Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Vụ án William Joiner Center: Đầu Ngô mình Sở – hoànglonghải

1Phần 1

            Đọc phán quyết của tòa án về vụ thưa kiện William Joiner Center (WJC) do ông Nguyễn Hữu Luyện đứng đơn, người ta không thể không thấy buồn cười. Kiện cái gì đây? Ông Nguyễn Hữu Luyện xin một job ở WJC, không được job, ông thưa vì cho là bị kỳ thị. Đơn giản chỉ có thế thôi sao? Tưởng là gì chứ việc xin job là việc riêng của ông Luyện. Ở Mỹ, có biết bao nhiêu trường hợp như thế, biết bao nhiêu người vì da vàng mũi tẹt mà không được job. Can thiệp, lên tiếng, đấu tranh là việc làm của cộng đồng người Việt ở Mỹ cho tất cả những trường hợp như thế, đâu phải riêng một trường hợp ông Luyện mà cộng đồng phải họp hành, quyên tiền, ủng hộ, v.v…

            Cái “lắc léo” trong vụ kiện WJC khiến đồng bào tham gia đấu tranh, ủng hộ chính là vì WJC làm một việc tréo ngoe. Ai lại đi thuê Việt Cộng nghiên cứu và phê bình sinh hoạt văn hóa, văn nghệ của người Việt chống Cộng.

            Việc nầy, thiên hạ nói đã nhiều và ai ai cũng thấy WJC làm như thế là sai, nếu không muốn nói là ngu. Nói ngu cũng không phải ngoa, vì cứ đọc bài viết của cán bộ Việt Cộng Hoàng Ngọc Hiến (HNH), ai cũng thấy rằng WJC đã tự nó biến thành một cái loa tuyên truyền cho… Việt Cộng. Một cơ quan nghiên cứu văn học tầm cở quốc tế tự biến thành một cái loa tuyên truyền cho một chế độ độc tài thì ai bảo rằng WJC khôn ngoan?

            Nhưng không thể thưa cái ngu đó của WJC được.

Tại sao?

            Luật pháp có câu: “Vô luật bất hình.”

            Khi kết tội ai về một hành động nào đó cho là phạm luật thì hành động phạm luật đó phải được minh định rõ ràng trong luật pháp. Luật pháp phân định rõ hành vi đó sai trái như thế nào và qui định rõ biện pháp trừng phạt như thế nào: Phạt tiền, phạt tù. Phạt tiền thì phạt bao nhiêu và nếu phạt tù thì phải tù thời gian bao lâu, tối thiểu, tối da, tù ngồi hay tù khổ sai, v.v…

            Nếu luật pháp chưa minh định rõ, thì người ta có thể theo “án lệ” mà trừng phạt được.

            Luật pháp Mỹ đâu có qui định việc làm của WJC là vi phạm luật pháp. WJC có thể mời bất cứ ai, người nào, già trẻ, trình độ, sinh sống tại đâu, v.v… Thành ra, WJC muốn thuê ai cũng được. Ai đúng tiêu chuẩn do chính họ đề ra thì họ có quyền thuê. Nếu thưa WJC về việc thuê mướn nầy ra tòa án thì không tòa án nào xử được, vì nước Mỹ đâu có luật pháp nào qui định việc nầy đúng sai.

            Tuy nhiên, việc nầy cũng có thể đưa ra một loại tòa án khác được đấy. Một “Tòa Án Nhân Dân” như kiểu Việt Cộng thường làm. Việt Cộng có thể đưa một người ra tòa xử tội mà không cần biết người ấy vi phạm điều gì, luật gì, có qui định trong luật pháp hay không?

            Tòa án Nhân dân là “nhân dân” đứng ra xử tội. Luật pháp cũng do “nhân dân” mà ra. Quyết định trừng phạt như thế nào thì đó cũng là quyết định của “nhân dân”. Khi lập tòa án “nhân dân”, những người đứng lên truy tố tội nhân cũng tự nhận là đại diện cho “nhân dân”. Chánh án, phụ thẩm, lục sự, v.v… cũng tự nhận là đại diện cho “nhân dân”. Thêm vào đó, người tham dự việc xử án, dù là đi coi vì tò mò, thì họ cũng là “nhân dân”. Chỉ cần “nhân dân” hô to có tội thì bị cáo là người có tội, chỉ cần “nhân dân” hô to xử tử thì bị cáo bị xử tử. Tất cả vì “nhân dân”, tất cả cho “nhân dân”, luật pháp cũng từ “nhân dân”. Cán bộ Cộng Sản chỉ cần vận động “nhân dân”, hướng dẫn, xúi dục “nhân dân”, để “nhân dân” hô to tha hay giết, thế là xong. Điều nầy xảy ra nhan nhản trong cái gọi là “Cải Cách Ruộng Đất” của Cộng Sản Việt Nam.

            Ở Mỹ không có tòa án nhân dân mà chỉ có tòa án của ngành tư pháp, ngành nầy lại xử theo luật. Luật lại không qui định việc WJC thuê cán bộ Việt Cộng là sai nên không thể thưa kiện gì WJC được. Có lẽ ngay từ đầu những người lãnh đạo của WJC đã phì cười khi họ nghe nói rằng họ bị thưa.

            Nếu ở Mỹ mà có tòa án nhân dân như kiểu Việt Cộng thì thay vì cười, họ đã khóc ròng mà xin tha tội.

            Tuy nhiên, cũng có một thứ tòa án khác nữa, có thể xử WJC được. Đó là tòa án lương tâm.

            Tòa án lương tâm chỉ dùng để xử những ai có lương tâm và không thể xử ai vô lương (tâm). Người có lương tâm khi làm điều gì sai thì sẽ bị lương tâm cắn rứt. Cắn rứt hiểu theo nghĩa đen thì lương tâm có răng. Có răng mới cắn, rứt được. Gặp người lương tâm không có răng, răng rụng hết vì lương tâm quá già hay răng bị sâu hư hết thì lương tâm không thể cắn rứt được. Xấu hay tốt gì họ đều làm tuốt vì lương tâm có răng đâu mà sợ cắn rứt. Có người sợ “tiếng gọi của lương tâm” khi làm điều sai. Nhưng gặp người điếc thì họ cũng không nghe được tiếng gọi của lương tâm. Vậy thì không nên nói chuyện lương tâm với người điếc, và cũng không nên nói chuyện lương tâm với người lương tâm không có răng!

            Những người nầy họ không cần tới thiên hạ, nói rõ là không cần tới thiên hạ đàm tiếu, không cần thiên hạ chê khen. Chỉ những người có lương tâm mới sợ thiên hạ đàm tiếu, thiên hạ khen chê. Đem chuyện lương tâm mà nói với Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, Ưng Khuyển mà làm chi?

            Nhưng cũng có một điều đáng tiếc đấy.

            Người xưa dạy “Nhân bất học, bất tri lý”. Nói nôm na là người không học thì không biết gì là phải trái, đúng sai. Cho nên, chuyện có lương tâm là chuyện không nên nói với Ưng Khuyển, Tú Bà hay Mã Giám Sinh vì họ có học hành gì đâu mà “tri lý”, mà hiểu lẽ phải, hiểu đạo làm người. Nói cho cùng, họ cũng là nạn nhân; nạn nhân của sự thất học.

            Trong số những người nầy, chỉ có Sở Khanh là người có học, biết chữ nghĩa, vì khi cô Kiều đối chất với Sở Khanh, chỉ danh y là tên đểu cáng thì cô có đưa ra chứng cớ do Sở Khanh viết:

                        Còn tiên “tích việt” ở tay

                  Rõ ràng mặt ấy, mặt nầy chứ ai”

            Thành ra, người ta thấy một điều. Những đứa vô học mà lưu manh thì sự lưu manh vừa phải. Học càng cao, tài càng rộng thì lưu manh đạt tới mức độ “siêu việt”. Sự học, như một con dao hai lưỡi, nó giúp cho con người thấy cái sáng, cái đẹp mà noi theo. Ngược lại, học càng cao mà bất lương thì sự lưu manh càng cao, lên tới tuyệt đỉnh của sự lưu manh, khó có ai bì.

            Người ta có thể nhìn vấn đề như thế để dùng lương tâm mình mà phán xét việc thuê Việt Cộng nghiên cứu văn học của người Việt chống Cộng.

Phần 2

            Nghe nói thuê cán bộ Việt Cộng, mà lại là cán bộ văn hóa cao cấp từ Việt Nam sang nghiên cứu văn học Việt-Nam hải ngoại, người ta những tưởng cái gì ghê gớm lắm. Té ra, tầm cở như Hoàng Ngọc Hiến (HNH), người mà Nguyễn Hữu Chung (NHC) cúc cung điếu đóm trong suốt mấy tháng trời, kết quả “nghiên cứu” của HNH cũng chỉ có mấy trang nặng tính tuyên truyền cho Cộng Sản mà thôi. Thành ra, nội dung bài viết của HNH không muốn chê cũng phải chê.

            Ngoài việc HNH khen (hay dụ khị) những người như Nguyễn Mộng Giác, Nhật Tiến, Nguyễn Hữu Chung mà có lẽ nhiều người biết họ là người như thế nào, tôi không mất công nhắc lại làm chi, tôi thấy một điều đáng nói nhất là việc HNH dùng triết lý nhà Phật để “giảng đạo” cho người Việt hải ngoại.

            Chữ HNH viết trong bài là khen những người vừa nói trên biết quán tưởng. (Contemplation). Câu HNH viết nguyên văn là “Nhưng quá trình cơ bản là sự quán tưởng (contemplation) của Trường”.

            Trong “Tân Đại Tự Điển Anh-Việt” của Nguyễn Văn Tạo, nhà xuất bản Tân Văn, Tokyo, tác giả giải thích:

Contemplation: n. sự lặng ngắm, thưởng ngoạn; sự trầm tư mặc tưởng; trầm mặc, sự chiêm nghiệm, suy niệm, sự nhập định, tham thiền.

            Tra trong “Từ Điển Anh-Việt” của Viện Ngôn Ngữ Học (Hà-Nội) thấy ghi như sau:

Contemplation: 1/ (a)- hành động nhìn ai/ cái gì một cách trầm tư. (b)- tư duy sâu lắng, trầm ngâm. 2/ suy tính, ý định.

            (Không nói tới tham thiền hay nhập định như Tự Điển Nguyễn Văn Tạo, nhưng ở phần giảng nghĩa chữ):

Contemplate: v. 1/ (a) nhìn vào (cái gì) và suy ngẫm. (b) suy ngẫm về (về cái gì) đặc biệt như thể là một cách thực hành tôn giáo.

            Tra trong Tự Điển Việt-Anh của Nguyễn Văn Tạo ta thấy chữ quán là một danh từ nhà Phật rất hay dùng:

            quán nhân duyên: (Budd) to penetrate the concept of Nidamic causation

            quán sổ tức: phr (Budd) to purify one’s breath

            quán thân: (Budd) to examine one’s self thoroughly; to penetrate the true essence of one’s self.

            quán thân bất tịnh: to be penetrated with the concept of the essential impurity of self

            quán thông: to undestand thoroughly, to have athorough knowledge of, to be master of

            quán vô ngã: (Budd) to penetrate the concept of unreality  of self.

            Tra trong “Hán Việt Tự Điển” của Đào Duy Anh không có chữ quán tưởng, nhưng tác giả giải thích quán triệt: Suốt hết cả, Quán thông: Thông đồng với nhau. Tưởng: nghĩ ngợi.

            Lại tra Tự Điển Việt-Anh của Nguyễn Văn Tạo thấy:

            Thiền: abstraction, contemplation,

            Thiền đường: a hall of contemplation.

            Nhìn chung, chữ quán tưởng (contemplation) mà HNH chú thích theo đây là một danh từ nhà Phật. Vậy có hai câu hỏi đặt ra:

            Một là, chủ nghĩa Mác là “đỉnh cao của trí tuệ loài người” nhưng chẳng có tư tưởng nào là đỉnh cao để nói tới quán tưởng nên phải dùng đến tư tưởng nhà Phật. Như vậy thì tư tưởng Mác thấp thua tư tưởng Phật một hay nhiều bậc? Vậy nó không còn là đỉnh cao nữa. Chỗ cao nhất của Mác, may ra đạt tới được thì cũng hạng nhì rồi từ đó sắp xuống, có thể xuống tới hạng bét, không thể cao hơn.

Vậy tư tưởng Mác không phải là “đỉnh cao của trí uệ loài người” và không thể giải quyết được những vấn đề của nhân loại.

Ngay chính HNH cũng dùng tư tưởng nhà Phật để giải quyết vấn đề mà không dùng tư tưởng Mác.  Đó cũng chính là cách xác nhận của “nhà văn hóa Cộng Sản cao cấp Hoàng Ngọc Hiến” khi ông gián tiếp cho thấy sự thiếu sót trong tư tưởng Mác vậy.

            Tôi nhớ khoảng thập niên 1960, nhà văn Tam Ích tự tử ở Saigon. Ông ta thắt cổ chết. Thay vì “đu giây đá ghế” thì ông chồng một chồng sách cao rồi đứng trên chồng sách, thay cho ghế. Xong, ông đạp đổ chồng sách cho giây thòng lọng xiết vào cổ.

Trong chồng sách đó, có đủ tất cả loại kinh sách Phật, Chúa, các nhà tư tưởng tiến bộ Pháp thời “Thế Kỷ Ánh Sáng” và cả Tư Bản Luận của Mác. Hành động ấy nói lên cái gì? Tất cả những tư tưởng của nhân loại không thể giải quyết được những vấn nạn của loài người. Dĩ nhiên, ông ta từ chối chủ nghĩa Cộng Sản vì nó không phải là đỉnh cao của trí tuệ loài người. Cái chết của Tam Ích có ý nghĩa như vậy.

            Một cán bộ cao cấp tầm cở như HNH lại không lấy chủ nghĩa Mác ra hóa giải vấn đề mà lại vận dụng tư tưởng nhà Phật.

Ông ta cho rằng tư tưởng Phật hay hơn tư tưởng Mác-Lênnin hay sao? Không, xin đừng lầm. Đó chỉ là chiến thuật, nghĩa là với người Việt hải ngoại, những người không tin chủ nghĩa Mác thì Cộng Sản dùng tư tưởng hay hình ảnh Chúa, Phật để tuyên truyền cho Cộng Sản mà thôi.

            Cũng khoảng thập niên 1960, sau vụ Cuba, tôi có nghe “Lá Thư Anh Quốc” của Xuân Kỳ trên đài BBC. Lá thư kể một câu chuyện như sau:

            Một hôm, Xuân Kỳ đi qua “Hyden Park” ở Luân Đôn và thấy một cán bộ Cộng Sản đứng trên một “ghế đá công viên” tuyên truyền cho một số người đang đứng nghe chung quanh về chủ nghĩa Cộng Sản. Bên cạnh đám đông có một Cảnh Sát đứng canh chừng. Nhiệm vụ Cảnh sát là chỉ can thiệp khi có mất trật tự hay xung đột xảy ra mà thôi. Cũng theo Xuân Kỳ, nước Anh là xứ tự do. Nơi công viên công cộng nầy, ai cũng có thể đến đó, tuyên truyền gì cũng được, miễn là không làm mất trật tự công cộng hay gây xung đột. Tên cán bộ Cộng Sản đang huyên thuyên nói về thiên đường Cộng Sản và y lấy cả lời chúa Giê-Su dạy để chứng minh cho lập luận của y. Tới đó, có một cụ già, nãy giờ đứng nghe, bỗng chống gậy bỏ đi, miệng lẩm bẩm: “Tụi mầy làm gì có Chúa mà nói ở đây.”

            Trở lại trường hợp HNH vừa nói trên đây: Cán bộ cao cấp Cộng Sản Hoàng Ngọc Hiến cũng tin lời Phật dạy hay sao!!!???

            Khi dùng quán tưởng, không phải HNH không có ý kiêu ngạo. Khi y dùng tư tưởng Phật là y so sánh Phật ngang bằng với Mác. Y dùng quán tưởng để “giác ngộ” người Việt hải ngoại mà theo Cộng Sản.

            Người Việt hải ngoại ăn no hơn đồng bào trong nước, nhưng không phải là không ở trong bể khổ và “rõ ràng” còn đắm chìm trong bến mê vì chưa biết “quán tưởng”, chưa “giác ngộ” chủ nghĩa Cộng Sản. Muốn thoát ra khỏi cái “bến mê đế quốc” Mỹ, người Việt hải ngoại, nhất là các nhà văn cần phải “quán tưởng” như HNH yêu cầu.

Theo nhận xét của HNH, trong số nhà văn Việt Nam hải ngoại, có nhiều người đã biết “quán tưởng” như Nguyễn Mộng Giác, Nhật-Tiến, Nguyễn Hữu Chung. Họ là những người đã biết “quán tưởng”, biết “tỉnh thức”, biết “giác ngộ” chủ nghĩa Mác. Trong viễn tượng đó, mai đây, nếu Nguyễn Mộng Giác, Nhật Tiến, Nguyễn Hữu Chung có mở lớp hoặc ra báo “quán tưởng” thì cũng không có chi là lạ! Chỉ sợ người ta không biết để ghi tên đi học. Và cũng không có chi lạ nếu có người đến “thăm” họ như người Việt ở Cali từng đến “thăm” Trần Trường trước đây vậy!

            Trong cách suy nghĩ và trình bày như HNH đã viết thì đồng bào hải ngoại còn chìm trong bể khổ “bến mê”, chưa “tỉnh thức”, chưa “quán tưởng”. Còn đồng bào ở trong nước, dưới chế độ Cộng Sản, nhờ đảng Cộng Sản giáo dục nên đều đã “tỉnh thức” hết, “quán tưởng” hết, và đang ở Niết bàn, ở “thiên đường Cộng Sản”.

            Tuy nhiên, xin nhắc một điều. Nói tới tỉnh và mê, độc giả có thể đọc trong “Hồ Chí Minh Toàn Tập” mà Võ Phiến đã có lần nói trong bài Nguyễn Ngu Ý phỏng vấn Võ Phiến đăng trên báo “Bách Khoa” trước đây, khi Hồ Chí Minh vừa qua đời năm 1969.

HCM nói với cán bộ đại ý như thế nầy:

            Ngày xưa, khi sư phụ cho một đệ tử xuống núi, thì thường cho mang theo một cái cẩm nang. Hễ khi nào gặp cái gì bí lối, không giải quyết được thì hãy mở cẩm nang ra, trong đó đã có cách.

            Nay ta (Cộng Sản) cũng có cẩm nang. Cẩm nang “của ta” là chủ nghĩa Mác-Lê-nin. Khi gặp gì khó khăn, hãy mở cẩm nang (chủ nghĩa Mác-Lê-nin) ra, trong đó đã có cách.

            Tin vào chủ nghĩa Cộng Sản đến mù quáng như vậy thì chính ngay HCM cũng là người còn mê, nói chi tới HNH.

Phần 3

            Ngoài việc khen các tác giả đã biết “tỉnh thức” và “quán tưởng” như Nhật Tiến, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Hữu Chung, HNH chê đoạn văn sau đây của Hà Thúc Sinh (HTS), một người mà HNH gọi là “vô minh của hận thù” (lại vô minh, dùng chữ nhà Phật để chê HTS), đánh giá đoạn văn sau “Đây là một trong những trang thê thảm nhất của văn học Việt Nam”. Toàn cảnh như sau:

            “Một đám tù đương đứng tắm “chuổng cời” cạnh giếng. Bỗng nhiên quản giáo Dương xuất hiện, nhanh quá không ai kịp mặc quần áo. Những người nhanh chân nhẩy ngay đến những cái phuy đặt rải rác quanh giếng để giấu đi một phần thân thể. Bùi Vịnh, chậm chạp, khi ngó lại thì không còn cái phuy nào cả, anh đành đứng yên tại chỗ và giơ tay bụm lấy “chim”.

            Quản giáo Dương bỗng mỉm cười ác độc, hắn hét Bùi Vịnh. Mày bỏ tay ra và giơ cao lên tao coi.

 

            Thân tù, Bùi Vịnh không thể nào làm được cái gì khác hơn là tuân lệnh. Anh đứng giữa sân, hai tay giơ cao, tồng ngồng như một con vượn. Tên Dương lừ một ánh mắt khinh bỉ rồi chửi. Mày có thấy mày dơ dáng dạng hình không? Mày phải nhớ rằng mày thua một con vật xét trên mặt tư cách. Vì con vật nó còn có cái đuôi, nó biết dùng cái đuôi đế che giấu đi những cái không đáng khoe ra. Mày nhìn lại mày coi…

 

            Trong khi quản giáo Dương đang chửi mắng… thậm tệ thì quản giáo Hồng… từ nhà 2 bước ra phía giếng, không cần để ý đến sự có mặt của Dương, hắn hét mấy thằng tù đương lâm nạn.

 

            – Mặc quần áo đi vào trong nhà tôi nói chuyện!

 

            Quản giáo Dương nhìn Hồng uất ức ra mặt, nhưng có lẽ đã quá rõ tính Hồng nóng nảy, lại mang quân hàm trung úy trong khi hắn chỉ là chuẩn úy, hắn đành hậm hực bỏ đi một nước. Khi thấy Dương bỏ đi rồi, Hồng quay lại đám tù cười cười nói một câu không ai ngờ.

 

            – Muốn tắm nữa thì cứ tắm đi. Nhưng đừng tắm truồng trước mặt nó. Thằng ấy nó mất vợ về tay nguỵ các anh đấy. Cứ giơ b… ra trước mặt nó, nó thấy lẫm liệt, nó lại liên tưởng đến chuyện xưa và đâm uất lên.” (Đại học máu, 1985, tr. 443, 444)

            Chữ thê thảm nhất do tôi viết nghiêng và gạch ở dưới. Tôi từng ở trại cải tạo 7 năm 10 ngày, cũng từng tắm hay chứng kiến cái cảnh tắm như vậy và… vui lắm. (Nhờ vui mà còn sống để chờ ngày về). Nó thê thảm chính vì trong chế độ tù Cộng Sản, không những thiếu ăn mà còn thiếu mặc. Người tù không thể không tắm truồng với nhau để giữ áo quần cho được bền. Thiếu chi người trong anh em chúng tôi lấy vải bao cát hay bao đạn may thành áo may-ô, quần xà-lỏn.

            Có lẽ HNH không nói tới ý đó. Có thể ông ta biết chế độ Cộng Sản đối xử với người tù như thế nào, mắc mớ gì tới HNH khiến ông thấy họ thê thảm. Cái thê thảm HNH muốn nói có thể trong ba ý chính sau đây:

            1)- Quản giáo Dương thấy “chim” của đám tù “ngụy” mà “đâm uất lên” vì chính chim của “bọn ngụy” “lẫm liệt” làm cho Dương mất vợ. Quản Giáo Dương không thể không uất “bọn ngụy”, không thù “bọn ngụy” vì anh ta mất vợ vì “bọn ngụy”. Nay quản giáo Dương muốn hành hạ “bọn ngụy” để trả mối thù mất vợ ngày trước.

            2/- Ngay chính cán bộ với cán bộ cũng không ưa nhau, kình chống nhau, ganh ghét nhau. Vì ghét quản giáo Dương nên quản giáo Hồng đứng ra bênh vực “bọn ngụy”, lấy thù làm bạn. Theo cách nhìn của HNH, không phân biệt được bạn thù là điều nguy hiểm nhất, u mê nhất của người Cộng Sản. Lẫn lộn giữa thù và bạn, giữa thù hận và yêu thương, đó mới chính là cái thê thảm của người Cộng Sản.

            Theo cách mô tả của HTS thì đám “ngụy” nầy ngây thơ, chẳng có hận thù, ghét bỏ gì ai. Họ tắm truồng vì họ thiếu áo quần, còn việc “chơi” nhau là việc của mấy “ông” cán bộ Cộng Sản. Viết như thế, HTS nói lên được cái vô tư của người miền Nam, dù họ là sĩ quan. Họ biết thân phận mình là tù nên sợ cán bộ, sợ cai tù là điều rất tự nhiên. Chỉ có cán bộ “chơi” nhau là điều HNH muốn dấu, muốn che. Bao giờ HNH cũng chỉ muốn vẽ ra hình ảnh cán bộ là những con người lý tưởng, hình ảnh đẹp, cao thượng, tốt lành, v.v… là điều không có bao giờ.

            Tôi thích đoạn văn nầy vì đó là một đoạn văn rất thực, rất sống động, rất… vui trong đời tù mà tôi đã trải qua một thời gian dài.

Phần 4

            Trong bài viết của HNH, ngay phần đầu, ông đã nói tới “hận thù”, “giận hờn”, sau đó, nhân vật trong truyện “tỉnh thức” và “hóa giải”.

            Khi sáng tác một tác phẩm, người ta có thể xây dựng cốt truyện và nhân vật tùy theo tư duy, cảm quan, kinh nghiệm, những gì tác giả đã trải qua hay tưởng tượng ra, v.v…

            Ở đây, HNH đã kích những người viết còn “hận thù”, hay “giận hờn” chế độ Cộng Sản, con người Cộng Sản.

            Điều ấy, ngay từ khi còn ở trong trại cải tạo, nhiều anh em đã thảo luận cặn kẽ. Người ta chống Cộng Sản là chống lại chế độ ấy. Trong nhiều trường hợp, họ thông cảm cán bộ Cộng Sản. Nhìn chung, nhiều anh em cũng thấy rằng ngay chính cán bộ cũng là nạn nhân chế độ. Người ta cũng trao đổi nhau những câu nói bày tỏ ý thức chống chế độ của đám cán bộ Cộng Sản. Có lẽ nhiều anh em ở trại Xuân Lộc Z30A còn nhớ câu thơ của một cán bộ Công An mà nhiều anh em cải tạo đọc được: “Tù trong là ngụy, tù ngoài là ta.” Cả một xã hội Cộng Sản là một nhà tù lớn vậy thôi. Tuy vẫn có một số cán bộ có thái độ hống hách, đàn áp hoặc đánh đập tù nhân rất tàn ác, đầy thù hận. Cũng đôi khi, qua sự gần gũi, tiếp xúc, cán bộ cũng biểu lộ được tính người nên hai bên cũng có sự thông cảm nhau. Họ gặp nhau ở một điểm chung: Chống hoặc bất mãn chế độ Cộng Sản. Nếu hiểu được như thế, HNH sẽ thấy rằng chẳng có ai “quán tưởng” hay “tỉnh thức” về chế độ Cộng Sản như ông ta hiểu lầm.

            HNH nhìn vấn đề sai ở chỗ nầy:

Con người cán bộ Cộng Sản và chế độ Cộng Sản. Đây là hai thực thể riêng biệt nhau, khác nhau, không nên nhập nhằng. Có không ít tù nhân thông cảm và gần gủi với cán bộ Cộng Sản, thậm chí yêu mến và giúp đỡ họ khi cán bộ gặp tai nạn, khó khăn. Điều đó không có nghĩa là người tù ưa thích, hoan nghênh hoặc theo Cộng Sản. Ngay chính người cán bộ Cộng Sản có theo chế độ Cộng Sản cũng là điều chẳng đặng đừng. Không ít cán bộ Cộng Sản tâm sự rằng “Ở miền Bắc chúng tôi phải theo Cộng Sản cũng như các anh ở miền Nam phải theo Quốc-gia. Người ta không thể đi ngược lại được”. Trong bài viết của HNH, ông ta lập lờ ở chỗ khi có một người miền Nam tỏ lòng thương mến gần gủi với cán bộ Cộng Sản thì ông ta cho là người miền Nam hoan nghênh chế độ ấy. Không phải HNH không biết điều ấy, nhưng ông ta muốn lập lờ như thế. Điều ấy cho thấy không có sự ngay thẳng nơi một người tự nhận là cầm bút và dạy cho người khác cầm bút như HNH.

            Từ chỗ đó, ông ta nói tới “hóa giải” điều gọi là “hận thù”. Hóa giải có nghĩa là biến đổi nó đi.

Trong “Hán Việt Tự Điển” của Đào Duy Anh, không có danh từ “hóa giải”. Tác giả giải thích: Hóa là thay đổi một cách tự nhiên- Dạy dỗ, sửa đổi. Giải là: Chia gở ra, chia tách ra, thoát khỏi, hiểu rõ, ý thức. Như vậy, khi dùng “hóa giải”, HNH muốn nói gì. Nghĩa là ông ta muốn thay đổi, hiểu rõ, chia gở và thoát ra những hận thù. Điều đó có thể có được không?

            Được hay không được, điều quan trọng là, trước hết, người ta cần đặt câu hỏi: Nguyên nhân của hận thù là do đâu?

            Dĩ nhiên là vì chế độ Cộng Sản miền Bắc vĩ tuyến 17 vào “giải phóng” người miền Nam, làm cho người miền Nam sinh ra hận thù.

            Với người Miền Nam và cả thế giới, khi người Miền Bắc “giải phóng” miền Nam, có nghĩa là họ đuổi người Miền Nam ra khỏi ngôi nhà người ta đang ở, cướp chén cơm người ta đang ăn, lột chiếc áo người ta đang mặc, cướp tài sản người ta đang có, đuổi người ta ra khỏi địa phương người ta đang trú ngụ. Cái được gọi là “giải phóng” đó thực hiện qua những hành động như gọi là “Đổi tiền”, “Đánh Tư Sản”, “Xây dựng Kinh Tế Mới”, đưa đi “Cải tạo”, v.v… Khiến người miền Nam gặp khó khăn, thiếu thốn, đói rách, bị áp bức, bị đầy đọa, chết chóc và cuối cùng người ta phải bỏ quê hương trốn đi. Trong khi đó,  Cộng Sản Miền Bắc thì khoe khoang rằng họ đã “giải phóng” miền Nam, đã đem lại cho người Miền Nam “Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc”.

            Cướp căn nhà người ta đang ở, tài sản người ta đang có, chén cơm người ta đang ăn, cái áo người ta đang mặc, đuổi người ta vào nơi rừng hoang nước độc, vào trại tù, mà ngụy danh là trại “cải tạo”, thậm chí giết chết rồi gọi những hành động như thế là “giải phóng”.

            Tới bây giờ, HNH lại bảo rằng đảng Cộng Sản Việt Nam làm như thế là để “giải phóng” người miền Nam, các nạn nhân không được “hận thù”, không nên hận thù. HNH bảo phải “hóa giải” hận thù đi để không còn hận thù nữa. “Hóa giải” nghĩa là lột bỏ hết, không oán giận, không thù hận, không nên nhớ, phải quên hết đi, không còn ai phải, ai trái, ai đúng, ai sai. Điều đúng, điều phải chính là điều Cộng Sản làm. Như vậy thì con người chỉ còn là cái máy. Cái máy được “set up” như thế nào là làm y như vậy, không có ý riêng, tình cảm riêng, tư duy riêng, không có gì hết, chỉ là cái máy, ai cũng như ai, không ai thù hận ai, ghét bỏ ai, thương xót ai, thông cảm ai, v.v…

            Chỉ có những con người không tim như HNH mới nói được như thế.

            Hèn chi các văn, thi sĩ trong phòng trào “Nhân Văn, Giai Phẩm” sáng tác những tác phẩm như “Thi sĩ máy”, “Người khổng lồ không tim” để mô tả chế độ Cộng Sản miền Bắc Việt-Nam.

            Người miền Nam không thù lâu và họ luôn luôn giang rộng tay đón nhận những người biết phân biệt phải trái, đúng sai. Ở miền Nam, họ vẫn thông cảm và hoan nghênh những người miền Bắc trong phong trào “Nhân Văn Giai Phẩm” và thân mật đón tiếp những người rời bỏ Cộng Sản để về với họ như Lê Xuân Chuyên, Huỳnh Cự, Xuân Vũ, Nguyễn Văn Kim, Đoàn Chỉnh. Những người nầy khi về với Miền Nam, họ vẫn được cơ hội thăng tiến như mọi người Miền Nam khác, không bị phân biệt, kỳ thị. Đó cũng là ý nghĩa cao cả của chính sách “Chiêu Hồi” (Gọi Về) của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

            Biết bao giờ những người như HNH hiểu được tấm lòng của người Miền Nam. Chỉ sợ đầu óc ông ta đặc lại như “Ông Bình Vôi” nên không thấy có gì đúng sai, phải trái.

            Người Tây phương có câu: “Tha thứ được mà không quên được”. Đó là tình cảm, tư duy của người Miền Nam đối với cán bộ Cộng Sản cũng như chế độ Cộng Sản. Họ tha thứ bởi người miền Nam rộng tính, họ không thù giai, không “triệt để” như chế độ Cộng Sản.

            Thành ra những danh từ mà HNH đã dùng như “tỉnh thức”, “quán tưởng” và “hóa giải” nên dùng cho chính những người như HNH chứ không phải những người cầm bút hải ngoại.

Phần 5:

Tự Do của người cầm bút hải ngoại

            Khi phân tích, nghiên cứu những người cầm bút hải ngoại, cần nhớ một điều: Họ gần như được tự do tuyệt đốt khi sáng tác. Dưới chế độ Cộng Sản, người viết văn viết theo “đơn đặt hàng”. Viết theo chỉ thị (điều nầy ai cũng biết) nên chắc chắn người viết không có tự do.

            Trước 1975, miền Nam khá hơn một chút. Khi “Diệt Cộng là Quốc Sách” thì người viết văn miền Nam không nhiều người ra ngoài “quốc sách” ấy. Khi miền Nam chống Cộng để sinh tồn, người viết sách cũng khó đứng ngoài cuộc. Ở miền Nam hồi ấy, trước 1975, muốn in sách, làm báo người ta cần có một số tiền không phải là nhỏ. Thành ra, những người muốn ra báo, in sách thường phải được sự giúp đỡ của “ai đó”, trong chính quyền, hay “thế lực” của phòng Thông tin Hoa Kỳ, v.v… Không ít người làm “đầu nậu” trong những công việc như thế. Tuy nhiên, không phải ai ai cũng vào vòng “cương tỏa”. Những người có tài năng thật sự, những người có uy tín và được độc giả hoan nghênh, ủng hộ, họ có thể ở ngoài vòng cương tỏa và được nhiều tự do trong khi sáng tác, cũng chẳng ai làm gì họ.

            Ở hải ngoại, hoàn toàn không có những việc như thế. Một số người ở hải ngoại viết văn vì háo danh. Điều ấy cũng thường thấy. Tuy nhiên, số đông thì viết để bày tỏ, để thố lộ, để giải tỏa những điều suy nghĩ, ẩn ức, suy nghiệm, đau xót trong lòng họ đã có từ lâu, khi Cộng Sản chiếm miền Nam và bắt họ bỏ vào tù. Viết xong, họ tự in, hay nhờ nhà in, nhà xuất bản giùm. Trong tiến trình đó, người viết, người xuất bản hoàn toàn tự do, không ai ràng buộc, khống chế được ai, biểu phải viết như thế nầy, thế nọ.

            Đối với người viết hải ngoại, viết là do động lực ở lòng mình, và theo quan điểm chung, đã có từ xưa, viết là một thiên chức. Người viết ở đây không vì cơm áo, không vì địa vị, danh vọng. Nếu như họ muốn chuyển tải một cái gì đó, bày tỏ một cái gì đóù qua tác phẩm họ viết, thì họ tự nghĩ rằng điều họ phê phán đúng sai là từ lương tâm họ. Trong trường hợp đó, nhiều khi họ bị ảnh hưởng bởi một câu họ đã học từ lớp Đệ Tứ, khi học về Kiều mà họ không hay. Đó là “Văn dĩ tải đạo”.

            Trong trại tù Cộng Sản, người ta bị tước đoạt tài sản, tước đoạt nhân cách, phẩm giá, người ta sống trong đau khổ và uất hận. Không ít người nghĩ rằng nếu về sau, có cơ hội, họ sẽ viết lại những đau khổ, đọa đày ấy. Họ chỉ khác nhau ở chỗ, khi ra tới ngoại quốc, người viết được, người không viết được mà thôi. Thành thử, điều người Việt hải ngoại viết ra, tuy là người viết viết những điều của riêng họ nhưng nó lại là cái chung của hàng triệu người miền Nam vậy. Do đó, ở ngoại quốc, rất nhiều người “không ngờ” thành nhà văn, nhà thơ.

            Hoàng Ngọc Hiến vốn mang lăng kính màu đỏ. Vì được Cộng Sản giáo dục, cho cơm áo và danh vọng, nên ông ta không thấy được cái tự do của người cầm bút hải ngoại. Từ đó, ông ta không thể nào hiểu được cái tâm của người cầm bút hải ngoại.

            Nếu HNH không thấy điều ấy thì không bao giờ ông ta có thể được coi là một người viết văn chân chính./

tuệ chươnghoànglonghải

Vụ án William Joiner Center: thơ văn, thù hận – hoànglonghải

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

4 Comments on Vụ án William Joiner Center: Đầu Ngô mình Sở – hoànglonghải

  1. Ông tác giả này nói… ngu. Ông Nguyễn Hữu Luyện kiện với lý do kỳ thị khi tuyển nhân viên. Vụ kiện đã làm cái gọi là công trình do vì UMASS nghiên cứu trở thành tờ giấy lộn.

    Số lượt thích

  2. Nguyễn Hữu Chung hay Nguyễn Bá Chung ?

    Số lượt thích

  3. Nguyễn hữu Luyện là lính biệt kích của Mỹ, được người Mỹ trả lương. Qua Mỹ, nhóm biệt kích của ông Luyện đã kiện chính phủ Hoa Kỳ và được bồi thường một món tiền, khoảng 50 ngàn Mỹ kim (khá lớn vào thập niên 198x) cho mỗi người. Ông Luyện đã tận tụy cống hiến cho đất nước Hoa Kỳ như vậy mà vẫn còn bị kỳ thị, bạc đãi thì mới biết vẫn có một khoảng cách lớn giữa dân da trắng và dân da màu trên Xứ Mỹ.

    Số lượt thích

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: