan Quang Đãi là người tích cực nhứt trong việc công lập hóa ngôi trường nầy. Thay mặt cho “thân hào nhân sĩ”, cho “đồng bào Quảng Trị”, cụ Đãi vào Huế tích cực vận động với Thủ Hiến Trung Phần, bấy giờ là cụ Trần văn Lý, với Giám Đốc Nha Học Chánh, bấy giờ là cụ Ưng Quả, nên niên khóa tiếp đó (1952-53), trường không còn hai chữ tư thục, chỉ còn là “Trường Trung học Quảng Tri”.

Có điều tôi vẫn suy nghĩ và thấy buồn cười: Hai ông họ Hồ nói trên là con chiên Nhà Thờ Thạch Hãn, còn cụ Đãi và những người cùng cụ xin công lập hóa ngôi trường là các cụ thường đi Chùa Tỉnh Hội.

Tôi bỏ trường mà đi sau năm thứ hai. Mãi đến khi tôi đã vào trường Khải Định, ngôi trường cũ của tôi mới có cái tên mới là trường Nguyễn Hoàng. “Nguyễn Hoàng là hậu sinh”, câu nói đùa của tôi có ý nghĩa như thế.

Từ niên khóa đầu, và mãi về sau rất lâu, khoảng 10 năm, trường vẫn thiếu giáo sư. Số giáo sư có bằng tú tài 2, đủ tiêu chuẩn để làm “giáo sư trung học đệ nhất cấp” rất ít.

Một số vị thi hỏng tú tài 1 hay vài vị tốt nghiệp “Quốc gia Sư phạm” (hết trung học đệ nhất cấp, học sư phạm 3 năm ở Saigon, ngạch giáo viên tiểu học) được bổ dụng dạy đệ thất, đệ lục. Một số các vị có tú tài 1, được bổ dụng dạy đệ thất, đệ lục, đệ ngũ. Chỉ có các vị có tú tài 2 mới dạy tới lớp đệ tứ. Phải hơn 10 năm, sau khi viện đại học Huế đào tạo được một số Đại Học Sư Phạm “Ban cấp tốc” (1 năm sư phạm), “Ban thường xuyên” (3 năm sư phạm), đội ngũ giáo sư trường Nguyễn Hoàng mới hoàn chỉnh. Và cũng không ít là những giáo sư giỏi. Gặp môi trường “thầy hay bạn giỏi” trường Nguyễn Hoàng đã đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước.

Năm học đầu (1951-52), trường chỉ có 2 lớp Đệ Thất (A và

B), khoảng 50 học sinh mỗi lớp, một lớp Đệ Lục, sĩ số ít hơn. Tổng cộng chưa tới 150 “em” học sinh. “Em” nào có bằng tiểu học, vào đệ thất khỏi thi. Vào lớp đệ lục, các “em” phải có chứng chỉ đệ thất (do học ở Huế năm trước). Các “em” không có chứng chỉ đệ thất, phần đông học “lớp tiếp liên” của chị Cần ở trường Tê-rê-xa phải thi vô. (Chị Cần là hiệu trưởng trường tiểu học Tê-rê-xa của “nhà thờ Thạch Hãn”). Vài “em” nào đó học đệ thất ở vùng Việt Minh, nay về vùng Quốc gia học tiếp đệ lục, cũng phải thi vô đệ lục. Đó là trường hợp các “em” Lê Hữu Thăng, (quê Triệu phong), “em” Võ Thành Minh, Trần Lữ Diện (quê Cam lộ)…

Ngôi trường cũ là gian nhà tranh ở sân cỏ phía trước đình làng Thạch Hãn, đối diện bên kia đường “Vườn bông” (sau nầy là đường Nguyễn Hoàng). Thời Ngô Đình Diệm, trường được xây mới, nhà lầu, ở khu đất sân vận động cũ. Học sinh bây giờ có hàng ngàn, thi vô khó đậu vì số thí sinh đông lắm.

Các “em” học năm đầu tiên đó, phần đông là dân thị xã Quảng Trị, một số ít thuộc các làng chung quanh như Long Hưng (Văn Tần), An Thái (Hồ Tú), học sinh quê làng Thạch Hãn đông hơn, và một ít làng Trí Bưu như Lê Đình Cương, Lê Đình Học. Một ít từ Diên Sanh ra như Trịnh Ngọc Phòng, Trương Thúc Cổn, một ít từ Đông Hà vô như Trần (?) Bích, Mai Chiếm Thanh, từ Lai Phước như Lê Văn Bằng, từ Cam Lộ như Trần Lữ Diện, Võ Thành Minh, từ Triệu Phong (làng Nại Cửu, Cổ Thành, v.v…) như Võ Cửu, Cao Tiến Tăng, Dương Đình Trọng, Nguyễn Văn Tưởng (Nguyễn Lý Tưởng?)

Nhiều “vị” là bạn cũ của tôi từ năm đệ thất, sau nầy “làm lớn” (ngoại trừ tôi là làm nhỏ). Về hành chánh, có người làm phó quận trưởng, quận trưởng, nhiều ông là sĩ quan cấp tá trong quận đội, không ít ông đậu cử nhơn, kỹ sư, tốt nghiệp đại học sư phạm, và bác sĩ nổi tiếng giỏi, như Văn Tần.

Từ 150 “em” hồi niên khóa đầu mà được như thế. Còn các “em” về sau thì nhiều người thành công lắm, giỏi lắm, kể không hết. (Xin xem bài “Liên trường Quảng Trị”, cùng tác giả).

Tôi yêu Quảng Trị của tôi là vì tôi sinh ra và lớn lên ở nơi ấy, dù ở đó cảnh sắc có đẹp hay không. Dù không đẹp, nhưng vì nó là nơi tôi chôn nhau cắt rốn, nơi tôi lớn lên cùng với gia đình, cha mẹ, anh chị, bà con xóm làng, học hành vui chơi cùng bạn bè, thì không đẹp, quê hương tôi vẫn cứ đẹp vô ngần. Tôi yêu quê hương tôi là tôi yêu người dân ở nơi ấy, không cần biết ai giàu ai nghèo, ai bần cùng, ai sang trọng.

Người dân quê tôi càng nghèo, tôi càng thấy yêu họ hơn, mà Quảng Trị tôi thì nghèo nhất trong các tỉnh nghèo của miền Trung. Miền Trung nghèo vì miền Trung chỉ là cái đòn gánh, oằn lên vai chị, vai mẹ. Hai đầu mới giàu, hai đầu là hai thúng gạo: “Gạo Nam, gạo Bắc, ấy đòn miền Trung”. Phạm Duy viết thế.

Miền Trung nghèo vì “đất cày lên sỏi đá”. “Quê hương anh, nước mặn đồng chua, quê hương tôi đất cày lên sỏi đá”. Đất ấy chỉ có thể trồng khoai sắn. Dọc miền Trung, tỉnh nào cũng nhiều khoai sắn, ăn khoai sắn thay cơm. “Bên nồi khoai mới luộc, ngát thơm vườn ngâu thưa…” Phan Lạc Tuyên viết như thế khi theo Quân Đội Quốc Gia “tiếp thu” Bình Định năm 1954. Phạm Đình Chương cũng viết giống như thế về Thừa Thiên: “Quê hương tôi nghèo lắm ai ơi! Mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu cơm”.

Quảng Trị có khá hơn không? Về Quảng Trị, Phạm Duy cũng đã viết: “Đàn trẻ vui vì nồi cơm ngô đầy”. Cơm độn với ngô (bắp). Vậy mà bọn trẻ thấy vui vì được ăn no.

Phạm Duy, cũng như nhiều nhà thơ, nhà văn khác, chưa ai thấy hết cái nghèo của “Quảng Trị của tui” đâu! Quảng Trị nghèo lắm, nghèo hơn ăn ngô, ăn khoai, ăn sắn nhiều:

Hồi còn nhỏ, tôi đã từng nghe cầu hò:

Gió Nam non thổi lòn “hang cóc”,

      Phận em ngheo nên mồng đóc em khô”

 

Sách địa lý gọi là Gió Lào, dân địa phương gọi là gió Nam. Đó là hiện tượng gió Foehn (“phơn”, gốc từ Fơn, tiếng Đức) ở miền Trung Việt Nam. Theo địa lý địa cầu, nói chung, nhiều châu

lục, có hiện tượng gió Foehn. Khi ngọn gió được hình thành, vượt qua những vùng núi cao, làm gió tăng tốc và mất hết hơi nước, nên trở nên khô và nóng, có khi rất nóng, gây nên nạn cháy rừng. Nhờ có gió Foehn vượt qua dãy núi Alpes nên vùng Trung Âu về mùa đông được ấm hơn. Ở Mỹ và Canada, gió Foehn vượt qua vùng Rocky Mountains, có tên là gió Chinook.

Vùng Đông Nam Á, theo sách địa lý của frère Jerôme Lê Văn Ba, và vài giáo sư dạy ở Khải Định, (tên trước 1956), gió Foehn phát xuất từ vịnh Thái Lan, thổi dọc theo sườn phía Tây dãy Trường Sơn. Càng lên hướng Đông-Bắc, gió càng mạnh và khô vì cây rừng Trường Sơn lấy hết nước. Từ đèo Lao Bảo trở ra Bắc, rặng Trường Sơn thấp xuống, nên gió quay ngược lại theo hướng Đông-Nam, thổi suốt từ vùng phía bắc Thừa Thiên ra tới Thanh -Nghệ-Tĩnh. Sách địa lý thường gọi là gió Lào vì gió từ Lào thổi xuống Việt Nam. Dân địa phương gọi là gió Nam, có lẽ người ta biết gió thổi từ vùng vịnh Thái Lan ở phía Nam mà lên.

Gió Nam, như đã nói, khô và nóng. Các vùng Thanh Nghệ, lá chuối bị khô cháy vì hơi nóng của gió. Theo kinh nghiệm của tôi khi còn nhỏ ở Quảng Trị, gió Nam thổi từ nửa đêm cho tới trưa hôm sau. Gió Nam thổi mạnh, nên buổi tối, trước khi đi ngủ, mùng đã chằn kín dưới chiếu, vẫn bị gió thổi tốc lên. Mùa gió bắt đầu từ tháng 5 cho đến tháng 9 (DL), mạnh nhất là vào khoảng tháng 7 tháng 8, khiến nhiệt độ nhiều khi lên đến trên 40 độ C. Cây cỏ đều khô cháy hết. Do đó, ở Quảng Trị có câu tục ngữ: “Nắng tháng 8, nám trái bưởi”.  Sau khi dứt gió Nam, mùa thu tới và sau đó là mùa gió Bấc, tức “Gió Mùa Đông Bắc thổi mạnh trên biển Nam Hải” như câu tiên đoán thời tiết trên đài Sai Gon trước kia).

Vì từ đèo Lao Bảo trở ra dãy Trường Sơn thấp xuống, gió quặt về phía Việt Nam, nên ngay ở đây, gió thổi mạnh lắm, ngang qua đèo. Dân địa phương gọi địa điểm gió vượt qua đó là Khe Gió hay Cửa Gió. Gần địa điểm nầy, có động Ông Đô là căn cứ của Việt Cộng xâm lược miền Nam, trên đường Trường Sơn. Các đơn vị tác chiến ở vùng nầy thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh, các tiểu đoàn Biệt Động Quân 21 và 37, từng tham chiến ở Lang Vei và trận Khe

Sanh với các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 1968, họ không lạ gì động Ông Đô. Kế Lang Vei có hai bản làng của người Thượng (người Vân Kiều hay người Stiêng, tôi không biết chắc). Hai bản đó tên là Bản HoongBản Cóc. Đây là những làng du canh du cư, dân chúng rất nghèo.

Theo tôi nghĩ, câu ca dao tôi trích dẫn ở trên, nói là “Gió Nam non thổi lòn hang Cóc…” là không đúng. Nếu nói tới Cửa Gió, Khe Gió thì có lẽ câu ca dao nói tới tên hai bản làng nói trên, có nghĩa là “Gió Nam non thổi lòn Hoong, Cóc”, là gió từ Lào thổi qua bản Hoong và bản Cóc rồi từ đó thổi về Quảng Trị. Tôi không tin có hang nào gọi là hang cóc. Hang cóc thì nhỏ, làm sao có gió thổi qua?

Người xưa không mặc đồ lót, nhứt là các “nụ cười sơn cước”. Vậy thì có cái gì giữ “cái ấy” cho gió Nam khỏi làm cho khô. Cây lá còn phải khô nữa là!

Nhưng trời ơi! Có cái xứ nào trên đời nầy nghèo đến nỗi gió làm cho “khô cái ấy”. Mà đó là vì “Phận nghèo” (Phận em nghèo nên…” Nghèo ăn khoai ăn sắn, ăn độn ngô khoai, có đâu mà nghèo đến cái độ phải “khô cái ấy” như ở quê tôi hỡi trời???!!!

Nói phận nghèo là nói tại Trời. Không phải vì biếng nhác, ham chơi bời, cờ bạc, phá phách mà nghèo. Nghèo là tại Trời, “Trời làm cơn lụt mỗi năm” hay “trời làm gió thổi mỗi năm”. Thật vậy, dân Quảng Trị tôi không làm biếng, không ham chơi, không cờ bạc, chẳng qua vì Trời sinh tôi ra ở đấy, số phận tôi ở đấy, số phận đồng hương, đồng bào tôi ở đấy, khiến cô sơn nữ than

phận nghèo nên “cái ấy” phải khô….

Để kết thúc phần nầy, và để rõ hơn cái ý nghĩa tôi trình bày, xin nhắc lại câu ca dao một cách trọn vẹn và trung thực:

Gió Nam non thổi lòn Hoong, Cóc,

      Phận em nghèo nên mồng đóc em khô!”

 

 

 

 

Phần 2

 

Chân Nguyên Thiền Viện

 

Dù không phải là khách được mời, nhưng vì qua mối liên hệ thân tộc bên vợ tôi, tôi hoãn chuyến về một tuần lễ để đi thăm Chân Nguyên Thiền Viện, nhân dịp ngôi chùa nầy làm lễ khánh thành.

Cách đây mấy năm, không lâu lắm, tôi về Cali, có nghe tin ông đại đức Đăng Pháp (khi ấy là đại đức, bây giờ là thượng tọa), mua một chỗ đất trên núi, kế trên đường từ nam Cali đi Las Vegas để dựng một ngôi chùa. Đây là vùng sa mạc, không chỉ “nắng bụi mưa bùn” mà đêm mùa đông thì lạnh như cắt, ngày mùa hè nắng như thiêu như đốt. Những người đồng hương của chúng tôi, – cả ông đại đức và gia đình chúng tôi, – đều than như vậy. Tôi cũng hơi ngạc nhiên. Bây giờ thì chùa chiền thiếu gì. Người Việt tỵ nạn bây giờ phần đông giàu có, không phải quá lo miếng ăn cái mặc như khi còn sống dưới chế độ Việt Cộng, bèn lo chăm sóc đời sống tinh thần. Nôm na thì cũng là “phú quí sinh lễ nghĩa”.

Vã lại, đạo Phật có một sức sống mãnh liệt trong tinh thần

người Việt, dù hoàn cảnh nào, thì sức sống vẫn còn đó, khi khó khăn thì tiềm ẩn trong lòng dân tộc, khi có cơ hội thì cái mầm đó nẩy nở, phát triển vươn thành cây trái, cành lá sum suê.

Rõ nhất là mỗi khi chiến tranh chấm dứt.

Sau cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhứt (1945-54), hiệp định Genève chia cắt nước Việt làm hai. Không rõ ở miền Bắc, dưới chế độ Cộng Sản vô thần, tình hình như thế nào, nhưng ở miền Nam, dưới chế độ Cộng Hòa, ngay những năm đầu của chế độ nầy, dù Phật Giáo không được ưu đãi, việc đàn áp chưa gay gắt như sau khi ông Ngô Đình Thục về Huế làm tổng giám mục, sinh hoạt Phật Giáo lại hồi sinh và phát triển mạnh lắm. Rõ ràng nhứt là việc hình thành các Gia Đình Phật Tử, các Khuôn Hội, đơn vị hạ tầng cơ sở của đạo Phật, ở thôn quê làng nào cũng có, ở thành phố phường nào cũng có. Về sau, càng bị chính quyền đàn áp, đạo Phật càng mạnh hơn. Việc phản hồi ấy như sức bật một cai lò-xo, càng dùng sức mạnh ép nó lại, nó phản ứng mạnh mẽ hơn, cho đến khi chế độ không còn…

Tâm lý đó, sau chiến tranh Cộng Sản Bắc Việt xâm lăng miền Nam, sau nhiều năm bị đàn áp dưới chế độ Việt Cộng, tinh thần Phật Giáo hồi sinh ở quê người.

Hôm lễ khánh thành, một vị đọc diễn văn có một câu rất hay. Xin nói đại ý: Sau bao nhiêu năm loạn lạc, Phật giáo như những cánh bèo trôi giạt và dừng lại ở nơi sa mạc nầy. Tôi nghĩ tiếp, một cánh bèo dừng lại nơi sa mạc nầy và đã nở thành một đóa hoa sen.

Giữa cảnh sa mạc như thế nầy, dựng được một cảnh chùa như thế nầy, quả thật đây là một đóa sen giữa đất đá khô cằn.

Những ngày đầu, ông đại đức sống trong một cái mobil home thuê, dĩ nhiên rất thiếu thốn, thiếu cả nước là cái không thể thiếu được. Dĩ nhiên, Phật tử đã đem nước lên tưới cho đóa sen ở trên sa mạc nầy. Thấy tình cảnh thiếu nước, một Phật tử đã cúng cho chùa một cái giếng nước, trị giá… một trăm ngàn đô la.

Nếu “nước” là tượng trưng cho cái tinh thần của người Phật tử, thì cái tinh thần đó được đem đến đây quá nhiều. Nói theo cách

nhà Phật thì đó là cái “duyên”, chưa hẵn là sự tính toán của ông đại đức dựng chùa. Như hiện nay ở Mỹ (tôi chỉ biết ở Mỹ), thường người ta dựng chùa ở chỗ đông người Việt, đông người lui tới, đông khách thập phương, thì thùng phước sương mới mau… đầy. Vậy mà các tăng ni (tôi không gọi là thầy (thầy chùa), cũng không gọi là ni cô, sư cô và cũng không “qui y tăng” như người ta thường

làm) mỗi năm vài lần, tổ chức đại nhạc hội mùa xuân, mùa hè, dịp lễ Phật, “có mời ca sĩ Cali về trình diễn” (viết đúng như trong tờ quảng cáo của một vài chùa ở Massachusetts, người ta rất “thèm” ca sĩ Cali), để lạc quyên “xây chánh điện” (không rõ có “tả điện” không?), xây nhà “trai”, nhà “gái”, xây trung tâm tu học, xây sân, xây bãi, xây vân vân và xây vân vân…

Tôi không nghe Chân Nguyên Thiền Viện tổ chức nhạc hội lạc quyên, mà lại nghe đồng hương nói “Chùa xây xong rồi, to lắm, đẹp lắm”.

Tôi vốn ít ngưỡng mộ danh lam thắng cảnh. Có lẽ tôi bị ám ảnh vì bài tập đọc trong sách “Quốc văn Giáo khoa thư” lớp Dự bị các anh chị tôi học khi tôi còn nhỏ lắm: “Chốn quê hương đẹp hơn cả.” Nói cho thật lòng, sông Thạch Hãn của tôi đẹp lắm, vì một lẽ rất dễ hiểu: Tôi sinh ra bên cạnh sông Thạch Hãn, nhà tôi bên bờ sông Thạch Hãn, trường tôi bên bờ sông Thạch Hãn, tôi tắm táp vui chơi trên giòng sông Thạch Hãn, tuổi thơ tôi trải dài theo bờ sông Thạch Hãn. Nếu sông Thạch Hãn đối với tôi đẹp lắm thì cũng không có gì lạ, và xin quí độc giả thông cảm cho tôi, nếu tôi cũng là người như trong sách “Chốn quê hương đẹp hơn cả”.

“Đường ngược chiều”

Nhưng tôi vẫn lên Chân Nguyên Thiền Viện, không phải vì cảnh sắc ở đây, cảnh sa mạc tôi đã từng xem hàng ngàn, ngàn lần trong…phim cao bồi Mỹ, không phải vì chùa to lắm, đẹp lắm như đồng hương và bà con khen ngợi, mà vì tôi tò mò. Tại sao một ông sư đi “đường ngược chiều” mà thành công như thế? Ông đại đức tu giữa sa mạc, sa mạc thì cái gì cũng thiếu, người tu thì không thiết tha gì lắm với cái ăn, nhưng điện, nước thiếu thì tu làm sao

được chứ? Ngày xưa, người đi tu không cần điện. Ngày nay, chỗ

nào không có điện thì… khó sống. Còn nước thì xưa cũng như nay, dĩ nhiên không có nước thì không có sự sống.

Nhưng chính “con đường ngược chiều” là con đường thành công của ông đại đức. Thay vì người ta về phố thị để tu thì ông lại lên sa mạc. Đồng bào Phật tử cũng có nhiều cái nhìn rất tinh tế, họ tin những ai tu ở “chỗ như thế nầy” mới chính là tu. “Mới chính là tu” nên Phật tử “tìm tới với thầy”. Rồi từ đó, một thầy, nhiều thầy, một vài Phật tử, hàng trăm rồi tới hàng ngàn Phật tử, cùng về đây, và cùng xây dựng, biến một cánh bèo trôi vào sa mạc, – như trong bài diễn văn nói trên – thành một đóa hoa sen, – như tôi đã nghĩ.

Tôi không phải tán dương gì thêm về cảnh chùa ở đây. Dù có là Phật tử hay không, người ta cũng nên đến đây, để xem sức sống của người Việt, để xem sức sống của đạo Phật trong lòng người Việt, hiển hiện ra giữa một vùng sa mạc, sa mạc Névada nổi tiếng ở nước Mỹ.

Nhưng tôi cứ mãi suy nghĩ về cảnh chùa nầy. Ngôi chùa to lớn và đẹp, dĩ nhiên, bàn ra tán vào chi cho vô ích. Tượng Phât Quan Âm cao, tưởng như Bà Phật có thể nhìn bao trùm khắp chung quanh, khắp thế giới ta bà. Tượng Phật nằm hùng vĩ. Tất cả những cái ấy, thường những ngôi chùa lớn đều có cả. Nhưng tượng 18 vị La Hán trên con đường vào chùa làm cho tôi thích thú không ít.

Cảnh tượng nầy làm tôi nhớ tới sân nhà thờ La Vang, sau khi có cái tên mới là “Vương Cung Thánh Đường” (vừa là Cung vừa là Đường, vừa là Vương vừa là Thánh). Cái sân nầy có hai hàng tượng ở hai bên. Tượng ở trên cao, các ông thánh nào đó, của người Âu, trong lịch sử châu Âu hay lịch sử La Mã, có cái vẻ gì đó trông giống Kirk Douglass trong phim Spartacus. Hình như lịch sử thời trung cổ bên châu Âu không có vẻ “hiền” nên tôi không mấy thích. Tôi là người, như bạn thời niên thiếu nhận xét: “lãng tử”. Hai hàng tượng ở sân “nhà thờ La-Vang” (như cách nói của chúng tôi khi còn nhỏ) đẹp thật, hùng vĩ thật nhưng quả tình tôi không thích vì nó quá xa lạ!

Dĩ nhiên, tượng mấy ông La Hán trước sân Chân Nguyên Thiền Viện “hiền” hơn, mặc dù có “ông thì cởi nai”, “ông cởi rồng”, lại có “ông ngồi trên lưng cọp”. Ông thì “tay không múa võ”, “ông gác trượng ngang vai”. Không thấy có nhiều ông gầy, ông nào cũng mập, bụng bự, đến nỗi khi chụp hình, vợ tôi tinh nghịch đưa tay thoa bụng ông La Hán bụng bự ấy.

Khi còn nhỏ, tôi từng thấy trước hiên chùa có ông Thiện và

ông Ác, như ở chùa “Phật Lồi” (10) mà tôi đã từng đi chùa ấy khi bốn năm tuổi. Người ta thường tạc tượng các vị La Hán và thờ trong chùa, chưa ai tạc tượng các vị bằng đá cẩm thạch trắng núi Non Nước (gần Đà Nẵng, hình như có tấm bảng ghi có một phật tử cúng 100 ngàn cho việc dựng tượng các vị La Hán. Tượng khắc ở Đà Nẵng, đem sang đây, giá thành chắc không rẻ), rồi sắp các vị thành hai hàng, đem “phơi nắng” các vị như ở đây. Nhờ vậy mà cảnh sắc chùa trở nên lạ, đẹp, lôi cuốn khách viếng chùa. Bày tỏ cái thích thú ấy, tôi chụp hình cho vợ tôi đứng bên cạnh 18 vị La Hán nầy. Đúng là một kỷ niệm hiếm quí vậy.

Nhưng tôi vẫn còn thắc mắc. Người ta có phân biệt các vị La Hán nầy là La Hán Tầu, La Hán ta, La Hán Ấn Độ như trong thơ của Huy Cận hay tất cả chỉ có một thứ La-Hán mà thôi? Ông sư Lỗ Trí Thâm trong truyện Thủy Hử là danh tăng, không thành La Hán nên không có tượng ở đây, mà sao tôi ngưỡng mộ ông quá vậy?

Hôm lễ khánh thành đồng bào Phật tử đông quá, chưa xem kỹ, chắc phải lên chùa lại một lần nữa để xem có tượng ông Lỗ Trí Thâm đâu đây hay không, ông sư “thần tượng” thời niên thiếu của tôi, một thời “mê” truyện Tầu.

Hình như đạo Phật “đi” tới đâu thì “sống” với dân tộc ấy. Có phải vì vậy nên ông thi sĩ Huy Cận thấy có nhiều La Hán khác nhau? Các ông La Hán Tầu mập và vui tươi hơn các vị La Hán ta? Ông ta có cái ý niệm so sánh ấy khi ông đến thăm chùa Tây Phương ở Hà Tây năm 1940. Khi ấy, Huy Cận thấy “Các vị La Hán chùa Tây Phuơng, nỗi đau khổ của cha ông.” Hai mươi năm sau, Huy Cận thấy điều đau khổ rõ hơn: “Tượng La Hầu La đúng

là chân dung một cụ già Việt Nam, thân hình gầy gò, mặt dài, nhỏ, gò má cao, môi mỏng vừa phải. Chưa thấy pho tượng nào diễn tả y phục một cách hiện thực mà lại đẹp đến như thế. Dáng điệu một tay cầm gậy, một tay để trên gối thoải mái, đôi bàn tay trông thấy rõ từng đốt xương bên trong.”

Thật ra, ông Huy Cận rất chủ quan, hay có thể nói là “cuồng tín”, “mê muội” khi ông viết bài thơ “Các vị La Hán chùa Tây phương” hồi tháng 12 năm 1960. Ngay khi đến thăm chùa Tây phương lần đầu, ông ta thấy “Nỗi đau khổ của cha ông…” Nỗi đau

khổ đó là gì, là của chính các vị La Hán hay nỗi đau khổ của cha ông chúng ta, tức là của chúng ta, của dân tộc chúng ta. Tại sao cha ông chúng ta có nỗi đau khổ đó, thể hiện qua hình tượng các vị La Hán chùa Tây phương mà các vị La Hán người Tầu thì không?! Các tượng La Hán bên Tầu mang nét đặc trưng của dân tộc Tầu. Các vị La Hán ở ta thì mang nét đặc trưng của dân tộc ta! Trong ý nghĩa đó, đạo Phật ở nước ta “đi vào” dân tộc ta là như thế.

Vậy thì nỗi đau khổ của cha ông chúng ta, mà Huy Cận thấy được khi ông đến thăm các vị La Hán năm 1940 là đau khổ gì, nếu không phải đó là cái thân phận một dân tộc nhược tiểu, nằm bên một nước lớn, luôn luôn bị đe dọa xâm lăng, luôn luôn phải chống xâm lăng và đã từng bị xâm lăng, “một ngàn năm nô lệ giặc Tầu, Một trăm năm đô hộ giặc Tây” như Trịnh Công Sơn từng nói vậy.

Nếu nhìn vấn đề như thế thì các vị La Hán Tầu đâu có mang “Nỗi buồn nhược tiểu” như nhà thơ Sương Biên Thùy (Lê Mai Lĩnh) đã từng viết cách đây nửa thế kỷ. Các vị La Hán Tầu mang cái nét đặc trưng của dân tộc Tầu, đặc trưng của một dân tộc bành trướng, Đại Hán và thủ tiêu 99 dân tộc Việt khác ở Hoa Nam, khi Hán hóa các tộc Việt ấy.

“Trả lời Hà Minh Đức về bài thơ “Các vị La Hán chùa Tây Phương”, Huy Cận nói:

“La Hán là những vị tu gần thành Phật, nhưng tôi thấy đây là những hình ảnh của cha ông và toàn là những hình ảnh đau

khổ; tất nhiên không phải tất cả đều đau khổ, nhưng ấn tượng chung là như vậy. Tôi về ghi trong sổ tay mấy câu: “Các vị La Hán chùa Tây Phương, nỗi đau khổ của cha ông” nhưng không làm được bài thơ mặc dầu đã có những ý thơ đó.”

Ý tưởng về “nỗi đau khổ của cha ông” trong dòng lịch sử dân tộc, xuất hiện trong trí ông năm 1940, khi ông đi thăm chùa Tây phương lần đầu. Và mãi đến:

“Ngày 28 – 2 -1960 tôi đi thăm chùa Tây Phương cùng mấy chuyên gia Trung Quốc. Bóng dáng của ông cha ta ít nhiều đã phản ánh được thời đại lúc đó. Các vị La Hán ở Trung Quốc cũng rất đẹp, công phu nhưng “khí thế đằng đằng” khác với các vị La Hán đau khổ, gầy guộc nhưng rất có thần của ta. Buổi tối về tôi viết một mạch 15 đoạn. Đây không phải là tác phẩm bàn luận về Phật giáo mà chỉ là sự thể hiện một cách cảm nhận và suy nghĩ về quá khứ của lịch sử dân tộc.”

Cái “khí thế đằng đằng” là cái chi vậy?

Điều đáng buồn là sau khi “mê muội” chủ nghĩa Mác, Huy Cận mơ một “thế giới đại đồng”, nên ông không còn thấy cái đặc trưng khác biệt giữa người Tầu và người Việt, không còn thấy sự khác biệt giữa các La Hán Tầu và La Hán Việt. Huy Cận tuy có thấy nỗi đau khổ, – không phải của dân tộc nữa, mà của nhân loại, – nỗi đau khổ mà theo ông, triết lý đạo Phật không giải quyết được, không giải thoát được cho nhân loại (cho nên đến bây giờ “mặt vẫn chau”):

…Các vị ngồi đây trong lặng yên

Mà nghe giông bão nổ trăm miền

Như từ vực thẳm đời nhân loại

Bóng tối đùn ra trận gió đen…

…Mặt cúi, mặt nghiêng, mặt ngoảnh sau

Quay theo tám hướng hỏi trời sâu

Một câu hỏi lớn. Không lời đáp

Cho đến bây giờ mặt vẫn chau…

 

Vậy thì ai, người nào, chủ nghĩa nào, triết học nào giải quyết được vấn nạn nầy, nghĩa là làm cho nhân loại không còn khổ đau, không còn đói rách, mọi người đều hạnh phúc, đều bình đẳng. Đó là điều Huy Cận giải thích như sau:

Các vị La Hán chùa Tây Phương!
Hôm nay xã hội đã lên đường
Tôi nhìn mặt tượng dường tươi lại
Xua bóng hoàng hôn, tản khói sương.

Cha ông yêu mến thời xưa cũ
Trần trụi đau thương bỗng hoá gần!
Những bước mất đi trong thớ gỗ
Về đây tươi vạn dặm đường xuân

Vấn nạn của nhân loại mà đạo Phật không giải quyết được, theo Huy Cận, chủ nghĩa Cộng Sản sẽ giải quyết xong, bởi vì Huy Cận nói: “Hôm nay xã hội đã lên đường…”  Lên đường gì? Ấy là con đường tiến lên “Xã hội xã hội chủ nghĩa” mà chính quyền Cộng Sản Bắc Việt đã đem dân tộc nầy, quyết tâm xây dựng đấy.

Nếu Huy Cận còn sống tới bây giờ, và đi thăm con trai ông – Cù Huy Hà Vũ – đang sống trong tù, thì Huy Cận có thấy rõ ra rằng, chính ông, “Chính Huy Cận đang “cận thị”, chỉ thấy những điều khoa trương trước mắt mà không thấy cái sai lầm, cái nguy hại ở đằng sau những lời khoa trương ấy. Không hiểu ông Cù Huy Hà Vũ có thấy điều như tôi vừa nói, tức là thấy sự cuồng tín vào chủ nghĩa Mác của thân phụ ông. Tôi hy vọng ông Hà Vũ thấy điều đó, không cuồng tín, không “cận thị” như ông Huy Cận.

Dĩ nhiên, bài thơ “Các vi La Hán chùa Tây phương” là cái loa tuyên truyền cho Cộng Sản của ông Huy Cận, đương thời là “bộ trưởng văn hóa… Việt Cộng” nên được cán bộ văn hóa Việt Cộng tán dương nhiều lắm. Xem phụ lục (11)

Trở lại Chân Nguyên Thiền Viện, ra về mà lòng tôi còn vấn vương nhiều lắm, không phải tôi ưa đi tu theo Phật. Tôi là người

không có căn tu, không tin những điều huyền hoặc, ngay trong tất cả các tôn giáo mà trong đó, không ít người mê tín, rất mê tín là đằng khác, tin vào những điều không thực.

Không bao giờ tôi có thể là một “phật tử thuần thành”, như những người chăm đi chùa và cầu nguyện, xin xỏ những việc mà chính họ biết rằng Phật hay Chúa cũng không thể cho được. Sự than vãn, rên xiết, cầu nguyện, xin xỏ là điều rất thường có ở một số tôn giáo mà điều buồn cười là ngay chính vị giáo chủ cũng không tự cứu được mình thì thử hỏi cứu được ai mà xin xỏ cho vô duyên.

Tôi chỉ là một “phật tử truyền thống” bởi vì đạo Phật là một tôn giáo truyền thống của người Việt Nam, qua đó, người Việt

Nam, từ kẻ bình dân ít học cho đến hàng trí thức, ai ai cũng biết rằng “hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi.” Cái đuốc tôi có là cái niềm tin tôn giáo do cha ông truyền thừa lại, còn ngọn lửa là tự tôi thắp lên. Lửa đó, do mẹ tôi cho, do họ hàng, bà con xóm làng cho tôi, do cái văn hóa của dân tộc truyền thụ lại cho tôi, qua nếp sống của họ, qua tục ngữ, ca dao, qua thần thoại, cổ tích, qua lịch sử dân tộc mà tôi học được. Đạo Phật của tôi là “nhân quả” mà ai ai cũng nói, là “ác giả ác báo”, là “làm lành tránh dữ”, là tội “nghiệp”, là vô “duyên”, là không sát sinh, là biết thương yêu mọi người, đồng loại, là yêu thương loài vật, nhất là những loài vật có ích cho ta, như con trâu kéo cày, con bò kéo xe, con ngựa chở người ta đi lại, v.v… Dó đó, với tôi, Phật là Mẹ. Phật là các ông, các cụ hiền lành trong làng tôi, là sư cụ, sư bác, sư thúc ở chùa, thậm chí cả những chú tiểu, chú điệu ở ngôi chùa cạnh nhà tôi. Họ là những người nghèo khó, mà khi tôi nghèo khó, tôi cũng từng nói đùa với bạn bè, rằng tôi cũng là một “bần” mà không “tăng” như họ. Tăng mà không “bần” thì sao gọi là tăng? Họ là những chiếc áo nâu bạc mầu, có miếng vá ở cùi tay, có đôi guốc mộc quai bằng võ xe hơi. Tôi yêu họ, gần họ, có khi chuyện trò với họ. Họ rất gần gủi thân quen. Vì vậy, khi mười hai, mười ba tuổi, lần đầu tiên vào chùa, – ở chùa bây giờ không có ông Thiện, ông Ác, cầm thanh long đao đứng ngay ở hiên chùa làm cho tôi rất sợ hãi khi ba bốn tuổi tôi bắt

đầu đến chùa, – thì bây giờ, khi vào chánh điện lần đầu, thấy tượng ông Phật ngồi trên đài cao, tóc quăn, vai trần, áo mầu vàng, thì tôi nghĩ ngay rằng đó không phải là “Phật của tôi”. Phật của tôi giản dị hơn, mặc cái nâu là mầu dân tộc, mầu ruộng đồng cày sâu cuốc bẩm, không mập vì tương chao tu hành, phảng phất nỗi buồn bã đau khổ vì thân phận người, thân phận dân tộc… Khi đọc thơ Trần Tế Xương thấy “Công đức tu hành sư cũng lọng” thì tôi thấy buồn cười, thích thú với cái mai mỉa của nhà thơ. Đạo Phật của tôi trái ngược hẳn với ông cha Quý, cha Tư ở nhà thờ Thạch Hãn mà người vô ra nhà thờ lễ bái, gần như xa lạ với người chung quanh, với dân tộc, giống như những nhân vật mà giáo sư Lý Chánh Trung mô tả trong  “Tìm về Dân tộc”:

 “Bải trường Nô-en”, về nhà, tôi đi xem lễ tại nhà thờ tỉnh, mặc dầu chưa “vô đạo” (thời đó nói “vô đạo” – “đi đạo”, theo tiếng Bắc – có nghĩa mặc nhiên là vô đạo Thiên Chúa, như thể không theo đạo Thiên Chúa thì không có đạo gì cả). Nhà thờ nhỏ, xinh xinh, không khác gì mấy cái nhà thờ bên Pháp mà sau nầy tôi có dịp đi lễ. Ở giữa, hai hàng ghế quì cá nhân có nệm, dành cho bổn đạo “hạng sang”. Hai bên là những chiếc băng cây dành cho bổn đạo “bình dân”. Nói “dành cho” là không đúng lắm, vì không có chỉ thị nào cấm những người bình dân chiếm hai hàng ghế giữa. Nhưng suốt mấy năm đi lễ ở đó, chưa bao giờ tôi thấy “xóm nhà lá” dám tràn qua “xóm nhà ngói”!

“Ở mút phía trước, hai hàng ghế giữa, là những chỗ dành cho các ông quan Tây với những chiếc ghế bành to tướng. Lúc ấy, ông Chánh là người mộ đạo nên các quan lớn đều đi lễ với quí vị phu nhân và các cậu Tây Đầm con cũng “về quê” như tôi, trong dịp Nô-en.

“Tôi quỳ ở hàng ghế giữa ngoài sau, với các gia đình “danh giá”. Nhìn mấy chú Tây con, tôi nhớ tới thằng Michel và cảm thấy gần chúng hơn là gần mấy thằng con nít An-Nam đang chen chút trên những chiếc băng cây bên cạnh.

“Không bao giờ tôi quên được cảm giác nầy, cái cảm giác khoan khoái dễ chịu được thuộc vào một lớp người sang cả thơm tho đẹp đẽ, được quì trên một chiếc ghế riêng, êm ái, tách rời khỏi cái đám đông hôi hám lúc nhúc chung quanh.”

Nói cho thật lòng, tôi từng đi nhà thờ nhiều hơn đi chùa, nhất là khi tôi tới tuổi thành niên, và trong thời kỳ ông Ngô Đình Diệm mới lên làm tổng thống, chủ nghĩa “Nhân Vị” của ông Ngô Đình Nhu được tuyên truyền, quảng bá rộng rãi. Vâng, theo tôi, chống Cộng cũng có nghĩa là phải có một học thuyết chống lại một học thuyết. Đó là một trong những nguyên tắc căn bản. Tôi thấy có một cái gì đó, làm cho lòng tôi yên ả một chút khi tôi quì một mình trước tượng Chúa trong nhà thờ. Tôi từng nghĩ đến cái chết Spartacus trên cây chữ thập, khi cuộc khởi nghĩa của những người gladiateur do ông ta lãnh đạo bị thất bại. Spartacus sống và tranh đấu cho ông ta và cho những người bị áp bức. Khi sắp bị đóng đinh, Spartacus bình thản, không than khóc, đau đớn, van xin, quì lạy. Qua hình ảnh của Spartacus chiếu trên màn vải, tôi nghĩ tới cái chết của chúa Giê Su và Chúa cũng đã hy sinh cao cả như vậy. Tại sao tôi than phiền quá nhiều cho cuộc đời niên thiếu nghèo khổ của riêng tôi. Người ta phải biết sống cho người khác thì cuộc sống mới có ý nghĩa chứ! Khi còn trẻ, tôi từng được ông bà cha mẹ thầy cô dạy như vậy.

Vậy rồi tôi được cho đi học khóa Nhân Vị ở Vĩnh Long như phần đông các giáo sư, công chức khác, và tôi bỗng thấy “chán” đạo Thiên Chúa vì những điều tôi cho là không thực, những gì là “mộng mị” và cả những điều “dị đoan”. Tuy nhiên, cái cảm tưởng mạnh mẽ nhất đối với tôi, là cái gì đó “xa lạ”, không ở trong dân tộc tôi, không phải của người Việt. Tôi quen với những cái gì “bình dân”, nơi tôi sinh ra và lớn lên, hơn là những gì thuộc giai cấp thống trị sang giàu, tôi quen với ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích với Tấm Cám, với “Chum vàng bắt được”, với “Ăn khế trả vàng”, với Ông Phật dạy người thanh niên mấy chữ “Khắc xuất, khắc nhập”, và xa lạ với những câu chuyện trong Kinh Thánh. Tôi thấy gần gủi với các ông thầy tu, thầy chùa áo nâu sồng, đi chân đất,

mang guốc mộc hơn với mấy ông cha áo đen nhiều quyền lực, từ những ông cha làm giám thị của Trung tâm Nhân Vị Vĩnh Long, thường khiển trách, ngăn cấm “học viên” ban đêm trốn đi chơi, đi uống càphê, cho đến các ông cha “rất mạnh thế lực” ở quê tôi, Quảng Trị, khiến ông quận, ông tỉnh cũng nể sợ?

Và điều đáng nói hơn hết, cái triết lý mà tôi bị ép buộc phải học đó, nó không giải quyết được những gì  “ưa thắc mắc” của một thanh niên vừa qua tuổi thiếu niên. Vũ trụ do đâu mà có, con người từ đâu mà ra? Tạo Hóa thì đầy quyền lực, huyền nhiệm nhưng lại rất bất công và vô trách nhiệm. Bao nhiêu cô đẹp “kẻ đón ngưòi đưa” còn bao nhiêu cô xấu “đi sớm về trưa một mình”. Đó là một sự “thử thách bất nhân” của Thượng Đế, hay mọi việc trên đời nầy chỉ là “tình cờ” mà ra, sau khi Tạo Hóa cho chúng ta một sự sống mầu nhiệm, rồi để mọi sinh vật tự cách kiếm sống, tự kiếm cách tồn tại, “khôn sống bống chết”, dù con ong, cái kiến, là “con giun ngước lên trời” hay cả chính con người, hay cả cái gọi là nhân loại nầy cũng vậy thôi.

Tôi không còn đi nhà thờ, và cũng không đi chùa, nơi mấy bà “xanh xít đít đui” thường lui tới “dâng hoa quả lạy Phật” để được “mua may bán đắt” mà một người đàn bà nghèo, góa chồng sớm, tần tảo nuôi một đàn con như mẹ tôi, là nạn nhân của mấy bà.

Tôi thường nghĩ rằng “cách chết” của nhà văn Tam Ích là có ý nghĩa nhất. Thay vì người ta treo cổ “đu giây đá ghế” thì ông Tam Ích “đu giây đá chồng sách” (thay cho cái ghế). Hành động tự tử đó có nghĩa rằng tất cả những tư tưởng của nhân loại, – qua kinh điển hay triết học, triết lý, học thuyết, v.v… -không giải quyết được những vấn nạn của nhân loại. Nhân loại vì những điều họ “cuồng tín” mà giết chóc lẫn nhau, từ xưa cho tới bây giờ, và mai sau cũng vậy, trước sau có khác gì nhau, mặc dù nhân loại ngày nay văn minh hơn và giết nhau cũng “tuyệt diệu” hơn. Và mai đây, nhân loại nầy sẽ tận diệt cũng chính vì những điều “cuồng tín” như thế, không mong gì thoát ra được đâu!!!

Nhưng dù nhìn vấn đề theo mặt phải, mặt trái như thế nào, thì tôn giáo vẫn có mặt hữu dụng của nó. Dù có gióng giã như

tiếng chuông nhà thờ, dù có trầm ngâm chậm rãi như tiếng chuông chùa, thì tiếng chuông bao giờ cũng để lại ít nhiều lắng đọng trong tâm tưởng người nghe. Nó làm cho người ta tự chìm sâu vào tâm hồn mình, để tìm trong đó những yên ả, suy tư, tìm lại mình, tìm lại cha mẹ, tìm lại mình khi mẹ về với cha, tìm lại cái nguyên thủy của cha ông, dòng họ, dân tộc, tìm lại Chân Nguyên của mỗi người như cái tên của thiền viện nầy vậy.

Ngày nay người ta ít tin vào những điều huyền hoặc: một thế giới khác gọi là thiên đường, địa ngục, niết bàn và lại càng không tin vào thiên đường của mấy ông Hồi giáo cuồng tín, cứ giết người vô tội bằng cách tự mình mang bom cho nổ bậy để được lên thiên đường với thánh A-La, nơi có 40 hay 70 cô gái đồng trinh  đang đứng chờ???!!!

Từ khi khoa học chứng minh được rằng vũ trụ nầy thì bao la mà những thế giới mộng mị đó không thấy ở nơi nào cả, thì các nhà tu hành lại “ngụy biện” rằng thiên đường là ở ngay đây, ngay trên cái gọi là “trần ai”, là bụi trần nầy.

Tuy nhiên, không phải bàn về những cái mơ hồ huyễn hoặc đó, người ta cũng phải nhận ra được vai trò của tôn giáo trong đời sống của mỗi con người, của cộng đồng, của xã hội, của dân tộc và của nhân loại nữa. Vai trò đó của tôn giáo chính là đạo đức. Sống dưới chế độ vô thần bao nhiêu năm, lâu hoặc mau, người ta ai ai cũng nhận thấy rằng, tôn giáo đã đóng một vai trò quan trọng trong đời. Dù nhìn vấn đề theo lăng kính chủ quan như thế nào đi nữa, người ta cũng phải xác định một điều, ngay từ trong nguyên thủy của nhân loại, từ trong cõi u mê của thời cổ sử, từ niềm tin hoang sơ vào quyền lực vô hình, vô minh cho đến ngày nay, có niềm tin vào một giáo chủ, một tôn giáo, thì trong ý nghĩa nào đó, mà không phải là tất cả, đã dạy cho con người phải có đạo đức, trau giồi đức hạnh, dù “tu thân” của ông Khổng hay từ bi hỷ xã của Phật, hay bác ái của Thiên Chúa. Trong ý nghĩa đó thì người ta thấy rõ, không có tôn giáo thì không có đạo đức. Dù không đi chùa, dù bỏ đi nhà thờ như tôi, thì tôi cũng đã có tôn giáo, cái tôn giáo ở trong văn hóa dân tộc mà tôi đã được truyền thụ dạy dỗ qua

cha mẹ, bà con, anh em, làng nước vậy.

Trong văn hóa dân tộc, người ta không dạy cho tôi những câu Phật dạy, rằng tôi phải như thế nầy hay như thế khác. Nếu như có một sự ràng buộc nào đó, dù là sự ràng buộc của kinh điển, cũng sẽ làm cho tôi bỏ mà đi, như tôi đã bỏ không còn đi nhà thờ nữa, sau khi học khóa Nhân vị Vĩnh Long.

Nhưng trong quá trình khôn lớn ở quê nhà, tôi biết triết lý đạo Phật qua những câu tục ngữ, ca dao, truyện cổ tích…  Và cũng qua đó, tôi biết Trời là Công lý mà Phật là Tình thương. Và như thế thì Trời và Phật bao giờ cũng đi đôi để gìn giữ làng nước, giữ gìn dân tộc nầy. Không có Trời, không có Phật, làng nước không thể tồn tại được. “Không Trời ai ở với ai” (tục ngữ)

Ngày nay, nhiều tôn giáo “đi vào thực tế” nhiều hơn, bởi vì nhân loại văn minh hơn mà sự đau khổ cũng nhiều hơn, nhiều đói khổ hơn, nhiều tai họa hơn, và nhất là trẻ con mồ côi cũng nhiều hơn.

Tôi đã từng say mê với câu nói của LaRochefoucault: “Mọi việc thiện đều do lòng ích kỷ…” Vậy thì chỉ ai làm việc thiện với lòng “vị tha” như trong đạo Phật thường nói mới không có lòng ích kỷ? Bà Soeur tận tình chăm sóc cho Hàn Mặc Tử ở nhà thương phung Qui Hòa là vì bà muốn được ơn Chúa để bà được cho về nước Chúa hay sao?  Vậy bà làm việc thiện là vì cho chính bà hay vì Hàn Mặc Tử? Trong ý nghĩa đó thì Từ bi Hỉ xã là vị tha, là “cao” hơn Bác ái của đạo Thiên Chúa hay chữ “Nhân” của Khổng tử.

Không phải vậy! Tôi đã từng chịu khó làm cái công việc “Tầm nguyên tự điển” nhưng qua bao nhiêu năm “giang hồ” từ nơi tôi sinh ra và lớn lên cách vĩ tuyến 17 chưa tới 30km, đến ngày 30 tháng Tư, tôi đang còn “lặn lội” ở Hà Tiên, thì đời dạy tôi một điều: “Thực tế của cuộc sống, của hành động…” chứ không “chìm sâu” vào lý thuyết. Mấy hôm trước ngày 30 tháng Tư, một máy bay C-5A của Mỹ chở một số em bé mồ côi di tản sang Mỹ, vừa cất cánh khỏi phi trường Tân Sơn Nhất thì bị rơi. Tất cả mọi người không ai sống sót.

Người ta làm cái việc di tản nầy để làm gì? Nhân dân Mỹ nổi tiếng với những hành động bác ái, là truyền thống của họ. Họ đến cứu các em bé mồ côi vì tình thương hay như Dziệt Cộng tuyên truyền sau nầy: “Đem các em bé di tản, sẽ dạy cho chúng làm tình báo, mai kia, với cái lý do ngụy trang “thương nước, nhớ nòi” để trở lại Việt Nam làm tay sai cho đế quốc Mỹ.” Bà Yung Krall, người lo liệu việc di tản mấy chục em mồ côi ở một trại mồ côi Minh Trí Gò Vấp, hồi tháng Tư/ 1975, như bà thuật lại trong cuốn tự truyện “Ngàn giọt lệ rơi” của Bà, có em nào ngày nay trở về Việt Nam “với lòng nhớ nước thương nòi”, nhưng thực chất là làm tình báo cho Mỹ không nhỉ? Lòng nhân đạo của Bà, hay từ bi hỉ xã của gia tộc Bà có bị xúc phạm khi nghe Dziệt Cộng nói câu đó không nhỉ?

Dễ sợ! Cái định kiến của con người thật dễ sợ! Khi đã có sẵn cái định kiến như thế rồi, người ta còn vô tư, trung thực, ngay thẳng được không? Có thể không làm những điều độc ác, bất nhân được không?

Mấy năm nay, trên báo chí, người ta đã ca ngợi một số các em mồ côi di tản ngày ấy, nay thành đạt, có người là bác sĩ. Mai kia, nếu như các em có trở về thăm quê cũ, những định kiến của Dziệt Cộng như trên có làm nặng trĩu tâm hồn các em khi họ trở lại cố hương.

&

Thế nào rồi tôi cũng trở lại Chân nguyên Thiền viện một lần nữa. Trở lại Thiền viện ấy chứ không phải trở lại Chân Nguyên, bởi vì “trở về Chân nguyên” là con đường trở về trong tâm tưởng, là con đường dài nhất, gập ghềnh, cam go nhất của mỗi chúng ta. Cụ Võ Liêm Sơn gọi đó là “con đường đi về cõi vô sinh”:

“Rồi có một ngày tôi trở bước

            Sang cõi vô sinh như kiếp trước         

một lần về thủ đô – trang 49

            Linh hồn dù với xác trầm tang

            Vẫn cứ đinh ninh lời nguyện ước.”

Đó là con đường “trở về Chân nguyên”, là con đường bắt đầu “từ cõi hồng hoang”, từ “cõi địa đàng”, từ trước khi bà Ê-và xúi ông A-đam ăn trái cấm, khiến loài người mắc “tội tổ tông”. Khi đã ăn “trái cấm” là con người bắt đầu xa rời Chân nguyên rồi vậy.

Cái tên Chân nguyên nghe hay thật. Nó nhắc ta nhớ tới “tứ đại”, cát bụi, tới các chất hữu cơ tạo nên hình hài con người. Tuy nhiên, biết thì biết vậy nhưng thực hành được vậy thì khó biết bao nhiêu. Biết con người do cát bụi mà ra, chết là trở về với cát bụi, nhưng khi còn sống, người nhạc sĩ cứ hát “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi” mà vẫn cứ ham danh lợi, để đến nỗi mang tiếng là “kẻ phản bội.”

Khi hạt bụi tan rã là con người hóa kiếp, thế nhưng tại sao tôi vẫn cứ đắn đo khi chết rồi thân xác nầy sẽ nằm ở nơi đâu? Trong một nghĩa địa lạ hoắc nào đó, hầu hết những hồn ma ở đó đều xa lạ, và như Trần Trung Đạo viết: “Trên mộ bia thêm một hàng chữ Mỹ. Chết ở đây đất lạ sẽ thêm buồn.”  Vâng, “đất lạ sẽ thêm buồn”, buồn lắm! Nhưng chắc chi khi đem thân xác về bên ấy, sẽ có người thân quen đón đợi?! (12) Hay sẽ rải tro trên biển? Cũng là cát bụi trở về với hư không! Có gì thắc mắc!

Nhưng khi tới Thiền viện Chân nguyên, tôi nghĩ phải chi nơi đây có một nghĩa trang, để cho những người “cùng hội cùng thuyền”, những kẻ tha hương, những người vong quốc nằm lại bên nhau thì “lòng” cũng ấm thêm được một chút chớ sao!

Tôi sẽ trở lại Chân nguyên Thiền viện, để một đêm nào đó, như lời thầy viện chủ nói với tôi, đêm sa mạc trời rất lạnh, rất sáng và trăng rất trong, đi thật chậm bên hàng tượng các vị La Hán, nhìn từng tượng một, những tượng vai trần chân đất, nhìn từng nét một, những nét vui, buồn, đau khổ… để thấm thía, để ngậm ngùi với nhân sinh và dân tộc. Đó là những giây phút tỉnh lặng đáng quí nhất, mà một đời người xuôi ngược, một đời xông pha vì cuộc sống, xông pha tên đạn vì đất nước, một đời lưu đầy nơi xứ người,

đời không mấy khi lắng đọng để tâm hồn có được.

Vậng, tôi sẽ nhìn từng pho tượng một, để thấy “Nỗi đau khổ của cha ông” trên từng pho tượng La Hán Việt Nam, để ngậm ngùi tưởng nhớ năm vị tướng tuẩn tiết ngày 30 tháng Tư nay đang thờ trong Chùa.

Đang thờ trong Chùa?

Vâng thờ trong Chùa. Điều ấy có nghĩa rằng Thiền viện nầy, ngôi chùa nầy, tôn giáo nầy gắn liền với số mệnh của dân tộc. Đạo Phật gắn liền với dân tộc, bởi vì dân tộc nầy có trước, dựng  lên tổ quốc, dựng lên đất nước nầy trên lưu vực sông Nhị Hà trước khi đạo Phật phát triển đến đó, ở lại với dân tộc tại đó, rồi cùng với dân tộc ấy đi dần về phương Nam, trong cuộc Nam tiến dài lâu và quá nhiều gian nan trong lịch sử phát triển của dân tộc. “Dân tộc có trước tất cả và sẽ là nguồn gốc của tất cả.” (13). “Tất cả những gì chúng ta có đều thuộc về dân tộc, và khi cần, phải trả lại cho dân tộc.” Tất cả các tăng sĩ và tất cả các tín hữu của mọi tôn giáo đều phải biết như thế. Vượt ra khỏi dân tộc hay vượt lên trên dân tộc, tôn giáo tự nó sẽ hủy hoại bản thân nó vậy.

Ý nghĩa việc thờ phượng 5 vị tướng tuẩn tiết ở trong Chùa cũng là như vậy. Các vị tu hành ở Thiền viện nầy, khi lập bài vị thờ 5 vị tướng ở trong Chùa là thấm nhuần triết lý hòa quyện giữa Dân tộc và Đạo pháp. Dân tộc sáng lên, đẹp đẽ hơn, thanh cao hơn là nhờ có Đạo pháp. Đạo pháp sẽ trường tồn mãi mãi khi biết hòa nhập vào Dân tộc.

Mặc dù tôi cố tìm nguồn gốc của các vị La Hán. Có tất cả năm trăm vị, mười tám hay mười sáu vị? Tôi không kể số lượng. Làm sao tôi phải thấy đó là các vị La Hán Việt Nam. Có thể các tượng ở Chân Nguyên Thiền Viện là từ hình ảnh các vị La Hán chùa Tây Phương ở Hà Tây, như ngay chính Huy Cận, đi thăm chùa Tây phương lần đầu tiên năm 1940, ông thấy đó là các vị La Hán Việt Nam.

Một đêm trăng huyền ảo nào đó, tôi sẽ lặng lẽ bước đi bên cạnh các vị La Hán của Chân nguyên Thiền viện, thực hiện một cuộc hành hương về cội nguồn của tôi hay của dân tộc tôi, để tìm cho được “Nỗi đau khổ của cha ông” như Huy Cận nói, để thấy các vị La Hán Việt Nam ngồi nơi nầy, tưởng như An Lạc mà mắt còn mở ra nhìn vào một cõi xa xăm nào đó, nơi biển luân hồi còn sóng lên cuồn cuộn, nơi dân tộc còn đắm chìm trong đau khổ. Đó là những tượng có linh hồn, không như “Ông phổng đá” trong thơ Nguyễn Khuyến. Tôi sẽ đứng nghiêm, trầm ngâm trước “tượng La Hầu La đúng là chân dung một cụ già Việt Nam, thân hình gầy gò, mặt dài, nhỏ, gò má cao, môi mỏng vừa phải. Chưa thấy pho tượng nào diễn tả y phục một cách hiện thực mà lại đẹp đến như thế. Dáng điệu một tay cầm gậy, một tay để trên gối rất thoải mái, đôi bàn tay trông thấy rõ từng đốt xương bên trong. Những người thợ mộc của làng nghề mộc truyền thống Chàng Sơn đã là tác giả của những kiệt tác tuyệt vời ấy của nền mỹ thuật Việt Nam.

 

Đạo Phật, sau 1975, như một cánh bèo trôi giạt, dừng lại ở sa mạc Névada nầy, tự nó chuyển hóa thành một đóa sen. Cánh bèo dừng lại đó, không phải vì nơi đó là sa mạc mà vì nơi đó có một đám con cháu của người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Không có người Việt Nam ở nam Cali, cánh bèo sẽ không dừng lại trên sa mạc đó, không tự biến hóa từ cánh bèo thành một đóa sen. Sự kiện ấy hình thành là vì có người Việt Nam, do người Việt Nam, mặc dù sa mạc Névada là đất của người Mỹ. Dù người Mỹ ngày nay đang hướng về Thiền, đang tự mình tìm kiếm cho mình một đời sống tinh thần mới, tự đi tìm những phương pháp hóa giải những phiền muộn, u trầm đang đè nặng lên tâm hồn họ, mà không tìm một ân sủng ban phát từ một phép lạ hay huyền bí nào, cũng không thể tự họ biến một cánh bèo thành một đóa hoa sen.

Tuy nhiên, ở đây, Chân Nguyên Thiền Viện mới chỉ là nơi tập họp một thành phần nhỏ dân tộc. Đại đa số còn lại bên quê nhà. Ở đó, liệu họ có làm gì được cho đạo Phật hay cho chính thân phận của một dân tộc.

Sự phát triển của nhân loại, dĩ nhiên là do những mâu thuẫn nảy sinh tự trong bản thể của nó. Chính sự mâu thuẫn đó đã làm

cho mỗi dân tộc, làm cho nhân loại đi lên phía trước. Xã hội Mỹ, dân tộc Mỹ là ví dụ điển hình. Sự mâu thuẫn về màu da, về giai cấp xã hội, về quan điểm chiến tranh, hòa bình đã đưa dân tộc Mỹ đến địa vị cao ngày nay.

Nhân loại cũng vậy. Chính vì sự mâu thuẫn xảy ra trong cộng đồng của chính nó mà nhân loại có được cái tình thế ngày nay, nhất là từ sau khi chế độ và chủ nghĩa cộng sản sụp đổ. Sự kiện ấy đưa chủ nghĩa tư bản lên địa vị độc tôn, toàn thắng như ngày nay. Sự toàn thắng đó biểu hiện qua hình thái “toàn cầu hóa” đang phát triển khắp địa cầu của chủ nghĩa tư bản.

Điều ấy có ích lợi gì cho dân tộc Việt Nam?

Những quốc gia tham gia “vận hội kinh tế thế giới mới ngày nay”, ngoài những phát triển tiên tiến, có sẵn “tài và lực” – vốn và nhân lực – để chiếm những địa vị quan trọng, những nước nhỏ hơn, sau mấy chục năm giành độc lập, cũng đã biến thành những con rồng nhỏ, con rồng lớn để chen chân giữa “thị trường mới” hiện đang đông đúc nhiều món hàng sản xuất, kẻ bán người mua.

So với họ có nhiều ưu thế về vốn (tư bản) cũng như chất xám thì Việt Nam có gì? Sau bao nhiêu tai họa do Cộng Sản đem lại, nước Việt Nam chúng ta đã đánh mất nhiều cơ hội để có thể tiến lên một quốc gia phát triển, ngang bằng với nhiều nước tiên tiến trên thế giới.

Cơ hội đánh mất lần thứ nhất:

Sau khi thế giới chiến tranh lần thứ hai kết thúc, Cộng Sản cướp đoạt quyền lãnh đạo đất nước, sau khi đã loại trừ, thủ tiêu hầu hết các đảng phái quốc gia. Nếu nước ta vào thời kỳ ấy, dân tộc đoàn kết, cùng nhau chống Pháp, thì chúng ta cũng có không thua kém Nhật bản hồi bấy giờ. Trong khi chúng ta lâm vào cuộc chiến tranh chống Pháp kéo dài 9 năm, với bao nhiêu tàn phá, tốn hao xương máu thì Nhật Bản đã vươn mình lên thành một nước giàu mạnh ở châu Á.

Cơ hội đánh mất lần thứ hai:

Sau hiệp địn Genève, miền Nam Việt Nam cố phục hưng kinh tế, nông nghiẹp cũng như công nghiệp. Bao nhiêu nhà máy được xây dựng ở khu công nghiệp Biên Hòa, nông nghiệp phát triển mạnh, điển hình là nắm trở lại vai trò xuất cảng gạo sang các nước Đông Nam Á, thì Cộng Sản Bắc Việt mở cuộc chiến tranh xâm lăng miền Nam, kéo dài 20 năm, tàn phá đất nước một cách khủng khiếp, trong khi các nước Đông Nam Á, kinh tế càng ngày càng phát triển.

Cơ hội đánh mất lần thứ ba:

Sau 1975, nếu biết xử dụng toàn bộ khả năng dân tộc và đất nước, không nằm “dưới ngọn cờ của chủ nghĩa xã hội” thì dân tộc ta cũng không đến nỗi quá muộn màng trong việc phát triển quốc gia.

Qua gần 40 năm Cộng Sản cai trị toàn cõi đất nước, ngày nay, trước trào lưu toàn cầu hóa, trước “sự toàn thắng của chủ nghĩa tư bản”, nước Việt Nam có gì để tham gia vào “vận hội mới” nầy. Nước ta, dân ta không có vốn (tư bản), chỉ có việc “Bán”: Bán sức lao động với giá rẻ mạt và bán tài nguyên quốc gia cũng với giá rẻ mạt. Với một đường hướng phát triển kinh tế như vậy, dĩ nhiên, Việt Nam là nước cầm đèn đỏ trong suốt cuộc chạy đua nầy.

&

Khi máy bay nghiêng cánh để chuẩn bị đáp xuống phi trường Logan của thành phố Boston vào lúc gần nửa đêm, tôi có cảm tưởng như nỗi buồn trong lòng tôi đang nghiêng về cái cánh thấp của chiếc máy bay. Rất nhiều nỗi buồn gom chung nhau lại, đè nặng trong lòng tôi và cũng đè nặng lên cánh bay. Buồn vì xa lìa thủ đô, nơi đó có đông bạn bè, những bạn bè từ thuở ấu thơ, các bạn đồng nghiệp, các bạn đồng ngũ, các bạn đồng tù… nỗi buồn

của người di dân, nỗi buồn đối với bà con, thân  tộc và những người đang sống đời bần cùng cơ cực ở quê nhà, và nỗi buồn cô quạnh của người dân tỉnh lẽ.

Tôi vốn không phải là người viết văn giỏi, chỉ ưa chôm lại những gì người ta đã nói mà tôi thấy hay.

Thật ra, ngày trước tôi không ưa mấy tiếng hát rên rỉ của Chế Linh qua bài hát “Đêm Buồn tỉnh lẻ” của Tú Nhi, và đôi khi tôi cũng thấm thía với nỗi buồn của người dân tỉnh lẻ mà tôi là một thành phần nhỏ trong cái tỉnh lẻ ấy.

Ngày nay, nơi xứ người, cũng nơi tỉnh lẻ, tôi thấm thía với tiếng hát của Chế Linh nhiều hơn. Nó không chỉ là những đêm buồn như tên của bài hát. Bây giờ, tôi ở đây, không chỉ là đêm buồn, mà còn là những ngày buồn, tháng buồn, năm buồn dài dàng dặc, nhất là những ngày tuyết xuống làm trắng cả hàng cây, cả rừng thông, trắng cả con đường và cả những ao hồ, những giòng sông.

Vì vậy, tôi mượn cái ý ấy của nhạc sĩ Tú Nhi và giọng hát của Chế Linh mà sửa lại một chút để đặt tên cho bài viết nầy là “Nỗi buồn tinh lẻ”./     

(1) Rồng chầu ngoài Huế,

                 Ngựa tế Đồng Nai

                 Nước sông xanh sao lại chảy hoài

     Thương người xa xứ lạc loài tới đây!

Câu ca dao nầy xuất hiện sau khi Gia Long lên ngôi. Việc thiết lập triều đại mới đã xong (Rồng chầu ngoài Huế – Rồng tượng trưng cho vua), việc cai trị ở miền Nam cũng đã ổn định (Ngựa tế Đồng Nai – ngựa tượng trưng cho quan quân). Bấy giờ, nhiều người từng theo nhà Tây Sơn, sợ nhà Nguyễn trả thù bèn trốn vào Nam, lạc loài nơi xứ người. Hai câu sau diễn tả hoàn cảnh và lòng thương của người dân địa phương đối với họ.

(2) Sigmund Freud (1858-1939) là một bác sĩ người Áo, bác sĩ thần kinh và tâm lý, người đặt nền tảng cho khoa “Phân tâm học” cho y khoa hiện đại.

(3) Levi Srauss, người Đức gốc Do Thái (1829-1902), theo gia đình sang lập nghiệp ở New York, thường lái xe chở hàng qua Caifornia bán cho người đào vàng. Ông có sáng kiến dùng bạt xe (loại vải dày) để may quần jean bán cho người đào vàng, thường lặn lội trong khe suối, quần áo chóng rách. Vải bạt xe quần jean mặc bền hơn. Loại quần do ông sáng chế rất được ưa chuộng, sau phát triển thành công ty Levi’s Srauss Co., nổi tiếng cho tới bây  giờ.

(4) Ông có người con trai, sợ bị gọi đi quân dịch nên trốn qua Canada. Mãi sau chiến tranh VN, chính phủ Mỹ có lệnh ân xá người đã từng trốn quân dịch, ông nầy mới trở lại sinh sống ở Hoa Kỳ, làm giáo viên cấp 3.

(5)  Câu nầy có nghĩa là: “Liễu Chương Đài, Liễu Chương Đài, Ngày trước xanh xanh nay còn không? Cho dù cành dài còn rủ xuống như ngày ấy, Có lẽ đã bẻ vào tay ai khác mất rồi.

Chương Đài là tên một phố ở thủ đô Trường An bên Tầu. Hoành Hủ lấy một người kỹ nữ họ Liễu, để lại ở đó, khi Hoành Hủ đi làm quan xa. Gặp lúc loạn lạc, tướng Phiên bắt mất Liễu thị. Khi Hoành Hủ về lại Trường An, người cũ không còn. Sau nhờ Hứa Tuấn là tướng tài, đem quân đánh Phiên, giành lại Liễu thị cho Hoành Hủ.

Về điển tích nầy, truyện Kiều có câu:

“Ai về hỏi liễu Chương Đài

            Cành xuân đã bẻ cho người chuyền tay.”

(Kiều- Nguyễn Du).

Trăng thề vẫn đó chi chi

            Liễu Chương đài đó nay đi đâu rồi?”

(Hoa Tiên truyện)

Xanh xanh khóm liễu Chương Đài

            Tiếc thay đã để tay ai vin cành (Quan âm)

(6) Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan, có thời báo chí Saigon gọi đùa là Sáu Lèo, là một người rất khôn ngoan, là cố vấn thân cận của tướng Kỳ. Hai người đều “cao bồi” như nhau. Khi Hội đồng Quân lực họp, buộc ông Kỳ đứng chung liên danh (liên danh 9) với ông Thiệu, báo chí cho rằng vì không có ông Loan bên cạnh (giám đốc nha An Ninh Quân Đội, tổng giám đốc CSCA) không phải là thành phần Hội đồng Quân lực nên không được họp, ông Kỳ chịu đứng sau ông Thiệu làm phó tổng thống. Sau đó, trong biến cố tết Mậu Thân, ông Loan bị thương “bay đầu gối” (như người ta bàn tán), ông Loan rời khỏi chính quyền. Đời ông Kỳ cũng đi xuống từ đó. Người ta từng nói ông Loan là cái đầu của ông Kỳ. Ở Mỹ, trước khi qua đời, ông Loan cũng như ông Kỳ, người ta không thấy hai ông nầy gặp nhau và tuyên bố gì.

(7) Trích hồi ký của ông Nguyễn Hữu Hanh: “Tháng 11/1991 tôi bay về Sài Gòn và gặp Thủ tướng Võ Văn Kiệt đúng vào ngày cuối cùng trước khi ông đi Singapore và tôi quay trở về Mỹ.

Tôi trình bày những khó khăn kinh tế tài chánh của đất nước cho ông rất lâu, trong lúc hai phụ tá của ông Kiệt ngồi ghi chép. Ông nói với tôi là ông rất có ấn tượng về những gì tôi trình bày, và ông ngồi nghe rất chăm chú. Khi đến lúc ông phải đi để gặp Tổng bí thư Đỗ Mười lúc ấy đang ngồi chờ ông ở căn nhà kế cận hơn 45 phút, tôi chào từ giã nhưng ra tới cửa, ông nắm tay tôi thật chặt không muốn để tôi đi. Ông khẩn khoản yêu cầu tôi trở về lại để giúp đỡ, rõ ràng là ông rất quan tâm tới điều tôi trình bày và những giải pháp tôi đề nghị. Tôi nói với ông là tôi không thể quay về nhiều lần để giúp, bởi vì có một số các đầu nóng chống cộng bên Mỹ chắc chắn sẽ không chịu hiểu lòng muốn giúp đỡ nhân dân của tôi, và chắc chắn sẽ làm hại tôi. Ông bèn đề nghị là nếu tôi không về Việt Nam để giúp ông, thì ông mong rằng bất cứ khi nào ông ra nước ngoài, ông sẽ báo tôi biết và tôi tới gặp ông để thảo luận những vấn đề cùng ông và những người phụ tá. Tôi nói rằng như vậy thì dễ bị người ta nhìn thấy quá nên tôi chỉ muốn là có dịp

thỉnh thoảng về nước để nghiên cứu các vấn đề kinh tế tài chánh của đất nước và vạch chương trình phát triển kinh tế, nhằm giúp đỡ nhân dân Việt Nam vốn đã chịu quá nhiều đau khổ cơ cực.

Nhưng khi tôi trở về lần thứ hai vào tháng 4/1992 tôi nhận thấy vị Thủ tướng lạnh nhạt, thái độ hoàn toàn thay đổi. Tôi chán nản, nên tôi nói với linh mục Phan Khắc Từ là tôi sẽ không trở về nữa. Tôi hiểu rằng trong thời gian vừa qua, khi Thủ tướng Kiệt trao đổi về chuyến viếng thăm của tôi với Nguyễn Xuân Oánh, thì Oánh với bao nhiêu nỗi ganh tức chồng chất trước kia, đã hủy hoại tiếng tăm của tôi với Thủ tướng Kiệt. Vì ganh ghét với những chức vụ tôi ở World Bank và IMF cao hơn chức vụ cuả Oánh ở IMF, vì ganh ghét với sự nghiệp ở Ngân hàng Trung ương Việt Nam lâu dài và thành công của tôi, so với sự nghiệp ngắn ngủi và thất bại của anh ta, sự dính líu của anh ta trong vụ tôi đưa Lederer ra toà v.v…, Oánh đã chôn vùi tên tuổi tôi với Thủ tướng Kiệt. Nếu Thủ tướng Võ Văn Kiệt thẩm tra lại những lời vu cáo này và biết được sự thật thì tôi đã có thể làm được rất nhiều để giúp đất nước và nhân dân, nhiều hơn những gì tôi đã làm giữa các năm 91 tới 94. Và tất cả những điều này bằng chi phí của chính tôi, không chút cầu mong đền bù từ phía chính phủ hay một cơ quan quốc tế nào: tôi chỉ muốn phục vụ Tổ Quốc và Nhân Dân tôi. Thế thôi, không còn một lý do gì khác.

Thật là tệ hại! Đôi khi một hình dong chải chuốt với một cái lưỡi rắn và một trái tim hổ rừng có thể gây rất nhiều tai hại cho rất nhiều người.

Nhưng linh mục Từ cứ thuyết phục tôi về nghĩa vụ đối với đất nước và khẩn khoản yêu cầu tôi trở lại Sài Gòn, và tôi đã về thêm hai lần nữa trong năm 93 và 94. Từ năm 91 tới năm 94 tôi đã viết rất nhiều bài viết về các vấn đề kinh tế tài chánh Việt Nam và những phương án giải quyết mà tôi xuất bản ở Paris và luôn luôn gởi một bản sao cho Thủ tướng Kiệt qua linh mục Từ. Trong chuyến đi cuối cùng năm 94, tôi trao cho Thủ tướng Kiệt, phó Thủ

tướng Phan Văn Khải, các Bộ trưởng có liên quan và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, một chương trình phát triển đặc biệt cho Việt Nam, trong đó tôi gói gọn những chương trình đặc điểm lúc đó đang giúp sự phát triển các quốc gia láng giềng, cũng như các nước khác đang phát triển rất nhanh trên thế giới; tôi đã làm việc này sau hai chuyến qua Paris và New York để nghiên cứu, tại đó tôi đã trao đổi rất nhiều với các chuyên gia đã làm việc tại những quốc gia này và với các ngân hàng đã tài trợ cho những biện pháp nói trên.

Nhưng tôi vẫn không thấy có phản ứng thuận lợi từ các nhà chức trách Hà Nội và tôi nhận thấy bầu không khí lúc đó ở nước nhà không thích hợp cho việc thực hiện chương trình phát triển của

tôi. Tôi rất buồn khi thấy sự hy sinh và lòng cố gắng cuả tôi không đem lại được những kết quả tôi mong muốn cho dân tôi, nên tôi đành bỏ cuộc nữa đường, không muốn tiếp tục nữa.

Ngày nay tôi vẫn không biết chính quyền đã sử dụng những điều tôi đề nghị được bao nhiêu, và chương trình của tôi đã giúp đỡ được bao nhiêu cho nhân dân tôi, người dân Việt.

(8) Có lần tôi nói với vị trú trì chùa LS thành phố tôi ở là nên tiếp tục công việc của đại đức Thích Trí Đăng, trong chùa không có “xin xăm”. Tuy đó ít lâu, tôi lại thấy phật tử nam nữ lên chùa xin xăm. Không có in xăm thì Phật tử ít lui tới. Có phải có xin xăm là vì… thùng phước sương?

(9) Ba Người Khác của Tô Hoài, viết về sự tàn ác của Cải cách Ruộng đất ở Bắc Kỳ. Bối, Đình, Cự là những nhân vật chính

(10) Khi Chế Mân dâng đất châu Ô và châu Rí để làm lễ cưới Huyền Trân Công chúa, dân Chàm ở Ái Tử di cư về phương nam. Họ cũng thờ Phật, có tượng Phật nhưng tượng nặng không mang đi được, bèn chôn xuống cát. Mùa hè, khi gió Nam thổi mạnh, cát bay, tượng Phật trồi (lồi) lên. Dân làng Nhan Biều thấy tượng Phật, đào lên, lập chùa thờ, nên chùa có tên nôm na là “Chùa Phật Lồi”.

(11)  Phụ lục 1

Các vị La Hán chùa Tây Phương

Huy Cận

Các vị La Hán chùa Tây Phương
Tôi đến thăm về lòng vấn vương.
Há chẳng phải đây là xứ Phật,
Mà sao ai nấy mặt đau thương?

Đây vị xương trần chân với tay
Có chi thiêu đốt tấm thân gầy
Trầm ngâm đau khổ sâu vòm mắt

Tự bấy ngồi y cho đến nay.

Có vị mắt giương, mày nhíu xệch
Trán như nổi sóng biển luân hồi
Môi cong chua chát, tâm hồn héo
Gân vặn bàn tay mạch máu sôi.

Có vị chân tay co xếp lại
Tròn xoe từa thể chiếc thai non
Nhưng đôi tai rộng dài ngang gối
Cả cuộc đời nghe đủ chuyện buồn….

Các vị ngồi đây trong lặng yên
Mà nghe giông bão nổ trăm miền
Như từ vực thẳm đời nhân loại
Bóng tối đùn ra trận gió đen.

Mỗi người một vẻ, mặt con người
Cuồn cuộn đau thương cháy dưới trời
Cuộc họp lạ lùng trăm vật vã
Tượng không khóc cũng đổ mồ hôi.

Mặt cúi nghiêng, mặt ngoảnh sau

Quay theo tám hướng hỏi trời sâu

Một câu hỏi lớn. Không lời đáp

Cho đến bây giờ mặt vẫn chau.

 

một lần về thủ đô – trang 60

Có thực trên đường tu đến Phật
Trần gian tìm cởi áo trầm luân
Bấy nhiêu quằn quại run lần chót
Các vị đau theo lòng chúng nhân?

Nào đâu, bác thợ cả xưa đâu?
Sống lại cho tôi hỏi một câu:
Bác tạc bấy nhiêu hình khô hạnh
Thật chăng chuyện Phật kể cho nhau?

Hay bấy nhiêu hồn trong gió bão
Bấy nhiêu tâm sự, bấy nhiêu đời
Là cha ông đó bằng xương máu
Đã khổ, không yên cả đứng ngồi.

Cha ông năm tháng đè lưng nặng

Những bạn đương thời của Nguyễn Du
Nung nấu tâm can vò võ trán
Đau đời có cứu được đời đâu.

Đứt ruột cha ông trong cái thuở
Cuộc sống giậm chân hoài một chỗ
Bao nhiêu hi vọng thúc bên sườn
Héo tựa mầm non thiếu ánh dương.

Hoàng hôn thế kỷ phủ bao la
Sờ soạng, cha ông tìm lối ra
Có phải thế mà trên mặt tượng
Nửa như khói ám, nửa sương tà.

Các vị La Hán chùa Tây Phương!
Hôm nay xã hội đã lên đường
Tôi nhìn mặt tượng dường tươi lại
Xua bóng hoàng hôn, tản khói sương.

Cha ông yêu mến thời xưa cũ
Trần trụi đau thương bỗng hoá gần!
Những bước mất đi trong thớ gỗ
Về đây tuơi vạn dặm đường xuân

27-12-1960

(12) Ông Du Tử Lê là đại úy ở cục Tâm Lý chiến, Tổng cục Chiến tranh Chính trị. Có lần người ta thấy ông ngồi uống càphê ở La Pagode, ngậm ống vố như các văn hào Pháp, nói chuyện làm thơ gởi cho người yêu. Không rõ khi ông làm bài thơ nầy, ông có nhớ và tiếc cảnh ông sống ở Saigon trước 1975 hay không?!

Ông trung tá Phán, người họa bài thơ của ông Lê Du Tử thì ngược lại, chỉ nhớ những chiến trường mà Quân đội VNCH đã chiến đấu anh dũng.

Có phải đây là hai con người, hai tâm trạng và khí phách khác nhau?! Chỉ có những người chiến đấu hiên ngang mới làm được bài thơ hào khí như vầy! Một bên là tiếng kêu thương của con chim sẻ, một bên là tiếng đập cánh của con chim đại bàng!

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

 

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

đời lưu vong không cả một ngôi mồ

vùi đất lạ thịt xương e khó rã

hồn không đi, sao trở lại quê nhà

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi

bên kia biển là quê hương tôi đó

rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

và nhớ đừng vội vuốt mắt cho tôi

cho tôi hướng vọng quê tôi lần cuối

biết đâu chừng xác tôi chẳng đến nơi

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

đừng ngập ngừng vì ái ngại cho tôi

những năm trước bao người ngon miệng cá

thì sá gì thêm một xác cong queo

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

cho tôi về gặp lại các con tôi

 

một lần về thủ đô – trang 62

cho tôi về nhìn thấy lệ chúng rơi

từ những mắt đã buồn hơn bóng tối

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

và trên đường hãy nhớ hát quốc ca

ôi lâu quá không còn ai hát nữa

(bài hát giờ cũng như một hồn ma)

khi tôi chết nỗi buồn kia cũng hết

đời lưu vong tận huyệt với linh hồn.

 

Cựu trung tá Nguyễn Văn Phán họa lại:

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển

Đưa tôi về Lao Bảo, Khe Sanh

Để đêm nghe vang dội khúc quân hành

Ôi! Lính chiến một thời kiêu hãnh quá.

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển

Đưa tôi về Ben-Hét, Đắc-Tô

Nơi bạn bè tôi, xây mộng sông hồ

Nguyện trấn giữ dãy Trường Sơn yêu quý.

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển

Đưa tôi về Bình Giả, Chiến Khu Đ

Cho hồn tôi siêu thoát với lời thề

Thân chiến sĩ, nguyện xin đền nợ nước.

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển

Đưa tôi về Cái Nước, Đầm Dơi

Đêm U Minh, nghe tiếng thét vang trời

Mừng chiến thắng để dâng về tổ quốc.

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển

Trả tôi về với dân tộc Việt Nam

Gói thân tôi ba sọc đỏ màu vàng

Xin liệm kín với hồn thiêng sông núi.

(13) “Tìm về Dân tộc” Lý Chánh Trung.

“Tóm lại, như nhà cách mạng Pháp Sieyès đã viết: “Dân tộc có trước tất cả và sẽ là nguồn gốc của tất cả”. Tất cả những gì

chúng ta có, đều thuộc về dân tộc và khi cần, phải trả lại cho dân tộc. Để cho dân tộc trường tồn, để con cháu chúng ta tiếp tục được tự xưng và được gọi là người Việt Nam.”

Phụ lục 2

THẬP BÁT LA-HÁN

 

 

 

 

 

 

Thập bát La-hán là căn cứ vào sách Pháp trụ ký, từ mười sáu vị La-hán diễn biến thành. Mười sáu vị La-hán mặc dù có danh tánh rõ ràng trong kinh điển nhưng thường người ta không nêu ra; còn về hai vị được thêm vào thì mỗi người lại đưa ra mỗi ý kiến, chủ trương khác nhau, khiến mọi người không biết nên giữ ý nào bỏ ý nào.

Thánh tích có liên quan đến cuộc đời trụ thế, hoằng pháp của mười sáu vị La-hán thì bị thất lạc lung tung rất khó thu thập lại; còn theo truyền thuyết dân gian thì không đáng tin lắm. Cho nên, để viết quyển sách này, chúng tôi phải lặn lội khắp “thâm sơn cùng cốc” tìm kiếm tư liệu. Song thiết nghĩ, kết quả thu được chắc chắn chưa làm hài lòng độc giả lắm.

Không thể không thanh minh rằng tôi không phải là người lập truyện thay các vị La-hán, mà tôi chỉ viết truyện La-hán cho thiếu nhi. Tìm sử liệu khảo cứu chẳng phải sở trường nên tôi ít hứng thú. Ðiều tôi quan tâm ở đây là chỗ thần thông biến hóa, muôn màu muôn vẻ của các ngài.

Tuy nhiên, tôi mong sao cuốn sách này xuất bản có thể gây thêm sự chú ý của nhiều người hữu tâm. Rất vui mừng đón nhận những ai chỉ ra chỗ thiếu sót hoặc cung cấp thêm tư liệu, để quyển sách này được hoàn bị hơn trong lần tái bản.

 Cao Hùng 30- 4. PL 2527.

                                                                        Lâm Thế Mẫn.

 

  1. A-la-hán là gì?

Trong các tự viện Phật giáo ở Trung Quốc, rất nhiều nơi tôn thờ tượng mười sáu hoặc mười tám vị La-hán. Tướng mạo những vị này kỳ lạ khác thường, chẳng ai giống ai: có vị bụng to, có vị gầy như que củi, có vị lông mày dài đến tận đầu gối, có vị mặt đầy vết nhăn, có vị tai to mũi nhọn, có vị môi dày răng ít, có vị phong thái đoan trang, có vị ngây ngây dại dại, có vị cầm chuỗi hạt, có vị cầm gậy trúc…. Nhưng nói chung, hình dáng các ngài đều mang đậm sắc thái Ấn Ðộ, không giống những người tu ở Trung Quốc. A-la-hán gọi tắt là La-hán, nghĩa là “Bậc đáng được tôn kính”, hay còn gọi là “Tôn giả” ý nói bậc đầy đủ cả tánh đức và trí tuệ. Trong kinh, La-hán có ba nghĩa:

  1. Sát tặc: là bậc đã diệt trừ sạch bọn giặc phiền não tham, sân, si, mạn, nghi, phẫn hận, tật đố, thân kiến, biên kiến, hư ngụy, vị kỷ, hẹp hòi … làm phương hại đến sự thanh tịnh an lạc của nội tâm và gây cản trở cho chúng ta tu hành.
  2. Ứng cúng: ý nói A-la-hán là bậc đáng được mọi người tôn kính cúng dường. Vì sao? Vì các ngài thật chân tu, phạm hạnh, thành tựu vô lượng công đức, phước huệ trang nghiêm, xứng đáng làm bậc mô phạm cho những hành xử và ngôn hạnh của chúng ta.
  3. Bất sanh: qua thời gian tu khổ hạnh, bậc A-la-hán đã tận trừ tất cả phiền não lậu hoặc, chấm dứt gây tạo ác nghiệp và không còn chuyển kiếp đầu thai thọ khổ luân hồi.
  1. Ảnh hưởng của A-la-hán đối với Trung Quốc:

Từ khi Phật giáo du nhập vào Trung Quốc, những bậc thánh tăng La-hán đạo hạnh cũng dần dần đi vào tín ngưỡng dân gian, sống gần gũi với nhân dân. Lúc đầu, mọi người chỉ thấy hiếu kỳ và yêu thích hình tướng kỳ lạ khác thường của các ngài. Nhưng sau đó, thấy khả năng phi hành biến hóa pháp lực vô biên thì ca ngợi tán thán tỏ lòng ngưỡng mộ. Cuối cùng, cảm được tấm lòng Từ bi, vị tha, cứu nhân độ thế của các ngài thì tỏ niềm cung kính. Do đó, A-la-hán mặc nhiên được nhân dân tiếp nhận. Nhất là trong

hội họa, điêu khắc, thơ ca, tiểu thuyết Phật giáo đều dùng La-hán làm nhân vật và đề tài cho rất nhiều câu chuyện. Ðến nay, Trung Quốc còn có không ít núi non, thực vật, thức ăn, vật dụng… vẫn lấy La-hán để đặt tên như: núi có động La-hán; cây có tùng La-hán; ẩm thực có rau La-hán, cơm chay La-hán; trang phục có áo La-hán, giày La-hán.

  1. Xuất xứ mười sáu vị La-hán:

Y cứ theo kinh điển ghi chép thì ban đầu chỉ có mười sáu vị La-hán. Ngày nay, chúng ta thường nói mười tám vị La-hán là do sau khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc được thêm vào hai vị. Ðiểm này chúng tôi sẽ bàn lại ở phần sau.

Mười sáu vị La-hán xuất hiện sớm nhất trong Pháp trụ ký, quyển kinh thư do vị đại A-la-hán Nan-đề-mật-đa-la (Hán dịch là Khánh Hữu) nói tại Srilanka. Dưới đây, tôi xin nói sơ lược về nội dung Pháp trụ ký:

Sau khi đức Phật Niết-bàn tám trăm năm, tại nước Sư Tử (nay là thủ đô của Srilanka) có một vị La-hán tên Nan-đề-mật-đa-la đạo hạnh trang nghiêm, biện tài vô ngại, có thể lý giải tất cả các nghi vấn để mọi người được an vui. Vì thế, nhân dân trong nước đó rất tôn kính ngài.

Nhưng một hôm, ngài nói với mọi người:

– Này các vị! Trách nhiệm hoằng dương Phật pháp ở thế gian của tôi đã tạm xong, không bao lâu nữa tôi sẽ xa các vị. Ai có thắc mắc gì thì cứ hỏi, tôi sẽ giải đáp cho.

Nghe vậy, ai cũng thương tiếc, tủi khóc sụt sùi. Thấy thế, ngài an ủi:

– Này các vị! Vạn sự vạn vật trên đời có sanh ắt có diệt, có hợp ắt có tan, chẳng vật gì thường trụ cả, xin chớ quá bi thương. Chỉ cần các vị nương theo Phật pháp tu hành thì tự nhiên sẽ có kết quả. Tôi có sống trên đời này hay không cũng có gì khác đâu!

Nghe ngài nói, lúc này họ mới chịu nín khóc, hỏi:

– Thưa tôn giả! Ngài sắp xa chúng con rồi, không biết còn có vị La-hán nào tiếp tục lưu lại thế gian không?

– À, đương nhiên là có! Cách đây tám trăm năm, trước lúc đức Thế Tôn sắp niết-bàn, Ngài đã đem chánh pháp vi diệu phó chúc cho mười sáu vị La-hán cùng với đệ tử của họ, bảo họ tiếp tục lưu lại nhân gian, dốc sức hộ trì hoằng dương để Phật pháp được trường tồn mãi trên thế gian.

– Thưa tôn giả! Ðó là mười sáu vị La-hán nào? – Mọi người thúc giục hỏi.

Thấy thế, Nan-đề-mật-đa-la nêu rõ danh tánh và trú xứ của mười sáu vị La-hán. Ngài nói:

1. Tân-nộ-la-bạt-la-nọa-xà (còn gọi là Tân-nầu-lô-phả-la-đọa), vị Tôn giả này trú tại Tây-cù-đà-ni Châu.

2. Ca-nặc-ca-phạt-sa, vị Tôn giả này trú tại nước Ca-thấp-di-la.

3. Ca-nặc-ca-ly-nọa-xà, vị Tôn giả này trú tại Ðông Thắng Thần Châu.

4. Tô-tần-đà, vị Tôn giả này trú tại Bắc-câu-lô Châu.

5. Nặc-cự-la, vị Tôn giả này trú tại Nam Thiệm-bộ Châu.

6. Bạt-đà-la, vị Tôn giả này trú tại Ðam-một-la Châu.

7. Ca-lý-ca, vị Tôn giả này trú tại Tăng-già-trà Châu.

8. Phạt-xà-la-phất-đa-la, vị Tôn giả này trú tại Bát-thích-noa Châu.

9. Thú-bát-ca, vị Tôn giả này trú tại núi Hương Túy

10. Bán-thác-ca, vị Tôn giả này trú ở cõi trời Ðao-lợi.

11. La-hỗ-la, vị Tôn giả này trú tại Tất-lợi-dương-cù Châu.

12. Na-già-tê-na, vị Tôn giả này trú tại núi Bán-độ-ba.

13. Nhân-yết-đà, vị Tôn giả này trú tại núi Quảng Hiếp.

14. Phạt-na-bà-tư, vị Tôn giả này trú tại núi Khả Trụ.

15. A-thị-đa, vị Tôn giả này trú tại Thứu Phong.

16. Chú-trà-bán-thác-ca, vị Tôn giả này trú tại núi Trì Trục.

Có người hiếu kỳ hỏi:

– Thưa tôn giả! Nhưng sao tám trăm năm nay không ai thấy hình dáng các Ngài?

– Mười sáu vị đại A-la-hán này cùng chư đệ tử thường tham

dự pháp hội khắp các tự viện. Có điều, khi các ngài quang lâm, toàn bộ cách ăn mặc giống hệt như người thường nên hàng phàm phu mắt thịt chúng ta không biết các ngài là đại A-la-hán đó thôi. – Nan-đề-mật-đa-la đáp.

– Thưa ngài, đến khi nào thì mười sáu vị La-hán ấy mới xa thế giới của chúng con?-  Mọi người khẩn thiết hỏi.

– Mười sáu vị La-hán phải ở mãi đến khi nào thọ mạng con người sống đến bảy mươi ngàn tuổi, khi Phật pháp đã hưng thịnh ở nhân gian thì các Ngài mới ra đi. Lúc ấy, mười sáu vị La-hán sẽ vân tập lại một chỗ, vận thần thông dùng kim ngân, trân châu, lưu ly, pha lê, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách các món bảo vật của thế gian kiến tạo một bảo tháp, rồi thỉnh Xá-lợi của Phật an trí vào bên trong. Sau đó, các ngài cùng chúng đệ tử bay lên hư không nhiễu quanh tháp, xưng tán Như lai, rải các thứ hương thơm, hoa báu cúng dường rồi thưa với đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Nhiệm vụ Ngài giao, chúng con đã hoàn thành viên mãn. Bây giờ, chúng con muốn chuyển sanh đến quốc độ khác để hoằng dương Phật pháp”. Nói xong, các ngài dùng chơn hỏa tam muội thiêu thân giữa hư không, nhục thân cháy không còn mảy may. – Nan-đề-mật-đa-la tận tình trình bày để mọi người hiểu rõ việc lưu lại thế gian của mười sáu vị La-hán.

  1. Nguyên nhân đưa đến mười tám vị La-hán:

Sau khi Pháp trụ ký được pháp sư Huyền Trang dịch ra Hán văn, mười sáu vị La-hán được đông đảo Phật giáo đồ Trung Quốc hân hoan đón nhận, ca tụng nồng nhiệt. Nhưng trong kinh điển chỉ có mười sáu vị La-hán, không có danh xưng Thập bát La-hán. Thế thì xuất hiện thêm hai vị nữa là do đâu? Tên các ngài là gì? Lai lịch thế nào? Hành tung ra sao? Vì sao các ngài được Phật giáo đồ đời sau chọn đưa vào hàng mười tám vị La-hán?

Thật ra, mười tám vị La-hán là do từ mười sáu vị diễn biến phát triển, dần dần thêm vào thành mười tám vị. Nguyên nhân chủ yếu là từ khi bắt đầu có hội họa, tiếp đến là điêu khắc, sau cùng là

văn học.

Vào thời Ngũ đại, cách đây khoảng hơn một ngàn năm, tại Trung Quốc có họa sĩ Trương Huyền vẽ tượng mười tám vị La-hán. Ðây là tượng mười tám vị La-hán sớm nhất mà chúng ta được biết.

Ðến triều nhà Tống, đại văn hào Tô Ðông Pha phát hiện những bức tượng đó ở đất Ðam Nhĩ (tức Nam Hải sau này) nên cao hứng làm mười tám bài tán ca ngợi (Tán là một thể văn cổ sau truyện ký, dùng văn tự ngắn gọn để ca tụng hay phê bình thiên nhiên và con người), nhưng Tô Ðông Pha không ghi rõ tên từng vị. Do đó, chúng ta chẳng biết hai vị La-hán mười bảy và mười tám trong bức họa chung qui là ai.

Sau đó không lâu, Hòa thượng Quán Hưu cũng vẽ tượng mười tám vị La-hán. Khi Tô Ðông Pha từ Nam Hải trở về, lúc đi ngang qua chùa Bảo Lâm ở Thanh Hiệp thì nhìn thấy bức họa này. Nhân tiện, ông lại viết tiếp mười tám bài tán nữa. Ðiểm khác nhau giữa lần này và lần trước là ở trước mỗi bài tán, Tô Ðông Pha đều chú thích rõ ràng tên từng vị. Ông cho rằng vị thứ mười bảy là Tôn giả Nan-đề-mật-đa-la, vị thứ mười tám là Tôn giả Tân-đầu-lô. Ở đây, Tô Ðông Pha mắc phải một sai lầm không nhỏ, đó là ông ta không biết “Tân-đầu-lô” chính là tên gọi tắt của “Tân-độ-la-bạt-la-nọa-xà”, vị La-hán đầu tiên trong mười sáu vị. Như vậy hóa ra chỉ một người mà lập lại hai lần, sơ suất này không thể chấp nhận được.

Còn tượng mười tám vị La-hán của Trương Huyền và Hòa thượng Quán Hưu vẽ thì vị thứ mười bảy được thêm vào là Tôn giả Nan-đề-mật-đa-la, người nói Pháp trụ ký giới thiệu danh tánh, sự tích mười sáu vị La-hán; vị thứ mười tám là pháp sư Huyền Trang, vị cao Tăng đời Ðường sang Ấn Ðộ thỉnh kinh và là người phiên dịch Pháp trụ ký, làm như vậy cũng không có gì là vô lý quá đáng. Sai là ở chỗ Tô Ðông Pha đã bỏ ngài Huyền Trang mà trùng lập lại Tân Ðộ La Bạt La Ðọa.

Ðến đời Tống niên hiệu Hàm Thuần năm thứ năm (CN 1269), ngài Chí Bàn viết quyển Phật Tổ Thống Ký, ngài không tán

thành việc đưa Tôn giả Nan-đề-mật-đa-la vào hàng mười tám vị

La-hán, vì Tôn giả là người giới thiệu mười sáu vị La-hán, thời gian cách nhau giữa các ngài đến tám trăm năm, thì làm sao có thể kết hợp ngài với các nhân vật trong tranh được. Hơn nữa lại còn thêm vào Tôn giả Tân-đầu-lô tạo nên sự trùng lập càng làm mất đi ý nghĩa. Do đó, ngài đề xuất nên đưa hai vị Tôn giả Ca-diếp và Quân-đồ-bát-thán vào hàng mười tám vị La-hán. Ngài Ca-diếp là một trong mười vị đệ tử lớn của Phật, và ngài Quân-đồ-bát-thán cũng là vị đệ tử được đức Phật rất quý trọng. Lúc tuổi xế chiều, đức Phật từng dặn:

– Ta nay đã tám mươi tuổi rồi, sống cũng không còn bao lâu. Ca-diếp, Quân-đồ-bát-thán, Tân-đầu-lô và La-hầu-la, bốn vị hành đạo giáo hóa sau ta nên lưu lại ở đời một thời gian nữa, thay ta hoằng dương Phật pháp hóa độ chúng sanh.

Ðến khi mười tám vị La-hán được truyền vào Trung Hoa, Tây Tạng thì ngoài mười sáu vị La-hán vốn có, người ta còn thêm vào cư sĩ Pháp Tăng (Ðạt-ma-đa-la) và Bố Ðại hòa thượng. Pháp Tăng là người núi Hạ Lan tỉnh Cam Túc. Thường ngày, ngài tôn thờ mười sáu vị La-hán và luôn được cảm ứng, ngày nào cũng thấy Phật giữa mây phóng quang. Hình vẽ của ngài là lưng mang hòm kinh, bên cạnh có con hổ nằm. Bố Ðại Hòa thượng tương truyền là hóa thân của Bồ-tát Di Lặc.

Trong Bí điện châu lâm tục biên, quyển 4 cũng có tượng mười tám vị La-hán. Vào đời nhà Thanh, vua Cao Tông từng viết lời ca ngợi vào bức họa, nhưng vua thay Tôn giả Ca-diếp bằng Hàng Long La-hán và Tôn giả Di Lặc bằng Phục Hổ La-hán, làm như vậy khác xa với những ý kiến ở phần trước. Mặt khác, việc vua Cao Tông đưa hai vị Hàng Long, Phục Hổ thay ngài Ca-diếp và ngài Di Lặc cũng có người không tán thành vì long và hổ là hai con vật tượng trưng của Ðạo giáo, không quan hệ gì mấy đến Phật giáo.

Tổng hợp những ý kiến trên, ta thấy sự xuất hiện của mười tám vị La-hán hoàn toàn không có căn cứ trong kinh điển, chỉ do các họa sĩ ngoài mười sáu vị La-hán lại vẽ thêm vào hai vị và được

quần chúng tiếp nhận rộng rãi mà thôi. Từ đó, mỗi khi nhắc đến

La-hán là mọi người đều nói mười tám vị La-hán, không ai nói mười sáu vị La-hán. Còn về hai vị được thêm vào là hai vị nào thì do mỗi người mỗi ý kiến nên không ai tìm tòi nghiên cứu làm gì.

  1. Tượng thập bát La-hán nổi tiếng xưa nay

Họa sĩ các triều đại vẽ tượng mười tám vị La-hán nổi tiếng có: Tả Lễ đời Hậu Ðường; Quán Hưu đời Tiền Thục; Lý Công Lân, Cù Nhữ Văn, Cổ Sư Cổ, Tăng Hải Luân đời Tống; Triệu Mạnh Phủ, Phương Phương Hồ đời Nguyên; Cừu Anh, Ngô Bân, Ðinh Vân Bằng, Tiền Cống, Lý Lân, Trần Phạm v.v… đời Minh.

Về phương diện điêu khắc, sớm nhất có tượng mười sáu vị La-hán tại động Yên Hà ở Hàng Châu do Ngô Diên Sảng nước Ngô Việt tạc, gồm trong vách phải hai vị, vách trái mười vị, phía trước bốn vị. Ngô Diên Sảng là em vợ của Tiền Nguyên Quán – vua nước Ngô Việt. Vào triều nhà Tống, cũng tại động này, ông ta đã tạc thêm hai vị: một là Bố Ðại Hòa thượng và một vị nữa không rõ tên, nhưng kỹ thuật vụng về không bằng mười sáu vị La-hán trước.

Trên toàn Trung Hoa đại lục cũng có nhiều nơi có phù điêu Thập bát La-hán nổi tiếng như: chùa Linh Ẩn ở Hàng Châu, chùa Ngọc Phật ở Thượng Hải, chùa Vạn Niên trên núi Nga My ở Tứ Xuyên v.v… Trong các tự viện tại Ðài Loan cũng thường thấy như: chùa Kim Sơn ở Tân Trúc, thiền viện Linh Tuyền ở Cơ Long. Phù điêu Thập bát La-hán hai bên trong chùa Kim Sơn rất sinh động giống hệt như thật.

  1. Giai thoại về mười tám vị La-hán

Tóm lại, mười tám vị La-hán là do từ mười sáu vị diễn biến thành; hai vị được thêm vào sau thì có nhiều ý kiến bất đồng. Hơn nữa, mười sáu vị La-hán, ban đầu cũng có một số vị trong kinh điển hoàn toàn không có tư liệu nào rõ ràng để tham khảo, thậm chí có vị chỉ có tên, ngoài ra chẳng biết gì thêm. Dưới đây là những giai thoại rất sống động, thú vị về các vị La-hán được căn

cứ theo truyện ký của lịch đại các bậc cao Tăng, truyền thuyết dân

gian và ghi chép của các loại dã sử tổng hợp rồi cải biên thành. Hy vọng, nó sẽ làm vui lòng quý độc giả.

Trước tác:  Lâm Thế Mẫn.

Việt dịch: Thích Ðạo Luận.

Phụ lục 3

Buddist Meditation Center

 

Chân Nguyên Thiền Viện

20635 HWY 395 Adelanto CA 92301

thăm

các vị La-Hán

 

Nhân dịp Lễ  Khánh thành

Đại Hùng Bửu Điện

24 tháng 7 năm 2011

(24 tháng 6 năm Tân Mão)

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: