Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

SAU MẬU THÂN, MỸ KHÔNG CÒN HY VỌNG – Bùi Anh Trinh

1Trích sách “Giải mã những bí ẩn của chiến tranh Việt Nam”của Bùi Anh Trinh

Thiệu luôn luôn chủ động, trầm tỉnh và lịch sự

Năm 1968, một tuần sau trận tổng tấn công, Tổng thống Thiệu xuất hiện trên đài truyền hình Hoa Kỳ qua chương trình “Face The Nation”.

Tài liệu của Đại sứ Bunker ghi nhận : “Ellsworth đã xem chương trình ấy qua đài truyền hình Quân đội Hoa kỳ : Ngoại trừ Bob Shaplan còn giữ được phong cách lịch sự, những người khác đều có thái độ hằn học khi chất vấn ông ta. 

Với nghững câu hỏi đầy ác ý kèm theo các dẫn chứng thổi phồng, dường như để buộc tội hơn là để tìm biết sự thật, họ đã tỏ ra thiếu tinh thần tự trọng, đứng đắn, trong các mối tương quan giữa người và người chứ đừng nói gì, người mà họ đang chất vấn lại là một nguyên thủ quốc gia. 

Thế nhưng bằng những dẫn chứng xác đáng, bằng Anh ngữ, Thiệu đã trả lời trôi chảy mọi vấn đề.  Ông ta luôn luôn chủ động, trầm tỉnh và lịch sự ( Stephen Young, Victory Lost, bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 190 ).

* Chú giải :  Ông Thiệu trầm tỉnh bởi vì ông ta nắm rõ tình hình và ông ta biết làm thế nào để đối phó với tình hình.  So với cuộc trả lời phỏng vấn trước đó của Tướng Westmoreland thì rõ ràng Tướng Thiệu bản lĩnh hơn.  Ông đã thuyết phục được giới báo chí bằng những lập luận có dẫn chứng và chứng minh.  Trong khi đó những câu trả lời của Westmoreland chỉ càng làm cho các phóng viên nghi ngờ thêm, cuối cùng thì họ kết luận rằng ông tướng nói láo.

Ngoài ra so với những công điện của Đại sứ Bunker trao đổi với Washington trong những ngày chiến cuộc mới nổ ra thì Bunker cũng không bình tỉnh và sáng suốt bằng Nguyễn Văn Thiệu.  Rõ ràng Tướng Thiệu bản lĩnh hơn cả Bunker, một nhân vật trầm tỉnh đến độ được báo chí quốc tế đặt cho biệt danh là “Ông già tủ lạnh”.

Năm 1968, ngày 8-2, Thượng nghị sĩ Robert Kennedy mở màn cuộc tranh cử chức tổng thống Hoa Kỳ với lời tuyên bố : “Đã đến lúc Hoa Kỳ phải đối diện với sự thật rằng một cuộc chiến thắng bằng quân sự chẳng bao giờ tìm thấy được và sẽ chẳng bao giờ xảy ra .  Cuối cùng ông kêu gọi thỏa thuận cho CSVN được tham gia chính quyền Miền Nam Việt Nam.  Đây là một đề nghị tưởng như là mưu tìm hòa bình nhưng thực chất là “bỏ rơi Nam Việt Nam”.

Năm 1968, ngày 11-2, bình luận gia của đài truyền hình CBS Hoa Kỳ là Walter Cronkite đến Việt Nam để quan sát tình hình sau trận Mậu Thân.  Khi trở lại Hoa Kỳ ông  phát biểu trên đài truyền hình rằng “Hoa kỳ đã lún sâu vào chỗ không lối thoát”“Đó là hậu quả của một cuộc chiến bi thảm… Tôi sẽ làm mọi thứ có thể làm được để chấm dứt cuộc chiến”. ( 39 năm sau Cronkite trở lại Việt Nam và được Tướng Võ Nguyên Giáp cho biết là CSVN đã thua trắng tay trong trận Mậu Thân ).

Năm 1968, ngày 13-2, qua một cuộc điện đàm, Tướng Westmoreland yêu cầu Tướng Tổng tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ là Earle Wheeler tăng quân khẩn cấp cho chiến trường Nam Việt Nam.  Wheeler đến Sài Gòn để lượng giá yêu cầu tăng quân của Westmoreland, sau đó ông trở về Hoa Kỳ và tỏ ra bi quan :

“Wheeler cho rằng trong đợt tấn công đầu tiên, cộng quân gần như đã thành công trong việc chiếm giữ hằng chục thành phố, thị trấn, điều đó có nghĩa là, hy vọng một cuộc chiến thắng bằng quân sự của phe đồng minh còn trong mong manh, xa vời” (Stephen Young, Victory Lost, bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 204 ). Tuy nhiên sau đó ông cũng chấp thuận đề nghị tăng 206.000 quân của Tướng Westmoreland.

* Chú giải : Con số 206 ngàn quân xin tăng thêm đủ chứng minh Westmoreland và Ngũ Giác Đài suy nghĩ gì vào thời đó.  Họ cho rằng CSVN chỉ mới tung ra một phần lực lượng cho cuộc chiến, trong khi đó theo ghi nhận từ trước tới nay của cơ quan tình báo chiến lược CIA cho thấy quân CSVN tại Miền Nam là 320.000.

Những số liệu thu thập được tại chiến trường trong 25 ngày đánh nhau cho thấy CSVN mới tung ra 85 ngàn quân và họ bị bỏ xác tại chiến trường mới có 40.000 quân, vậy thì còn ít nhất 200 ngàn quân chưa được tung vào cuộc chiến, chưa kể trường hợp Hà Nội xua quân từ Miền Bắc tràn vào Nam.

Trong khi đó sự thực CSVN đã tung hết quân mà họ có, và đã bị tiêu diệt 40 ngàn người; số còn lại đã bỏ ngũ trở về quê sinh sống, chỉ riêng tại Quân khu 9 (Miền Tây) con số bỏ ngũ là 12 ngàn ( Quân Khu 9, 30 Năm Kháng Chiến;  Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ).

Theo tài liệu báo cáo của Bộ Tổng tham mưu QLVNCH do Nha quân sử phổ biến thì trong tháng 2 năm 1968, nghĩa là sau 30 ngày nổ ra trận chiến, quân CSVN bỏ xác tại các chiến trường là 41.181 người;  bị bắt làm tù binh là 7.391 người.  Thống kê này không tính số xác được mang đi hoặc bị thương.  Và trong tháng 3 năm 1968 thì quân CSVN bỏ xác tại chỗ là 17.192; bị bắt làm tù binh 2.070 người.  Tổng cộng nội trong 2 tháng đã có 60.000 người chết và 9.400 người bị bắt

Trong khi đó cơ quan tình báo cao cấp nhất của quân đội VNCH là  Phòng 2 Bộ Tổng tham mưu QL/VNCH lại ghi nhận trước tết quân CSVN được ước tính khoảng 323.500 người (Tài liệu của Đại tá Hoàng Ngọc Lung, Trưởng phòng tình báo Bộ TTM/ VNCH ).  Như vậy theo như cơ quan tình báo cùa VNCH và HK thì sau tháng 2 năm 1968 quân CSVN còn 283.500 người.  Gồm 97 tiểu đoàn và 18 đại đội biệt lập.  Chia ra Vùng 1 chiến thuật 35 tiểu đoàn và 18 đại đội biệt lập.  Vùng 2 chiến thuật 28 tiểu đoàn.  Vùng 3 chiến thuật 15 tiểu đoàn. Và vùng 4 chiến thuật 19 tiểu đoàn ( Tài liệu của Trung tá Phạm Văn Sơn, Giám đốc Nha Quân sử/VNCH ).

Chính con số ước tính này đã khiến cho Tướng Westmoreland quyết định xin tăng thêm 206.000 quân.  Chuyện xin tăng quân làm cho ông mất uy tín đối với dân chúng Hoa Kỳ và cả với Tổng thống Hoa Kỳ.

Cũng theo tài liệu của Phòng 2 Bộ Tổng tham mưu QL/VNCH thì căn cứ vào lời khai của các tù binh tại các mặt trận người ta tính được tổng số quân CSVN tham dự trận Mậu Thân là 85.000.   Và 20 năm sau trong một cuộc hội thảo của các nhà quân sử CSVN tại Sài Gòn thì con số 85 ngàn quân là tất cả số quân hiện có vào thời đó của CSVN ( Không tính 1 sư đoàn chính quy Bắc Việt tại Tây Nguyên và 2 sư đoàn chính quy Bắc Việt tại Khe Sanh ).  So sánh con số ước tính 323.500 với con số thực tế 85.000 cho thấy cơ quan tình báo Hoa Kỳ và VNCH siêu đẳng tới mức nào.

Năm 1968, ngày 26-2, “Cơ quan tình báo CIA tại Hoa Thịnh Đốn đã đệ nạp chính phủ một bản  nghiên cứu tổng hợp nhằm tái lập chính sách tại Miền Nam Việt Nam từ A đến Z.  Bản báo cáo này đưa ra nhận định rằng chính quyền Miền Nam Việt Nam quá yếu kém, vì vậy trong tương lai không thể nào đủ khả năng để đương đầu với Cọng sản Hà Nội.

Một bản phúc trình thứ ba, cũng tương tự như thế, CIA cho rằng, trong vài tháng sắp tới, tình hình nguy khốn sẽ xảy ra cả về phía quân đội lẫn chính quyền Miền Nam Việt Nam, vô phương cứu vãn ( Stephen Young, Victory Lost, bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 185 ).

Năm 1968, ngày 29-2, tân Bộ trưởng Quốc phòng Clark Cllipford thay thế cựu bộ trưởng MacNamara.  Ngày 1-3-1968, Clark Clifford nhận được một bản phúc trình của các chuyên gia quân sự tại Ngũ Giác Đài : “Phải thay đổi toàn bộ, nếu không thì không thể thực hiện (kịp) kế hoạch chấm dứt chiến tranh”. ( Tức là kế hoạch đầu hàng trong danh dự:  rút quân và điều đình chung tiền lấy lại tù binh ).

* Chú giải :  Theo hồi ký của MacNamara thì ông đã xin với Tổng thống Johnson được thôi chức từ đầu tháng 11 năm 1967 và Tổng thống đã chấp thuận.  Nhưng theo sách “Vietnam: A History” của Stanley Karnow thì tác giả quả quyết rằng Tổng thống Johnson yêu cầu MacNamara từ chức.

Nhưng sau này tài liệu mật của Tòa Bạch Ốc được giải mã cho thấy Tổng thống Johnson phát hiện McNamara đi đêm với Robert Kennedy, ngầm ủng hộ Kennedy tranh cử với Johnson trong nhiệm kỳ tới cho nên ông thông báo chia tay với McNamara, nhận được thông báo của Johnson, McNamara nộp đơn từ chức.

Tổng thống Johnson đề cử Clark Clipfford làm Bộ trưởng Quốc phòng vào ngày 19-1-1968, đến 30 tháng 1-1968 Quốc hội Hoa Kỳ mới chuẩn thuận đề nghị của Johnson.  Nhưng qua ngày hôm sau, trong cuộc tiếp tân chúc mừng tân Bộ trưởng, mọi người nghe đài phát thanh loan báo tin CSVN tấn công trên toàn lãnh thổ VNCH.  Vì vậy tin tức thay thế bộ trưởng Quốc phòng được hoãn loan báo cho công chúng.  Rồi do vì loan quá chậm mà dư luận cho rằng McNamara bị cách chức do vụ Mậu Thân.

Tổng thống Thiệu đã tiên đoán đúng

Năm 1968, cuối tháng 2. Tài liệu của Đại sứ Bunker do Stephen Young phổ biến : “Thiệu ước tính, cộng quân sẽ không trở lại cuộc chiến du kích với những đơn vị lẻ tẻ tại nông thôn.  Ông ta nghĩ Hà Nội sẽ cố gắng tối đa để tung vào cuộc chiến nhằm buộc chính phủ Miền Nam Việt Nam lo bảo vệ tại các thành phố, trong khi đó, cộng quân tái thiết lập sự kiểm soát tại nông thôn để đưa vị trí của họ vào thế mạnh để đưa họ vào vị thế mạnh tại bàn thương thuyết.  Thiệu tiên liệu, Hà Nội sẽ ngồi vào bàn hội nghị vào cuối năm 1968 và đầu năm 1969.  Điều Thiệu tiên đoán đã xảy ra đúng” ( Victory Lost, bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 199 ).

“Thiệu sau đó đã chỉ thị cho các đơn vị quân đội Miền Nam Việt Nam quay trở lại bảo vệ nông thôn” (trang 211).

* Chú giải :  Trong khi CIA và Ngũ Giác Đài hoảng hốt đến độ e rằng quân đội Hoa Kỳ sẽ phải tháo chạy trước khi kịp ngồi vào bàn thương thuyết với Hà Nội thì Tổng thống Việt Nam Cọng Hòa bình chân như vại.  Ông và ban tham mưu của ông thấy rõ rằng quân đội VNCH đang trên thế chủ động và CSVN không có gì đáng sợ như CIA và Westmoreland lo sợ.

Hơn thế nữa, Tổng thống Thiệu thấy trước thế mạnh và thế yếu của ta và địch trong bàn đàm phán sắp tới.  Vì vậy khi Westmoreland quyết định rút quân từ nông thôn về bảo vệ các đô thị là một quyết định trái ngược với yêu cầu của tình thế.

Rõ ràng là Tổng thống Thiệu có lý, thế nhưng nực cười là Washington chỉ nghe lời CIA;  và ngay cả Bunker ngồi tại Sài Gòn cũng không đếm xỉa gì đến Nguyễn Văn Thiệu hay các nhà lãnh đạo VNCH mặc dầu ông ta tận mắt chứng kiến những hành động đầy quyền biến của Nguyện Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ trong dịp tết Mậu Thân.

Cũng trong tài liệu của Bunker :

“Hoa Thịnh Đốn đòi hỏi Bunker phải áp lực tối đa để chính phủ Việt Nam phải nhận trọng trách nhiều hơn…. Bunker đáp lại, ông ta tin tưởng chính phủ Miền Nam Việt Nam có thể làm tất cả những gì mà họ thấy là cần thiết cho đất nước của họ.  Thế nhưng nếu chúng ta áp đặt thì chẳng bao giờ họ thực hiện những điều mà chúng ta muốn… Từ đó nẩy sinh ra khuynh hướng chỉ trích, đả kích, cho rằng chính phủ Miền Nam Việt Nam đã không thi hành hết trách nhiệm của họ, một trách nhiệm mà ngay cả người Hoa Kỳ cũng không thể hoàn tất nổi”(trang 205).

Đây là một nhận xét cơ bản nhất và chính xác nhất về chính sách của Hoa Kỳ, không riêng đối với dân tộc Việt Nam, mà đối với bất cứ một dân tộc nào trên thế giới :  Một khi anh đã coi thường họ, không tin tưởng họ, và giành lấy công việc của họ;  thì cho dù họ biết rằng anh sai họ cũng vẫn làm sai cho anh trắng mắt ra, họ không dại gì tự sửa sai cho anh.

Không biết đến bao giờ các chính trị gia Hoa Kỳ mới nghiệm ra được bài học này trong công việc điều hành trật tự chung cho toàn thế giới.  Không riêng tại Việt Nam, mà ngay cả tại Anh, tại Pháp người Hoa Kỳ cũng vẫn mắc sai lầm tự cao tự đại khiến cho cuối cùng không có một dân tộc nào muốn hợp tác chân tình với Hoa Kỳ, họ chỉ hợp tác theo tinh thần con buôn.  Mà hễ là con buôn thì chỉ có lợi và hại, còn ân nghĩa chỉ là chuyện bịp.

Tổng thống Thiệu nói chuyện trước sinh viên

Năm 1968, giữa tháng 3, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu dự buổi lễ mãn khóa một lớp huấn luyện quân sự dành cho sinh viên tại vườn Tao Đàn, có 13 ngàn sinh viên tốt nghiệp.  Tài liệu của Bunker ghi lại : “Trong buổi lễ hôm ấy Thiệu đã dành 15 phút để nói chuyện trước đám đông sinh viên.  Bài nói chuyện không soạn sẵn vì không dự tính sẽ có mục nói chuyện trong chương trình.  Thế nhưng chưa bao giờ Bunker thấy Thiệu nói chuyện hùng hồn và hấp dẫn như hôm ấy.  Đến đỗi Bunker không nghĩ người đang nói chuyện trước đám sinh viên kia là Thiệu.

 Trong 15 phút, sinh viên đã vỗ tay hoan nghênh ông đến 9 lần, và khi chấm dứt, ba lần sinh viên đã đứng lên ngồi xuống liên tục hoan nghênh ông” (Stephen Young, Victory Lost, bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 211).

Năm 1968, giữa tháng 3, văn bản xin tăng thêm quân Hoa Kỳ của Tướng Westmoreland bị một nhân viên dân sự làm việc trong Bộ Quốc phòng tiết lộ cho tờ báo New York Time ( Sau này được xuất bản với tên “The Pentagon Papers” ).  Dư luận Hoa Kỳ nổi lên công kích Westmoreland dữ dội, cho rằng ông ta đã lừa bịp khi đứng trong khuôn viên tòa đại sứ tuyên bố rằng CSVN sẽ thất bại khi mở cuộc tổng công kích.

Vậy mà nay ông ta lại âm thầm xin tăng thêm 206 ngàn quân, vậy thì từ trước tới nay ông ta đã thiếu thành thật đối với dân chúng Hoa Kỳ.  Và văn bản này là một chứng minh cho thấy quân Hoa Kỳ sắp sửa đầu hàng tại Khe Sanh giống như quân Pháp đã đầu hàng tại Điện Biên Phủ.

Tin tức bay về Hà Nội, Lê Duẩn quyết định xua 2 sư đoàn Bắc Việt (16.000 quân) tấn công căn cứ Khe Sanh đang được 5.000 Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ và 1.000 Biệt động quân VNCH trấn giữ. Washington rúng động, phóng viên báo chí quốc tế đổ xuống sân bay Huế để săn tin về một trận Điện Biên Phủ thứ hai.

Năm 1968, ngày 23-3, Tướng Westmoreland được thông báo chuẩn bị rời chức vụ Tư lệnh quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam để về Washington nhận nhiệm vụ Tham mưu trưởng Lục quân.

Năm 1968, ngày 31-3, Tổng thống Hoa Kỳ Johnson đọc diễn văn loan báo giảm ném bom Bắc Việt, kêu gọi hòa đàm;  và tuyên bố không ra tranh cử Tổng thống nhiệm kỳ 2.

BÙI ANH TRINH

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: