Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Lễ thọ giới của tử tù Jarvis Jay Masters – Trần Trung Đạo

1Giới thiệu: Jarvis Jay Masters, người da đen, sinh năm 1962 tại Long Beach, California, trong gia đình 7 anh chi em, con của bà Cynthia. Bà Cynthia bị bịnh nghiện ma túy nên cả bảy người con của bà bị phân chia để sống trong các nhà tạm dưỡng thuộc chương trình an sinh xã hội của chính phủ. Khi đến tuổi 17, Jarvis là một thanh niên nóng tính, hung dữ. Dù chưa chính tay giết chết ai nhưng Jarvis đã từng dùng súng để hăm dọa và đánh cướp các nhà hàng và cửa tiệm. Năm 19 tuổi, 1981, Jarvis lại vào tù San Quentin, California, sau khi bị kết án trộm cướp có võ trang. Trong nhà tù anh lại tham gia băng đảng. Năm 1985, Trung sĩ Hal Dean Burchfield bị đâm chết trên tầng hai của nhà tù San Quentin. Ba tù nhân bị bắt và bị xử về tội giết người. Javis Masters bị tố cáo là đã mài nhọn thanh sắt được dùng để đâm Trung Sĩ Hal Dean Burchfield và bị kết án tử hình. Trong tù, Jarvis tìm hiểu về tôn giáo và cảm thấy đạo Phật đã đem lại cho anh sự an lạc mà từ lúc sinh ra anh chưa được hưởng. Năm 1989 (có tài liệu cho rằng năm 1991), Jarvis phát nguyện làm môt Phật tử theo truyền thống Tây Tạng từ Đại Sư Chagdud Tulku ngay tại nhà tù. Dưới đây là tóm tắt lời kể ngày thọ giới của anh.

———————————————————-

Khi tôi có cơ hội để nhận thọ giới từ một ngài Lạt Ma Phật Giáo Tây Tạng, cảm giác đầu tiên tôi nhớ, là mình không xứng đáng. Và rồi  lo sợ khi nghĩ đến việc một buổi lễ như thế lại được thực hiện tại nhà tù tiểu bang bạo động như San Quentin này.

Tôi chỉ là người mới bắt đầu tập sống trong nếp sống Phật giáo. Tôi giữ kín việc thực hành thiền. Tôi không nói điều đó với ai, bạn tù hay cả các nhân viên an ninh của trại tù cũng thế.

Sau tám năm tù, tôi vẫn cảm nhận một nỗi lo sợ thật sự khi gọi chính mình là một Phật tử và việc các bạn tù thấy tôi đang tỉnh tọa, cầu nguyện hay thiền định. Đặc biệt, tôi cũng rất sợ bị người khác thấy tôi nhận lễ thọ giới.

Trong lúc tâm hồn tôi vui mừng chào đón cơ hội, những tiếng nói khác trong tôi lại đặt ra câu hỏi. Đây có thể là chặng đường khác tôi sẽ phải đi qua?

Có thể trong tương lai tôi lại phản bội chính tôi và ý nghĩa thiêng liêng của lễ thọ giới?

Có phải tôi đã là một Phật tử? Những điều tôi phát nguyện, thực sư, có buộc tôi phải hy sinh cuộc đời mình? Làm thế nào tôi lại có thể chống lại tất cả những bạo động của nhà tù?

Trong tù, không ai tin rằng việc cãi đạo là thật. Hầu hết tù nhân đều nghĩ rằng ai đón nhận một niềm tin tôn giáo bất ngờ chẳng khác gì tham gia một trò chơi hay lừa dối để được ra khỏi tù sớm.

Tôi dành gần một năm cố gắng vượt qua những hoài nghi đó, từng điều một,  qua việc thực tập và qua những bài giảng của ngài Chagdud Tulku, vị Lạt Ma tôi sẽ nhận lễ. Dù sao, tất cả lần nữa xuất hiện trong buổi lễ. Đang ngồi dưới nền xà lim cố gắng tỉnh tâm, tôi lại sợ. Nhà tù dội lại tiếng nói của hàng trăm tù nhân, cảm giác khó chịu và xung đột hiện ra cùng một lúc.

Tôi ngồi bất động, không ngớt niệm hồng danh đức Quan Thế Âm Bồ Tát. “Quan Thế Âm Bồ Tát. Xin hãy nhìn thấy con, xin giúp cho con vượt qua những chướng ngại và cho ước vọng của con sớm thành đạt.”

Trong mỗi lần cầu nguyện tôi tìm một sức mạnh thiêng liêng giúp tôi xua đuổi những lo âu, chuẩn bị tinh thần chấp nhận một cách công khai lễ Thọ Giới của mình và để giúp tôi chào đón ngày đầu tiên tôi được sống trong tinh thần Phật giáo. Mặc dù với lời cầu nguyện này, tôi chỉ muốn giữ việc tu tập của mình trong vòng bí mật, để duy trì sự trong sạch trong tâm khi tôi thực tập thiền. Tôi chỉ muốn có thời gian thật tỉnh lặng trong đời sống tù đày của tôi.

Tôi chỉ gặp đại sư Chagdud Tulku một lần trước đó. Tôi vô cùng xúc động khi ngài bất ngờ đến nhà tù San Quentin thăm tôi. Nguyên tắc nhà tù chỉ cho phép chúng tôi trao đổi bằng điện thoại trong ngăn thăm viếng nhỏ, xuyên qua cửa sổ bằng kính. Tôi cảm nhận sự ấm áp từ tấm lòng của đại sư dù chỉ nhìn ngài thôi và tin tưởng những lời giảng của ngài. Tôi hy vọng rằng, qua những lời dặn dò cách tu hành trong nhà tù, một ngày tôi sẽ có thể công khai nhận lễ thọ giới.

Bây giờ tôi cảm thấy may mắn được ngồi trên sàn xà-lim chờ đợi cơ hội. Tôi nhớ một người nào đó đã nói với tôi từ lâu rồi: “Tất cả những gì ngươi cần là một tâm hồn thuần khiết, đó là điều cần thiết nhất. Hãy im lặng mà lắng nghe.” Đó là những gì tôi đang làm.

Buổi trưa vào ngày cử hành lễ, tôi được gọi tên. Một nhân viên an ninh còng tay và đưa tôi đến khu thăm tù. Trên đường đi, tôi tiếp tục niệm hồng danh đức Quan Thế Âm Bồ Tát cho đến khi mắt tôi bắt gặp đôi mắt của đại sư lần thứ hai trong đời tôi.

Tôi ngồi bên này cửa kính đối diện với đại sư đang ngồi phía bên kia. Bên cạnh ngài là Tsering, một học trò gần gũi với ngài, sẽ làm thông dịch cho chúng tôi. Melody, bạn và cũng là một Phật tử, cũng có mặt trong buổi lễ để mừng đón biến cố này với tôi. Chúng tôi vui mừng chào hỏi nhau trong lúc các khách thăm tù nhìn chúng tôi.

Tôi cầm điện thoại lên. Phía bên kia chị Tsering cũng đã cầm điện trên tay. Với một nụ cười dễ thương trong sáng trên mặt, chị hỏi thăm sức khoẻ tôi. Tôi đáp lại bằng nụ cười và cũng trả lời chung cho mọi người biết là tôi mạnh khỏe. Chúng tôi đều vui cười. Sau đó, chị Tsering quay sang Đại Sư để nhận lời của ngài.

Chị Tsering hỏi tôi, “Đại sư hỏi tinh thần anh có minh mẫn không”

“Thưa vâng”, tôi đáp.

Buổi thăm viếng kéo dài gần 2 tiếng đồng hồ. Sau buổi lễ, thật khó nghe từ phía đầu dây bên tôi. Quá nhiều tiếng ồn chung quanh. Các tù nhân khác cùng nói trên những điện thoại nối nhau thành một chuỗi dài, thật khó cho tôi có thể nghe tiếng của những người đang thăm viếng mình. Tự nhiên tôi thắc mắc, “”, “Chẳng lễ cũng ồn ào như thế này trong buổi lễ hay sao?” Tôi cảm thấy như vừa lấy cái nút chặn âm ra khỏi tai mình – dường như tôi cũng vừa đặt chân trở vào cánh cửa của thực tế tù đày lần nữa.

Cuối buổi thăm viếng, tôi nói chuyện với Melody, người ngồi sát cửa sổ trong suốt buổi lễ. Tôi cám ơn chị đã có mặt và nhờ chị chuyển lời cám ơn Đại Sư và Tsering về tất cả phước đức họ đã mang đến cho tôi. Tôi nói với chị, tôi đã cám ơn nhưng không nói hết lời vì nước mắt của lòng biết ơn đang dâng lên, và tôi không muốn ai thấy mình đang khóc. Melody hiểu điều đó. Chị gát điện thoại, cùng với Đại Sư và Tsering vẫy tay chào, ra đi. Tôi vẫy tay chào họ.

Khi tôi chờ để được nhân viên an ninh đưa trở về xà-lim, một tù nhân gọi qua hỏi có phải tôi đang thực hành Phật Giáo. Tôi ngừng một chút. Khi tôi sắp trả lời thì một nhân viên an ninh bước đến đứng giữa chúng tôi để lắng nghe.

Chờ khi đôi mắt ông ta nhìn đi nơi khác, tôi đáp, “Vâng tôi là một Phật tử”. “Phải chăng, tất cả chúng ta đều giống nhau, cách nầy hay cách khác, trong cuộc đời này?” Rồi tôi nhìn ông nhân viên an ninh và nói, “Cuộc sống, tôi nghĩ, có lẽ nên có một chút tinh thần Phật giáo như thế trong tất cả chúng ta”.

Ông nhân viên an ninh nhin tôi với nụ cười ngạc nhiên, rồi bước đi. Tôi cũng thấy thật lạ.

Tôi nhìn qua cánh cửa sổ nơi chiếc có ghế của Đại Sư vừa ngồi, và chợt cảm thấy một niềm tin mạnh mẻ rằng Đại Sư như vẫn còn ngồi đó. Tôi hướng đến chiếc ghế trống và cúi đầu vái ba vái.

Trần Trung Đạo

(Lược dịch lời kể của Javis Jay Master trong A Buddhist Writer on Death Row)

2

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: