Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Vụ án William Joiner Center: thơ văn, thù hận – hoànglonghải

1Mười  năm sau (2002 – 2012),

tôi vẫn còn lên tiếng

Vụ án

William Joiner Center

Bài 2

thơ văn

thù hận

            Trên tạp chí “Hải Ngoại Nhân Văn” (1) số 34 tháng Tư/ 2002, ông Nguyễn Hữu Luyện có giới thiệu hai bài thơ và một bài văn của ông Nguyễn Bá Chung. Cũng theo lời Nguyễn Hữu Luyện thì Nguyễn Bá Chung là Giám Đốc Chương Trình Nghiên Cứu về người tỵ nạn Cọng Sản của WJC/UMB.

            Với một người chức vụ như thế mà làm thơ văn như thế, tôi thấy cần nói lên một vài ý kiến để cho sáng thêm ý nghĩa của hai chữ thơ văn.

            Cứ như định nghĩa của ông Phan Kế Bính thì “Văn là gì? Văn là vẻ đẹp; Chương là gì? Chương là vẻ sáng. Lời của người bóng bẩy sáng sủa, tựa như có vẻ đẹp, vẻ sáng cho nên gọi là văn chương”.

            Qua những bài văn, thơ của Nguyễn Bá Chung sau đây, nếu so với định nghĩa của Phan Kế Bính, người ta thấy gì?

                        Di tản … (Nguyễn Bá Chung)

                        là mảnh vụn của sỏi đá

                        là giọt nước của ao tù

                        là tia nắng cuối cùng monh manh

                        cuối lòng súng rỉ

                        là ngôn ngữ bất lực

                        của tháng ngày bất lực

                        là vết bầm cuối cùng

                        của cuộc nội thương (2)…

                        là vết rêu của sỏi đá

                        là hơi sương trên ao tù

                        là tia nắng suốt đời monh manh

                        là viên đạn lép

                        không bao giờ bắn nữa

                        là ngôn ngữ khởi đầu

                        khi tiếng bom chấm dứt

                        là những gì đọng lại

                        sau cơn động đất cuối mùa

(2) Nửa đầu bài thơ dựa theo lời một bài tựa tập thơ

                        Trở Về

(Nguyễn Bá Chung)

                        Tôi sẽ về làm người không manh áo

                        Giá áo túi cơm rồi cũng chẳng làm gì

                        Tôi sẽ về trên những bờ đê cằn cỗi

                        Chết theo từng tiếng cú vọng chân đi

                        Tôi sẽ về gối đầu trên mộ bố

                        Lính Tây càn từ lúc tôi chưa sinh

                        Không biết mặt tôi vẫn ngỡ ngàng

                                                                        hình ảnh ấy

                        Hàng thanh niên giật khuỷu nước sông chìm

                        Tôi sẽ về cúi đầu xin lỗi mẹ

                        Bỏ một đi nuôi giọt máu thiếu cha

                        Bao giá lạnh chiều than người không nói

                        Bao ước mơ nay đã sóng qua phà

                        Tôi sẽ về làm người tù tự trói

                        Mang trên mình những biểu ngữ đầy tên

                        Để được sống một lần trong tự hối

                        Với những người không biết vẫn thân quen

                        Tôi sẽ về với hầm chông hố đạn

                        Hai mươi năm bằm nát mọi hình hài

                        Để sống lại một thời tôi muốn sống

                        Mà theo dòng con nước đã chia hai

            Đây là một đoạn trích trong bài “Vietnam War and Vietnam” của Nguyễn Bá Chung

            “Tôi tin rằng Mỹ có những mục đích cao cả ở VN – tự do và dân chủ. Nhưng vì Mỹ đã liên minh với một nhóm Việt Nam là những người đã mang nặng tính chất thực dân, và hầu hết họ đã phản bội lịch sử Việt Nam – với hai ngàn năm lịch sử mà vẫn chưa thành tựu được. Cũng như vậy, Hồ Chí Minh có tất cả đầy đủ sự nghiệp chính nghĩa – độc lập, thống nhất và công lý xã hội – nhưng vì không có một cường quốc phương tây nào ủng hộ việc bải bỏ chế độ thuộc địa, ông Hồ và các nhà cách mạng đã phải tự liên kết với chủ nghĩa Cọng Sản, một học thuyết có những nét căn bản – chiến tranh giai cấp, chuyên chính vô sản, và một xã hội không tưởng – đi ngược lại chiều hướng văn hóa Việt Nam, một nền văn hóa tồn tại hàng ngàn năm.

            Ghi chú: Tôi ghi lại thật đúng như trong “Hải Ngoại Nhân Văn”.

             Tôi không ghi lại bản tiếng Anh. Theo chú thích, bản tiếng Anh do Nguyễn Bá Chung và Bruce Weigl dịch ra tiếng Anh. Như thế, có nghĩa là Nguyễn Bá Chung viết bằng tiếng Việt trước rồi dịch ra Anh Văn sau. Do đó, tôi viết bài nầy bằng tiếng Việt nên tôi trích dẫn bản tiếng Việt, hợp lý hơn.

            Trước hết, tôi thấy Nguyễn Bá Chung không biết làm thơ, dù là thơ mới, không ràng buộc niêm luật như thơ Đường. Bị tình cảm thù ghét đẩy đưa, thù ghét những người di tản (như trong đầu bài thơ) ông dùng chữ “tia nắng mong manh” hai lần trong mấy câu thơ, thường gọi là lặp ý, hoặc vài chữ có nghĩa gần giống như vậy, như hơi sương (hơi sương thì mong manh) hoặc đọng lai (sương đọng lại).

                        là tia nắng cuối cùng mong manh

                        là tia nắng suốt doi mong manh

                        là hơi sương trên ao tù

                        là những gì đọng lại

            Dùng nhiều chữ của, thừa, vô ích, như: của sỏi đá, của ao tù…

            Làm văn xuôi nhiều khi người ta viết tràng giang đại hải, nên dễ lặp ý mà không biết. Làm thơ không phải thế, nhất là thơ Đường, thất thôn bát cú hay tứ tuyệt, có bài chỉ có 28 chữ mà thành một bài thơ, nên cách dùng chữ, chọn ý hết sức cẩn trọng, gọt dũa, không được thừa lời, không được lặp ý.

            Ngày xưa, đời Xuân Thu bên Trung Hoa, có ông Lã Bất Vi viết cuốn sách “Lã Thị Xuân Thu”, đem treo ở cửa thành, bố cáo rằng hễ ai sửa được một chữ trong sách ông thì ông thưởng một lạng vàng. Vậy mà chẳng ai được lạng nào hết. Thế mới biết viết lách cần phải cẩn thận như thế nào.

            Muốn làm thơ, người ta phải tập. Trước là phải tập làm thơ Đường, thật gò bó. Làm được thơ Đường rồi, qua làm thơ mới hay thơ tự do, có kỹ thuật hơn, dễ thành công hơn. Người làm thơ bây giờ, ưa thì viết đại xuống, đọc đi đọc lại nghe cho xuôi xuôi, thế là xong, là thành thi sĩ, thơ thẩn chẳng có kỹ thuật gì cả. Trong hai hạng đó, tôi không rõ “thi sĩ” Nguyễn Bá Chung thuộc hạng nào!?

            Dù vậy, nếu so với bài thứ hai: “Trở Về”, thì bài sau nghe “đỡ” hơn. Nghĩa là đỡ hơn bài trước, còn hay dở như thế nào, xin nói sau.

            Tại sao ông cứ nói đi nói lại một ý như vừa trình bày trên?

            Tại vì ông ghét và thù hận những người di tản quá. Sự thù hận làm cho người ta nhìn vấn đề phiến diện đi, nhìn cái gì cũng nhìn theo lăng kính của mình, như sách báo trước 1975 thường nói là đeo “những cặp kính màu”. Do đó, ông mai mỉa, bêu rếu họ bằng nhiều chữ, lấy nhiều hình ảnh xấu mà dán lên mặt họ. Suốt cả bài thơ, từ đầu tới cuối là 17 câu, ông toàn đưa ra những ý, những lời xấu về họ. Nào là “mảnh vụn sỏi đá”, “giọt nước ao tù”, “lòng súng rỉ”, “viên đạn lép”, v.v…

            Khi người ta gọi ai là đeo “những cặp kính màu” thì người ấy không được đánh giá là người có “trí” bao giờ.

            Tôi nhớ hồi tôi còn nhỏ, mỗi lần đi học ngang chợ, thấy mấy bà bán hàng chửi lộn nhau là tôi đứng lại nghe; vừa nghe vừa cười… Họ chửi nhau hay lắm. Bởi tức giận, ghét bỏ nhau quá mức nên họ lôi hết ông bà ông vải đối thủ ra mà chửi. Thậm chí bao nhiêu điều dơ dáy, xấu xa họ đem ra mà đổ lên đầu kẻ thù cho hả cơn tức. Có lần tôi bị rầy vì đứng nghe chửi nhau như thế. Người ngoài đánh giá họ là giới bình dân, ít học, thiếu suy nghĩ, “Nhân bất học bất tri lý” nên mới chửi nhau thậm tệ như thế. Thật ra, tôi cũng chẳng khen chê gì họ hết, thấy lạ thì coi mà thôi.

            Nay xem lại trong bài thơ của Nguyễn Bá Chung, tôi thấy ông chửi những người di tản cũng thậm tệ lắm. Nói ra thêm dài dòng và hao giấy, quí vị nào muốn biết thì xin đọc lại 17 câu thơ trên, Nguyễn Bá Chung ví người di tản với bao nhiêu điều xấu xa.

            Ở Việt Nam, tôi thấy cán bộ Cọng Sản ngoài Bắc vào, họ đố kỵ nhau dữ lắm. Cán bộ nầy sắm được cái TV, cái radio (cái đài), cái đổng (đồng hồ), cái đa (xe Honda) thì cán bộ kia cùng rán kiếm cho có, thậm chí phải đẹp hơn, mới hơn, tốt hơn, bền hơn mới chịu. Từ đó, họ làm đủ cách để có của, có khi dè bỉu nhau, moi móc nhau, tố cáo nhau, hay làm thơ làm vè bôi bác nhau vậy. Do đó, ở Saigon bỗng có câu đồng dao:

                        Cái đài, cái đổng, cái đa

                        Có ba cái ấy đời ta huy hoàng

                        Ấy là theo đảng vinh quang

                        Ấy là theo gót con đàng bác đi.

            Người Việt ở Mỹ đối xử với nhau, trong vài trường hợp, cũng tương tự như vậy. Năm 1993, tôi tham dự một buổi họp của ông Phạm Thư Đăng ở Boston, mục đích là để kêu gọi người Việt tìm cách giúp đỡ người tỵ nạn Việt Nam đang ở các trại tỵ nạn có nguy cơ bị đuổi về nước. Nhiều người lên diễn đàn phát biểu, ai cũng kêu gọi giúp đỡ người tỵ nạn, lời lẽ na ná như nhau, bỗng có một ông, nghe nói là làm quản lý cho một khách sạn lớn ở Boston, qua Mỹ hồi năm 1975, nay đã giàu có rồi, sang trọng rồi, đứng ngay tại chỗ, nói một câu: “Cho họ qua đây làm gì? Để họ về là phải, thứ xấu xa đó… ” Rồi ông ta bỏ đi một nước, có phải vì sợ phản ứng của những người khác?

            Người Việt ở Mỹ kỳ thị nhau là vì mặc cảm: tự tôn có, tự ti có. Người qua lâu, giàu có thì tự tôn vì sự giàu, nhưng lại tự ty vì thuộc loại… dọt lẹ, “tam thập lục kế” trước thiên hạ, chưa từng có một ngày tù cải tạo vì phần đông là hạ sĩ quan, binh sĩ, hoặc không dính dáng gì tới chế độ cũ cả, thậm chí trước 1975 là đào binh, trốn quân dịch, lính ma, lính kiểng, hay sinh trưởng ở miền Bắc, v.v… Người qua sau thì có tâm lý ngược lại, v.v… Còn có những người qua Mỹ từ trước 1975 như du học, theo chồng về Mỹ, linh mục các dòng tu, tu sĩ Phật giáo, v.v… Vì bác ái, từ bi, rất nhiều người tham gia các tổ chức cứu giúp người di tản hồi 1975.

            Tôi không biết Nguyễn Bá Chung thuộc thành phần nào, có vì lòng nhân ái như truyền thống của người Việt Nam, (như ông có nói trong bài văn xuôi trích dẫn ở trên, tự hào rằng văn hóa Việt Nam, một nền văn hóa tồn tại hàng ngàn năm.) “Thấy người hoạn nạn thì thương… ” (Gia huấn ca – Nguyễn Trãi), mà cứu giúp ai không hay lòng thù hận làm cho ông nhìn họ là thứ “vết rêu của sỏi đá”, “vết bầm cuối cùng”, “giọt nước của ao tù”. Tôi thì nghĩ ngược lại, chính lòng thù hận biến tâm hồn con người – như Nguyễn Bá Chung chẳng hạn- thành “sỏi đá”, thành “rong rêu”, thành “giọt nước ao tù”.

            Không biết Nguyễn Bá Chung hiểu câu nầy như thế nào:

                        Ngậm máu phun người

                  Chẳng may gió độc mà rơi nhằm mình

            Tâm hồn ông ta thế nào, và ông chửi bới người di tản như thế nào? Có phải ông thuộc hạng tôi nói ở trên?

            Qua sự kiện Bin Laden và bọn Taliban, nhìn lại lịch sử, nói chung, người ta thấy rằng việc đối xử với người khác bằng ghét bỏ và thù hận sẽ không đem lại gì cả. Không có gì hết mà chỉ làm cho xã hội thêm đau khổ mà thôi. Vì thù ghét mà người ta trở nên độc ác.

Độc ác như vua Kiệt, vua Trụ, như Tần Thủy Hoàng, như Neron đốt thành Rome, thì nhân loại được thì không được gì mà mất mát và đau khổ thì nhiều lắm. Độc ác như Hitler, Staline, Mao Trạch Đông thì nhân dân Đức, Liên xô, Trung Hoa được gì hay đói khổ và tù đày quá nhiều. Còn bây giờ, hủy diệt WTC, làm cho hàng ngàn người chết thì Bin Laden được gì và người Hồi, người dân Afghanistan được gì? Làm một người dân thường, không có quyền hạn gì hết mà thù ghét người khác thì cái hại còn nhỏ. Từ bậc thấp nhứt đó mà kể lên, chức càng cao, thù càng nhiều thì thiệt hại cho người khác, cho dân tộc càng lớn. “Làm chính trị mà sai thì hại cho một nước, làm văn hóa mà sai thì hại muôn đời” như Đức Khổng tử nói vậy.

            Nói về văn hóa Việt Nam, như Nguyễn Bá Chung khoe ở trên, (“văn hóa Việt Nam, một nền văn hóa tồn tại hàng ngàn năm”.) thì người làm chính trị phải chủ trương “Đức Trị”, lấy cái Đức, lòng Nhân mà đối xử với dân, không dùng bạo lực như ở các chế độ độc tài, hạng nhứt là độc tài Cọng Sản. Về văn hóa, thì không chủ trương, không dạy thù hận. Trong cuốn sách bàn về truyện Kiều, Trần Trọng Kim viết: “Cổ nhân có câu rằng “Văn dĩ tải đạo” nghĩa là: Văn dùng để chở đạo… Cái lòng thương làm nảy ra cái lòng từ bi, muốn làm điều lành, điều phải, muốn cứu người trong lúc hoạn nạn”.

            Người du học đất khách quê người, cái gì cũng lạ nên được người địa phương, tuy khác màu da, khác chủng tộc cũng giúp đỡ. Người di tản là người đang cơn hoạn nạn, ra đi là không còn có sự chọn lựa nào khác, vậy mà người đồng hương đã không giúp đỡ, lại chê bai, dè bỉu. Vậy thì lương tâm ở đâu hay lương tâm già trước tuổi, răng cỏ rụng hết nên không cắn rứt được chăng?

            Câu “Văn dĩ tải đạo”, ở Việt Nam, trước 1975, học trò lớp Đệ Tứ (lớp 9 bây giờ) đã được thầy giảng khi học truyện Kiều. Văn để chuyên chở, truyền bá đạo đức. Chê cái xấu, khen cái tốt, để cho có vẻ đẹp, vẻ sáng thì không thể bị cái ghét, cái thù làm che mờ lương tri được. Ấy là nói người làm văn chân chính, còn lợi dụng văn chương để chửi bới người khác như Nguyễn Bá Chung thì lại là chuyện khác.

Nếu nói về văn hóa Việt Nam, như Nguyễn Bá Chung khoe ở trên, (“văn hóa Việt Nam, một nền văn hóa tồn tại hàng ngàn năm”.) thì tôi nghĩ cũng nên bàn chút ít về chữ “Khiêm” mà trong cách ông ta chê bai những người di tản, cũng vắng bóng chữ “Khiêm” nầy.

            Khiêm là kính, nhún nhường. Người Việt kính trọng người lớn tuổi. Dù quan to chức lớn cũng phải trọng người lớn tuổi hơn mình, vì “Kính lão đắc thọ”. Trong số những người di tản, cũng có người đáng tuổi em út Nguyễn Bá Chung, có người đáng tuổi anh chị, và không ít người đáng tuổi cha ông. Mạt sát họ bằng những lời lẽ như trên, nào là thứ “vết rêu của sỏi đá”, “vết bầm cuối cùng”, “giọt nước của ao tù”, v.v… như thế là mục hạ vô nhân, là thiếu sự lễ phép của người Việt Nam, là hợm mình.

            Những người có học và có tư cách thường thì biết khiêm cung, (“nhún mình xuống thấp mà kính cẩn”), khiêm nhượng (“nhún nhường”), khiêm thuận (“cung kính, thuận hòa”), khiêm tốn (“nhún nhường”), khiêm từ (“lời nói nhún nhưng”), khiêm xưng (“tự mình hạ mình xuống khi nói chuyện với người khác”).

Về đạo đức, đây là điều cha mẹ thường dạy con, làm gương cho con. Những ai thiếu cha thiếu mẹ dạy là điều thiệt thòi rất lớn. Để rõ hơn, tôi đưa ra một ví dụ: Nhà văn Phạm Duy Tốn, dạy con bằng cách khi sinh người con trai đầu đặt tên là Phạm Duy Khiêm; người con kế là Phạm Duy Nhượng; nhạc sĩ Phạm Duy tên là Phạm Duy Cẩn. Làm tới vua như vua Tự Đức, xây cho mình một cái lăng thì cũng chọn tên là Khiêm Lăng.

            Người Cọng sản làm cách mạng văn hóa, đã phá những cái Khiêm như tôi nói ở trên. Họ có văn hóa riêng của họ, gọi là “Văn hóa Mácxít-Lêninít”. Cho nên, ai không thuộc phe họ, thì họ mạt sát bằng một chữ thằng, như thằng Diệm, thằng Thiệu, thằng Kỳ, thằng Lý Tống, thằng ngụy (nói chung người thuộc chính quyền quân đội miền Nam hay có dính líu chút ít đến chính quyền miền Nam như sinh viên, du học sinh – nhứt là du học ở Mỹ để sau nầy về làm tay sai cho Mỹ, làm CIA -, những người cải tạo, ai có du học ở Mỹ về thì cải tạo lâu hơn vì Cọng Sản cho là được CIA huấn luyện, làm tay sai cho Mỹ; cũng bị gọi tuốt là thằng ngụy. Công dân Mỹ họ gọi chung là thằng Mỹ; còn như ai ở trong chính quyền Mỹ thì họ gọi là “thằng Nich-xơn” (hay “thằng tổng thống Nich-xơn”), “thằng Ken-nơ-đi”, “thằng Kít-xin-gơ”, v.v… Ai từng ở lại miền Nam, đọc báo Cọng Sản thì không ít lần thấy như vậy. Tên của mấy người Mỹ nầy, tôi cũng viết đúng theo y như họ phiên âm.

            Cọng Sản không cần chữ khiêm, nên gọi ai không theo phe họ bằng thằng, khinh bỉ, mạt sát. Họ dùng chữ thằng, khác với Nguyễn Bá Chung gọi là “vết rêu của sỏi đá”, “vết bầm cuối cùng”, “giọt nước của ao tù”, v.v…

Khác là khác ở cách gọi, về bản chất (thiếu chữ Khiêm) thì cũng giống nhau, người xưa gọi là “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”.

            Những người di tản là ai?

            Là người không thể ở với Cọng Sản được mà phải ra đi.

            Về hành pháp thì họ là tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng, v.v… Về lập pháp thì có chủ tịch, phó chủ tịch, nghị sĩ, dân biểu, v.v… Về tư pháp thì có chủ tịch, phó chủ tịch Tối Cao Pháp Viện, chánh án, dự thẩm, v.v… về quân đội thì có tướng tá, v.v… về đảng phái thì cũng có chủ tịch, đảng viên, v.v… về tôn giáo thì có thượng tọa, đại đức, tăng ni, giám mục, linh mục, chức sắc, giáo phẩm, v.v… về giáo dục thì có viện trưởng phó viện trưởng các viện đại học, các giáo sư, sinh viên, v.v… từ cấp cao nhất đến cấp thấp nhất, những người trong chính quyền, ngoài chính quyền, dân sự, buôn bán, tài xế, nông dân, làm thuê, v.v… Nhìn chung, những người di tản là những người thuộc xã hội miền Nam thu nhỏ lại, là bộ mặt miền Nam thu nhỏ lại. Họ, những người di tản, chạy nạn, vượt viên, v.v… Nói chung, dưới mắt Nguyễn Bá Chung họ là thứ “vết rêu của sỏi đá”, “vết bầm cuối cùng”, “giọt nước của ao tu” ,v.v…

            Nguyễn Bá Chung nhìn họ là những người có quá trình theo Tây, theo Mỹ, những người như ông viết trong bài văn xuôi nói trên là một nhóm Việt Nam, là những người đã “mang nặng tính chất thực dân”, và hầu hết họ đã “phản bội lịch sử” Việt Nam – với “hai ngàn năm lịch sử mà vẫn chưa thành tựu được”.

            Sao lại một nhóm? Nhóm đó là ai? Những người được Mỹ dựng lên, bắt tay với Mỹ, hay toàn bộ những ai ăn lương Mỹ, mặc áo Mỹ, cầm súng Mỹ đánh nhau với Cọng sản. Như vậy thì một nhóm đó gồm một triệu binh sĩ Việt Nam Cọng Hòa, cán bộ, công chức, thậm chí cả người chạy taxi, buôn thúng bán mẹt, đọc kinh gỏ mõ trong chùa, trong nhà thờ, thậm chí cả những bác sĩ, dược sĩ chỉ lo chăm sóc người đau, kẻ ốm, v.v…

            Dưới con mắt của những người gọi là làm cách mạng ở Hà Nội, ai ở miền Nam cũng đều có tội hết, thậm chí cả những người làm địch vận cho họ như Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh văn Trọng, v.v… Dù là cán bộ Cọng Sản nhưng học hành ở nhà trường tư bản, sinh hoạt trong xã hội tư bản, đều thâm nhiễm thói hư tật xấu tư bản, tư tưởng bóc lột tư bản, nên những người nói trên, sau 1975, dài ngắn khác nhau, ai cũng phải đi học tập cải tạo. Chỉ cần biết ngoại ngữ, tiếng Pháp, tiếng Anh, (ngoại trừ tiếng Tàu, tiếng Nga), đều là xấu cả. Xin trích một đoạn sau đây trong cuốn “Brother Enemy” của Nayan Chanda

            “Một trong những điều đầu tiên được thấy là sự áp bức, tinh thần bài ngoại trong đám Khmer Đỏ tình cờ xảy ra trong buổi tiếp tân ngày quốc khánh Cuba tại nhà quốc khách. Theo nghi lễ, Sihanouk bắt đầu đọc lời chúc mừng bằng tiếng Khmer rồi ngưng lại chờ một người nào đó thông dịch. Trong số những người lãnh đạo Khmer Đỏ, có người đã từng du học ở Pháp nhưng chẳng ai dịch cả. Ngay cả Khieu Samphan, đậu bằng tiến sĩ ở Sorbonne, dù ông ta bị Suong Sikoeun thúc đẩy. Suong cũng là người xuất thân trường Pháp, từng làm giám đốc Khmer Thông Tấn Xã. Sau khi chờ một lúc chẳng thấy ai, Sihanouk tự dịch ra tiếng Pháp lời chúc mừng của ông. Trong chế độ Pol Pot, kiến thức ngoại ngữ được xem là dấu hiệu của tinh thần nô lệ hoặc khoe khoang”.

            Không riêng gì chế độ Pol Pot đâu. Theo tôi biết, các nước Á châu sau bức màn tre, đều thế cả.

            Thời gian đầu khi tôi còn ở trong trại cải tạo, trong một buổi lên lớp, cán bộ Cọng Sản giải thích:

            “Ai cũng có tội với cách mạng. Một bác sĩ, chăm sóc cho tên lính ngụy đau ốm, bị thương mau lành bệnh, để làm gì? Để nó mau mau trở lại cầm súng chiến đấu cho Mỹ-Ngụy. Thế là không có tội à? Một linh mục, một thầy chùa, cầu an, cầu phước cho tên lính ngụy để nó an lành, mạnh khỏe, để nó hăng hái đi đánh phá cách mạng; thế là không có tội à? Một bà bán gánh bên đường, bán cho tên lính ngụy tô cháo, để nó ăn vào cho khỏe, một người bán càphê, giải khát bên đường, bán cho tên lính ngụy cốc càphê, ly nước ngọt, để nó uống cho đã khát, thoải mái, để làm gì? Để cầm súng đi đánh phá cách mạng. Vậy thì người bán chè, bán cháo, bán nước giải khát có tội với cách mạng không? Có tội quá đi chứ!!!

            Xem thế, ở miền Nam, ai ai cũng có tội với Cộng Sản hết, cứ gì phải làm ông nầy ông kia, giàu có, sang trọng mới có tội. Cách mạng Cọng Sản là cách mạng “triệt để” thì phải nhìn vấn đề một cách rốt ráo như thế mới đúng. Vậy nên khi Cọng Sản chiếm miền Nam rồi, có thành phần nào ở được với Cọng Sản mà không bỏ nước ra đi, ngoại trừ thành phần cột đèn là không đi như “quái kiệt” Trần Văn Trạch nói mà thôi. Vậy thì tất cả họ, dù đi được hay còn kẹt lại mà không đi được thì đều như nhau cả, đều là thứ “vết rêu của sỏi đá”, “vết bầm cuối cùng”, “giọt nước của ao tu”ø, v.v…

            Cũng cách suy luận như thế, chỉ có ai ở Mỹ mà thân nhân của họ trước 1975 ở ngoài vĩ tuyến 17, mới không phải là thứ “vết rêu của sỏi đá”, “vết bầm cuối cùng”, “giọt nước của ao tù”, v.v… Tôi không rõ thân nhân Nguyễn Bá Chung, trước thời gian di tản đó, ở trong hay ngoài vĩ tuyến 17.

            Lý luận như kiểu Cộng Sản nói trên, ông bà chúng ta ngày xưa thường gọi là “lý sự cùn”. Người Cộng Sản không có văn hóa dân tộc, họ chỉ có văn hóa vô sản, văn hóa Mác-xít nên dùng “ly sự cùn” mà nói lấy được, cãi lấy được” thì cũng không có gì lạ. Cái lạ là không lý một ông giáo sư đại học, như ông Nguyễn Bá Chung cũng dùng lỳ sự cùn hay sao???!!!

            Về số phận người miền Nam nói riêng hay tất cả những ai không đi theo Cọng Sản, hay đã đi theo rồi bỏ kháng chiến mà về thì tôi xin trích một đoạn trong “Gọng Kìm Lịch Sử” của ông Bùi Diễm:

            “Nhìn vào hoàn cảnh người quốc gia lúc đó, hay sau nầy, thì đây là cả một thế kẹt. Đúng lúc phải tranh đấu chống ngoại xâm để giành độc lập, họ lại bị đẩy vào đường hợp tác với ngoại quốc: và đó là điều không dễ gì giảng giải cho quần chúng. Cũng may là lịch sử những năm về sau không đến nỗi quá khắt khe với họ. Ngày nay, người dân đã thấy rõ là sau những tàn phá của hai trận chiến tranh và dưới một chế độ tự cho là “ưu việt” và “đỉnh cao của trí tuệ loài người”, lối dẫn đến “thiên đường Cọng Sản” chỉ đưa đất nước tới cảnh nghèo đói, lạc hậu. Nhưng vào hồi đó, với người Pháp (và sau nầy người Mỹ) ở bên cạnh, những người quốc gia Việt Nam, mặc dầu có chính nghĩa, lúc nào cũng bị vướng mắc vào một thứ mặc cảm, một tình trạng mà những người Cọng sản đã khôn khéo lợi dụng để tuyên truyền, chiếm giữ lấy “độc quyền yêu nước” trước mắt người dân. Thế kẹt đó quả là một thảm trạng khó có lối thoát cho những người quốc gia trong suốt mấy chục năm chiến tranh”.

(GKLS, trang 113, Bùi Diễm)

            Giải thích như Bùi Diễm là rõ và có tình, có lý. Hiểu hay không là do trình độ nhận thức mỗi người, có đeo lăng kính hay không, có đeo dàm ngựa hay không mà thôi.

            Trong đoạn trên, ông Bùi Diễm nói, những người quốc gia Việt Nam, mặc dầu có chính nghĩa, chính người Cọng Sản cũng phải xác nhận, nhưng họ nói trại đi là có lý tưởng.

            Để vấn đề nầy được rõ thêm, tôi trích sau đây nhận định của ông Bùi Tín, nguyên đại tá quân đội Cọng Sản Bắc Việt, phó tổng biên tập báo đảng Nhân Dân. Ông Bùi Tín là một trong những người đầu tiên vào “giải phóng Saigon” ngày 30 tháng Tư/1975. Sau ngày giải phóng đó, tiếp xúc với người miền Nam, tình hình miền Nam, cựu đại tá Cọng Sản Bùi Tín đã tỉnh táo hơn. Tỉnh táo (trước khi tỉnh là còn mê) là chữ ông Bùi Tín dùng trong đoạn trích sau đây:

“Từ những cách yêu nước khác nhau:

            “Trong các giáo trình lịch sử được dạy ở các trường hiện nay, nhiều sự kiện, nhân vật… cũng bị xuyên tạc. Các giáo trình ấy cho rằng Việt Nam Quốc Dân Đảng sau cuộc khi nghĩa Yên Bái bị thất bại, đã tan rã hoàn toàn. Các tổ chức Việt Nam Quốc Dân Đảng sau đó rồi Đại Việt Quốc Dân Đảng, Đại Việt Duy Dân cũng như Cách Mạng Đồng Minh Hội… đều bị coi là những tổ chức phản động, những tổ chức tay sai của Quốc Dân Đảng Trung Quốc, tay sai của thực dân Pháp hay của đế quốc Mỹ; nói tóm lại, những tổ chức ấy đều là những tổ chức “Việt gian”, do CIA Mỹ huấn luyện, và đào tạo… Rồi một loạt nhân vật chính trị, văn hóa khác như Võ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam, Khái Hưng, Hoàng Đạo… cũng bị nhận định là phản động, bán nước, Việt gian, tay sai thực dân và đế quốc… ”

            … … … … …

            Việc chụp mũ những người không có cùng chính kiến với đảng Cọng Sản là Việt gian có thể là một kiểu cách học theo đảng Cọng Sản Trung Quốc hồi nội chiến Quốc Cọng. Đảng Cọng Sản Trung Quốc coi những kẻ hợp tác với phát xít Nhật là Hán gian, coi chính phủ Uông Tinh Vệ là Hán gian, tay sai Nhật. Về sau chữ Hán gian được dùng rộng rãi, cứ ai không đồng tình và phê phán đường lối của đảng Cọng Sản Trung Quốc thì đều là Hán gian cả… Từ hai chữ Hán gian mà sinh ra hai chữ Việt gian. Đã là Việt gian thì đáng tội chết, đáng bị xử tử”.

            … … … … …

            “Tất cả những điều trên là hậu quả của một thời kỳ lịch sử. Đã đến lúc tỉnh táo nhìn lại và đánh giá một cách điềm tĩnh, khách quan. Có thể nói, ở các bên, chỉ có một số ít người đi làm chính trị để nhằm kiếm chác tiền tài và danh vọng. Phần lớn đi làm chính trị là nhằm giành lại độc lập cho đất nước, tiến bộ cho xã hội. Họ chịu đựng những hy sinh, tổn thất trong đấu tranh, có khi bị bắt bớ tù đày. Họ nhắm vào những giá trị mà họ tin tưởng, theo đường lối và biện pháp mà họ cho là đứng đắn. Họ lại phải tính đến những thế lực quốc tế, đến cuộc đấu tranh giữa những thế lực quốc tế ấy ở trong khu vực và trên thế giới. Và họ tìm chỗ dựa, tìm sự giúp đỡ và ủng hộ của bên nầy hay của bên kia, trong cuộc đấu tranh của tổ chức chính trị mà họ dựng lên hay tham gia”.

(Mặt thật – Thành Tín – trang 117. 118)

            Khoảng tháng 5/1979, sau khi Trung Cọng đánh 6 tỉnh dọc biên giới, trung tá Cọng Sản Trịnh Văn Thích, trại trưởng trại Cải Tạo Xuân Lộc Z-30A, đi Hà Nội về, gọi tất cả những người cải tạo lên hội trường giải thích về quan hệ giữa hai đảng Cọng Sản Trung Hoa và Việt Nam.Y nói: “Theo Trung Ương (đảng CSVN) cần tăng cưng học tập ngụy quân, ngụy quyền, làm sao họ thấy rõ đường lối chính sách của đảng và nhà nước vì trong tình hình bọn xâm lược Trung Quốc đang đánh phá, Trung Ương nhận định rằng, họ (cải tạo viên) đang bị giao động, dễ có tư duy lệnh lạc, lập trường quan điểm về cách mạng chông chênh vì trước đây, họ là những người “có lý tưởng tự do theo quan điểm tư bản chủ nghĩa. (Hội trường vỗ tay).

            Vì có lý tưởng nên người ta mới hăng hái, chịu hy sinh cho lý tưởng, còn như đánh giặc thuê (Cọng Sản tuyên truyền quân đội Miền Nam là đánh giặc thuê cho Mỹ), thì làm gì có lý tưởng, có tinh thần, dại gì hy sinh mạng sống, ai ai cũng lo thủ thân mình là trước như, lo “du học”, -với một số người cũng là cách trốn quân dịch, trốn nhiệm vụ đối với đất nước-. Trong cuộc chiến tranh chống Cọng Sản Bắc Việt xâm lược, người Miền Nam vì có lý tưởng nên mới có Phạm Phú Quốc, Trần Thế Vinh, Nguyễn Văn Đương, Nguyễn Đình Bảo, Hoàng Ngọc Hùng (Hùng Móm), Phan Nhật Nam, Nguyễn Lô, v.v… Quân Đội Việt Nam Cọng Hòa, không thiếu những kẻ anh hùng, chiến đấu và hy sinh cho lý tưởng của họ.

            Người Miền Nam, như Nguyễn Đạt Thịnh nhận xét “những con người vừa chấp nhận gian nguy chiến tranh, cang cường chiến đấu trong bất cứ hoàn cảnh nào, bằng bất cứ võ khí nào họ có trên tay, vừa sẵn sàng chấp nhận nhục nhằn nhược tiểu, tiếp tục cuộc chiến bằng một cuộc bỏ phiếu khổng lồ và minh bạch bằng chân. Họ uy phong bất khuất và dứt khoát khẳng định lập trưng yêu chuộng tự do, đập thẳng vào mặt cả bọn Cọng Sản xâm lăng, lẫn bọn siêu cưng ươn hèn”.

            “Chính họ mới là những ngưi xứng đáng hưởng, được sống trong không khí tự do và bình đẳng trong xã hội Mỹ, nếu như có điều kiện nào đó mà họ đã di tản sang Hoa Kỳ”.

            Trong cuốn Tuổi Trẻ Các Mác, Cao Xuân Hạo dịch, tôi thấy có mấy câu thơ của Karl Marx khá hay, xin trích lại đây:

                        Chỉ có ai bằng chiến đấu hiên ngang

                        Giành cuộc sống Tự do từng giờ từng phút

                        Mới đáng hưởng Tự do và Cuộc Đời Chân thật

            Nước Mỹ là quê hương của Tự do thì những người từng chiến đấu cho quốc gia, cho Tự do như Bùi Diễm, Nguyễn Đạt Thịnh nói ở trên và theo ý thơ của Mác, “mới đáng hưởng Tự do và Cuộc Đi Chân thật”. Còn những ai, chưa từng một giây, một phút chiến đấu hiên ngang cho Tự do, trốn tránh trách nhiệm bằng con đường … du học thì có xứng đáng hay không?

            Về bài văn của Nguyễn Bá Chung, tôi thấy có 3 ý chính:

            – Một là Mỹ có những mục đích cao cả ở VN – tự do và dân chủ.

            – Hai là những người đã “mang nặng tính chất thực dân”, và hầu hết họ đã “phản bội lịch sử” Việt Nam

            – Ba là Hồ Chí Minh có tất cả đầy đủ sự nghiệp “chính nghĩa – độc lập, thống nhất và công lý xã hội”.

            Trước khi bàn tới ba vấn đề nêu trên, tôi xin nói về việc Nguyễn Bá Chung không biết lịch sử Việt Nam.

            Trần Trọng Kim, trong bài tựa cuốn “Việt Nam Sử Lược” mà ông là tác giả, viết:

            “Bộ Việt Nam Sử Lược nầy, soạn giả chia ra làm 5 thời đại. Thời đại thứ nhứt là Thượng cổ thời đại, kể từ họ Hồng Bàng cho đến hết đời nhà Triệu… ”

(VNSL, trang ix, Trần Trọng Kim)

            Tiếp theo đó là: Phần I, Thượng cổ thời đại.

                                     Chương I, Họ Hồng Bàng.

 (2879-258 Tr. Tây lịch)

            Họ Hồng Bàng

            Nước Văn Lang

            Truyện cổ tích về đi Hồng Bàng:

                        Phù Đổng Thiên Vương, Sơn tinh, Thủy tinh

(VNSL, TTK, trang 11)

            Có vài nhận xét xin trình bày với độc giả:

            Thứ nhất, theo phần mới trích trên thì lịch sử Việt Nam bắt đầu từ Họ Hồng Bàng làm vua ở nước ta (câu nầy là nằm lòng của học sinh tiểu học, khi mới bắt đầu học lịch sử), kể từ năm đầu tiên của lịch sử vì Kinh Dương Vương làm vua ở nước Xích Quỷ vào quảng năm nhâm tuất (2879 trước Tây lịch?)

            Theo tôi nghĩ, thời gian thì đúng, nhưng năm thì chưa chắc đúng nên Trần Trọng Kim mới để dấu? sau chữ Tây lịch. Cọng chung, từ năm 2879 trước Tây lịch + năm 2000 (cứ cho là năm Nguyễn Bá Chung (NBC) làm bài văn nầy thì tổng cọng là 4879 năm. Câu người Việt Nam thường nói là “Bốn ngàn năm lịch sử” hoặc “Bốn ngàn năm văn hiến” là theo cách tính năm như trên.

            Vậy mà theo bài trên của Nguyễn Bá Chung, ông viết: – “với hai ngàn năm lịch sử mà vẫn chưa thành tựu được”. Hai ngàn năm nầy ở đâu ra? Nguyễn Bá Chung hiểu sai lịch sử hay Nguyễn Hữu Luyện chép lại sai?

            Nếu tính chỉ có hai ngàn năm lịch sử (kể từ đầu Tây lịch cho tới giờ) thì 18 đời vua Hùng Vương của họ Hồng Bàng nằm ở đâu? Mỗi năm “Giỗ Tổ Hùng Vương” là tổ của ai? Cậu bé ở làng Phù Đổng (làng Phù Đổng ở Bắc Ninh, Bắc VN) là “Phù Đổng Thiên Vương” thuộc lịch sử nước nào nhỉ? Và chuyện “Sơn tinh, Thủy tinh” huyền thoại hóa về nạn lụt ở sông Hồng thì ai đã dời núi Tản Viên và sông Hồng đi đâu mất rồi?

            Những người Cọng Sản (và cả những người theo đuôi Cọng sản) thường là “thiên tài”: Trước 1975 thì có thiên tài Nguyễn Văn Trỗi, Cù Chính Lan, Lê Mã Lương (đang còn sống và vinh quang lắm!) Phan Đình Giót “lấy thân mình lấp lỗ châu mai”. Bây giờ thì có “thiên tài thu ngắn lịch sử Nguyễn Bá Chung”. Cũng nhờ thiên tài đó mà Nguyễn Bá Chung được Mỹ cho làm Giám Đốc chương trình nghiên cứu về người tỵ nạn Cọng sản của WJC/UMB.

            Xin trở lại ba ý chính nói trên:

            Một là Mỹ có những mục đích cao cả ở VN – tự do và dân chủ.

            Kể từ quan hệ Mỹ Việt hồi thế kỷ thứ 19 tới giờ ta thấy:

            Theo chân các nước Tây phương đi tìm thuộc địa, Hoa Kỳ tìm kiếm cơ hội buôn bán với các nước bên kia Thái Bình Dương.

            Từ đầu thế kỷ 19, vài người Mỹ đến An-Nam (Việt Nam bấy giờ), tìm cách tiếp xúc với triều đình Huế để đề nghị giao thương. Chính phủ Mỹ cử đại diện là ông Edmund Roberts, đi trên tàu Peacock của Hải quân Mỹ do David Geisinger làm thuyền trưởng đến các nước châu Á thực hiện sứ mệnh như trên. Công việc của ông không thành.

            Sau đó, chiến hạm Mỹ Constitution thực hiện chuyến đi vòng quanh thế giới. Khi tàu ghé lại Đà-Nẵng, thì có một giáo dân lén báo cho biết giám mục Lefrèvre đang bị giam ở Huế vì tội giảng đạo trái phép. Thuyền trưởng John Percival, là một người nóng tính, dễ gây xung đột, được giới hàng hải đặt cho biệt danh là “Mad-Jack”, nghe tin, tức giận bèn cho binh lính của y đổ bộ lên bờ, bắt 5 người dân và 3 ông quan của triều đình Huế, đánh chìm 3 thuyền buồm, để buộc triều đình Huế thả giám mục Lefèvre. Vì vậy, triều đình Huế phải giao giám mục Lefèvre cho một chiến hạm ngoại quốc.

            Triều đình Huế cử đại diện đến gặp lãnh sự Mỹ ở Singapore là ông Joseph Balestier, than phiền việc làm của “Mad-Jack” và yêu cầu trừng phạt tên nầy. J. Balestier báo cáo về Mỹ, kèm theo lời đe dọa của triều đình Huế rằng nếu người Mỹ nào đến Việt Nam mà có hành động như J. Percival sẽ bị triều đình trừng phạt. Vì bản tường trình của J. balestier, chính phủ Mỹ gởi đại diện đi trên tàu USS Plymouth đến Huế để xin lỗi. Vì sự vụng về của các quan nhỏ ở địa phương, thư xin lỗi của bộ Ngoại giao Mỹ không đến được triều đình Huế. Không nhận được phúc đáp từ phía An-Nam, J. Balestier tức giận tuyên bố rằng nếu triều đình Huế trừng phạt bất cứ một du khách Mỹ nào đến An Nam thì chính phủ Mỹ sẽ gởi tới một đội quân hùng mạnh.

            Khoảng thập niên 1850, Đô đốc Perry tới các nước châu Á, có ghé lại Đà Nẵng. Sau chuyến đi, ông khuyến cáo chính phủ Mỹ nên mở rộng hữu nghị với các nước Đông Nam Á.

            Sau khi Pháp xâm lăng An Nam, Bùi Viện là người nhìn xa thấy rộng hơn cả, biết Mỹ có thể giúp An Nam chống Pháp, nên ông ta lén đi Hồng-Kông gặp lãnh sự Mỹ. Lãnh sự Mỹ đồng ý giúp đỡ nhưng phải có văn thư chính thức của chính quyền An-Nam.

            Ngờ rằng vua Tự đức không nhiệt tình trong việc cầu viện nầy, Bùi Viện làm giả một quốc thư và may một bộ quần áo tam phẩm, rồi cùng một người bạn đi Hoa Kỳ qua ngã Hồng Kông.

            Tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là Ulysses S. Grant, đang có mâu thuẫn với Napoleon III nên bằng lòng giúp đỡ. Tuy nhiên, Bùi Viện lại sợ vì việc nầy chưa trình lên nhà vua, nên xin nước để tâu lên vua Tự Đức.

            Được tâu, vua Tự Đức vui mừng cử Bùi Viện đi Mỹ với thư chính thức, phong cho Bùi Viện làm chánh sứ.

            Khi Bùi Viện qua Mỹ lần thứ hai, vì mâu thuẫn giữa Pháp và Mỹ đã giải quyết xong, nên phía Mỹ đặt ra những điều kiện khó khăn. Biết đó là cách từ chối khéo, nên Bùi Viện thất vọng ra về. (*)

            Xem thế, người ta thấy vì quyền lợi Mỹ, họ muốn giúp Bùi Viện, và cũng vì quyền lợi Mỹ, tổng thống Mỹ làm ngơ để Bùi Viện thất vọng ra về.

            Qua thế kỷ 20, sau Thế Giới Chiến Tranh Thứ Nhứt, người Mỹ muốn co cụm lại theo chủ nghĩa Monroe, nên không muốn dính líu đến những vấn đề ngoài châu Mỹ. Cũng vì vậy, tại hội nghị Versaille năm 1919, Nguyễn Ái Quốc có đưa thư trình bày việc Thực Dân Pháp cai trị và bóc lột các nước Đông Dương, tổng thống Mỹ cũng không lưu tâm tới.

            Ngược lại, ngay trong khi Thế Giới Chiến Tranh Thứ Hai chưa chấm dứt, với Đông Dương, Tổng Thống Mỹ Roosevelt đã chuẩn bị chính sách ủy trị (Trusteeship). Theo chính sách nầy, sau một thời gian dưới sự quản trị của một Hội Đồng Ủy Trị mà Mỹ nắm địa vị then chốt, các nước Đông Dương sẽ được độc lập. Cũng theo chính sách nầy, Pháp không được phép trở lại Đông Dương. Cung cách “ủy trị” như thế, sau bộ mặt nhân đạo trao trả độc lập, quyền lợi Pháp sẽ mất và quyền lợi Mỹ sẽ được mở rộng ở Đông Dương.

            Vì Staline chuẩn bị đấu tranh với phe Tư bản, thêm một lần nữa, Mỹ làm ngơ trước lời kêu gọi của Hồ Chí Minh, sau khi chính phủ Hồ Chí Minh được thành lập năm 1945. Sau năm 1952, với chính phủ mới, Mỹ thực hiện chiến lược bao vây Khối Cọng Sản bằng học thuyết Domino của ngoại trưởng Mỹ Foster Dulles, Việt Nam trở thành con cờ trong bức trường thành bao vây Cọng Sản, kéo dài từ Châu Âu qua tới Nhật Bản, mãi đến sau ngày 21 tháng 2/1972, ngày Tổng Thống Nixon đến thăm Mao Trạch Đông tại Trung Nam Hải, Mỹ-Tàu bắt tay nhau rồi, học thuyết Domino không còn giá trị nữa, Hà Nội thắng Saigon hay Saigon thắng Hà Nội không còn thiệt hại gì tới quyền lợi Mỹ ở Đông Dương nữa thì Mỹ phủi tay trước lời kêu cứu của Nam Việt Nam năm 1975. Gần cuối tháng Tư/1975, Tổng Thống Gerald Ford đi nghỉ mát và chơi tennis. Trong một cuộc họp báo, một phái viên báo chí hỏi phát ngôn nhân tòa Bạch Ốc: “Tại sao trong tình hình miền Nam VN đang dầu sôi lửa bỏng như thế, Tổng Thống Ford lại đi đánh tennis?” Phát ngôn nhân tòa Bạch Ốc hỏi lại: “Nếu Tổng Thống Ford không đi đánh tennis thì ông nghĩ tổng thống sẽ làm gì?” Mọi việc coi như huề.

            Qua một quá trình lịch sử như thế, vào lúc nào, bằng hành động nào ở trên trường quốc tế hay tại Việt Nam, và với ai, mà Nguyễn Bá Chung viết rằng Mỹ có những mục đích cao cả ở VN – tự do và dân chủ.

            Mỹ thực hiện tự do và dân chủ cho người Việt Nam chăng?

            Tôi là người Mỹ gốc Việt, tôi tuyên thệ trung thành với nước Mỹ khi tôi làm lễ nhập quốc tịch Mỹ, tôi được chính phủ và nhân dân Mỹ giúp đỡ khi tôi đến định cư ở Mỹ với giấy chứng nhận của Liên Hợp Quốc rằng tôi là người tỵ nạn chính trị, nhưng tôi không cần phải nói nịnh Mỹ như câu nói trên của ông Nguyễn Bá Chung.

            Hễ có nịnh trên thì nạt dưới, hoặc ngược lại, nạt dưới thì nịnh trên. Nguyễn Bá Chung nạt dưới, có nghĩa là khinh thị những ngưoi ông cho là thua ông ta, ông cho là thứ “vết rêu của sỏi đá”, “vết bầm cuối cùng”, “giọt nước của ao tù”, v.v… thì ông nịnh trên, nịnh Mỹ, vẽ râu cho Mỹ những điều cao đẹp mà thực ra, Mỹ không có làm gì hết ở Việt Nam, Mỹ không thực hiện tự do dân chủ cho người Việt Nam như Nguyễn Bá Chung đã nịnh. Điều nịnh ấy có gì lạ chăng? (Trong chế độ Cọng Sản, những thứ nầy nhiều lắm, xin xem tranh biếm họa kèm sau đây).

            Ba là Hồ Chí Minh có tất cả đầy đủ sự nghiệp chính nghĩa – độc lập, thống nhất và công lý xã hội.

            Về Hồ Chí Minh, sách báo hải ngoại nói về ông ta cũng đã nhiều, Nguyễn Bá Chung một là làm biếng đọc sách, hay không chịu đọc sách nên không biết gì thêm. Cũng có thể ông chê những sách đó nhảm nhí, không đáng cho ông ta đọc. Nói như thế cũng sai vì Khổng tử có nói: “Người ta khen ai ta cùng phải nghe, người ta chê ai, ta cũng phải nghe”. Người bất trí là người chỉ ưa nghe lời nói nịnh, nghe những gì trúng ý mình mà thôi. Tranh luận với một người như thế, chỉ thêm mất thì giờ. Tôi chỉ nêu ra đây vài điểm gúc mắc mà thôi:

            Năm 1990, tổ chức Uneso có trụ sở ở Pháp, dự trù làm kỷ niệm 100 năm ngay sinh của Hồ, nhưng cuối cùng lại bải bỏ là vì sao?

            Nói về tuổi trẻ của Nguyễn Tất Thành, thực chất không có gì hay ho đẹp dẽ như Cọng Sản Việt Nam tuyên truyền cả. Nhận sinh sau đây nói lên đầy đủ và ý nghĩa về huyền thoại tuổi trẻ một con người tầm thường hơn cả tuổi trẻ của nhiều thế hệ sau Hồ Chí Minh:

            “… Người ta cũng có thể đi đến kết luận rằng trong khoảng thời gian 1908-1911, Thành là một lãng tử vô định. Việc học hành lỡ dở, gia cảnh ly tán vì người cha rượu chè bê tha, hung dữ, cậu đã vượt ra ngoài khuôn khổ thông thường của một người dưới phố. Có thể cậu đã theo cha vào Nam, học nghề bốc thuốc. Hoặc có thể đã làm chân phụ bếp cho một khách sạn người Hoa, hay thư ký của một đồn điền nào đó. Trong một phút phẫn chí vì thất tình một cô bán cơm chợ Đa Kao, cậu đã đăng ký làm bồi tàu, hy vọng cuộc sống phiêu lưu trôi nổi nơi đất lạ sẽ giúp quên đi dĩ vãng, phó mặc đi sống nổi trôi theo dòng đời. Ước muốn tìm “chân lý” giải phóng đất nước, nếu có, cũng chỉ thoáng hiện, thoáng biến, mập mờ hư ảnh.

(Hồ Chí Minh, con người và huyền thoại,

trang 140)

            So với cựu đại tá Cọng Sản Bùi Tín, Nguyễn Bá Chung có thể trẻ hơn một thế hệ. Hiểu biết về Cọng Sản Việt Nam và Hồ Chí Minh, ông Bùi Tín hiểu biết và có kinh nghiệm hơn nhiều. Ông Bùi Tín tham gia kháng chiến khi còn trẻ, lại hoạt động trong ngành báo chí, và thân sinh ông Bùi Tín, cụ Bùi Bằng Đoàn nguyên là thượng thư Bộ Học, từng tham gia chính phủ Hồ Chí Minh trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Dĩ nhiên, nhận định của ông Bùi Tín về Hồ Chí Minh không thể là không xác đáng:

            “Việc nêu lên chuyện anh Nguyễn Tất Thành vì thấy cách mạng bị bế tắc do chủ trương Đông Du và cải lương thất bại nên ra đi để tìm đường cứu nước là cố nói lấy được nhằm tô vẻ lãnh tụ… ”

            “Một vấn đề rất lớn về ông Hồ Chí Minh: ông ta là người yêu nước theo chủ nghĩa dân tộc hay là một người Cọng Sản”.

(Mặt Thật- trang 99)

            Ông HCM là người yêu nước thực chăng? Vậy thì ông xin vào học trường Thuộc Địa để làm gì? Ngày 15 tháng 9 năm 1911, sau khi đến Pháp, ông làm đơn xin vào học trường Thuộc Địa, là trường đào tạo người Việt Nam sau khi tốt nghiệp thì ra làm việc cho Pháp. Dĩ nhiên là làm quan. Những người Việt xuất thân ở trường nầy và nổi tiếng có Bùi Quang Chiêu, Giáo sư Lê Văn Chỉnh, Thân Trọng Huề, Lê văn Miên, Bùi Kỷ, Bùi Thiện Cơ, Phan Kế Toại, Trương Như Định. Muốn vào học trường nầy, ít ra, phải đậu thi Hương (cử nhân), cũng có người đậu phó bảng, nhưng cũng có người chỉ là ấm sinh (con quan). Nguyễn Tất Thành không có bằng cấp gì hết, chỉ là ấm sinh, nhưng thuộc hàng quan lại không có thế lực (cha làm quan nhỏ (tri huyện) và bị cách chức vì can tội say rượu đánh chết dân). Biết vậy, Nguyễn Tất Thành rất khúm núm và nịnh bợ trong đơn bằng những câu như “muốn được hữu dụng cho nước Pháp” (không phải cho dân tộcViệt Nam như Cọng sản tuyên truyền), và “công bộc trung thành” (serviteur dévoué) cho các quan Pháp.

            (Xem phần phụ bản trong HCM,

Con Người và Huyền Thoại của Chính Đạo,

 trang 26)

            HCM còn tệ hơn thế nữa, Bùi Tín còn cho biết:

            “ … Thật ra ông Hồ Chí Minh ít có chính kiến riêng về đường lối chính trị. Đến tinh thần dân tộc trong tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin như ông Tito ở Nam Tư, ông Hồ cũng không có. Ông tuyệt đối tin tưởng ở đường lối và kinh nghiệm của Liên Xô, không một chút phê phán với thái độ giáo điều”.

(Mặt Thật, Bùi Tín-

trang 99)

            Về cuộc đời riêng của HCM, thôi khỏi nói tới những bà vợ Nga, vợ Tầu hay vợ Mường, vợ Mọi của ông, ông làm tuốt, chỉ nói tới một vụ Nông Thị Xuân cũng đủ thấy người Việt Nam không ai dám làm như Hồ Chí Minh, nếu còn chút lương tâm.

            Đầu năm 1955, Nông Thị Xuân, khoảng 20 tuổi, quê ở Hòa An, Cao Bằng về phục vụ “bác”, lúc đó 65 tuổi, và sinh ra Hồ Chí Trung. Mười năm trước 1945, khi HCM mới cầm quyền, Nông Thị Xuân mới 10 tuổi, là “cháu ngoan bác Hồ”. Bây giờ “bác” ngủ với “cháu ngoan” là bác “già đời chưa trót thế” nghĩa là vậy. Vì, – như trong đơn thưa của vợ chồng Nguyễn Thị Vàng gởi Chủ Tịch Quốc Hội Cọng Sản Nguyễn Hữu Thọ, – “Nông thị Xuân xin ra công khai” là vợ HCM nên Nông Thị Xuân bị bức tử. Trước khi dựng lên vụ Nông Thị Xuân bị đụng xe chết, Trần Quốc Hoàn đã hiếp Nông Thị Xuân nhiều lần.

            Hồ Chí Trung được đem cho Vũ Kỳ làm con nuôi. Vũ Kỳ có hai con đẻ là Vũ Vinh và Vũ Quang, còn Vũ Trung là con nuôi, con của Nông Thị Xuân và HCM, là em khác mẹ với Nông Đức Mạnh, hiện nay là Tổng Bí Thư đảng CSVN. Vũ Trung là con có cha, mẹ trở thành đứa con hoang.

            Một người từng ăn ở, phục vụ mình như vợ chồng, mình lại làm ngơ cho bộ hạ hiếp dâm rồi cho giết đi để giữ tiếng cho mình là “Cha già dân tộc”, vì dân vì nước mà không lập gia đình. Người đó là người gì? Có xứng làm chồng hay không? Minh quân hay bạo chúa?

            Một người có con, không nuôi con mà đem cho, cũng để giữ cho mình cái tiếng là “Cha già dân tộc”, vì dân vì nước mà không lập gia đình. Người đó là người gì? Có xứng làm cha hay không? Minh quân hay bạo chúa?

            Nói về HCM, bấy nhiêu điều cùng đủ thấy ghê tởm rồi.

            Tuy nhiên, xem vậy mà HCM là thần tượng của Nguyễn Bá Chung đấy. Ai có sống gần gủi Nguyễn Bá Chung thì đừng quên rằng HCM là thần tượng của Nguyễn Bá Chung.

            Nghe nói Nguyễn Bá Chung có bố bị Tây bắn chết nên ông sinh ra thù hận ai có dính líu tới Tây hay ở Nam VN.

            Trường hợp như Nguyễn Bá Chung, ở Việt Nam thiếu gì những gia đình như thế, và có mấy ai thù oán dai như thế.

            Ba tôi đi kháng chiến chống Pháp và chết ở chiến khu Ba Lòng năm 1949 vì bệnh (nếu không đi kháng chiến, có lẽ ba tôi không qua đời sớm như thế, mới 49 tuổi). Mẹ tôi còn trẻ, không lấy chồng, ở vậy nuôi 8 người con. Bốn con trai của mẹ tôi, người con đầu (anh cả tôi) là Hồng Quang (Hoàng Thế Thạnh), cán bộ tình báo trung đoàn 95, được giao công tác về hoạt động nội thành ở Huế. Ông là người nổi tiếng cực lực chống Pháp và chống Phan Văn Giáo (lúc đó là thủ hiến Trung Việt) qua tờ báo do người anh cả tôi chủ trương, tờ Ý-Dân (1950), mặc dù Phan Văn Giáo đã tìm cách mua chuộc và hứa hẹn cho làm giám đốc báo chí phủ Thủ Hiến nhưng anh cả tôi từ chối. Do đó, ông bị Pháp và Phan Văn Giáo bắt thủ tiêu, không rõ ngày tháng chết và nơi chôn.

Công việc của anh cả tôi, hiện ông Lê Xuân Nhuận, tức nhà thờ Thanh Thanh, anh của anh hùng Lý Tống, hiện cư trú ở San José biết rõ, vì ông là người từng cọng tác với anh cả tôi trong việc xuất bản tờ báo “Ý Dân” của anh tôi thời lỳ đó.

Em út của tôi, Hoàng Ngọc Hùng (Hùng Móm), cố thiếu tá, Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù VNCH, hy sinh ngày 14 tháng 7/1972 tại thành phố Quảng Trị, thành phố quê hương của chúng tôi, khi Hùng chỉ huy đại đội tấn công tái chiếm thành phố Quảng Trị. Việc hy sinh của Hùng móm, được Phan Nhật Nam ca ngợi trong tác phẩm Mùa Hè Đỏ Lửa của ông.

            Về phía bên nầy hay bên kia, gia đình chúng tôi đều có người tham gia, người chống và hy sinh. Tuy nhiên, ba tôi, các anh tôi, em tôi cũng như bản thân chúng tôi đều có chí hướng, có lý tưởng và vui sướng khi phục vụ cho lý tưởng đó, ai sai thì phê bình nhưng không định kiến, không thù hận, có khi còn thông cảm cho kẻ địch của mình nữa. Có được điều đó, là vì chúng tôi được mẹ dạy cho lòng thương người, yêu người mà ngay từ khi chưa đi học, tôi đã nghe mẹ dạy Gia Huấn Ca: “Thương người như thể thương thân”.

            Tội nghiệp cho những ai thiếu lời mẹ dạy!

            Trước khi chấm dứt bài viết nầy, tôi nói qua một ý về bai thơ “Trở Về” của Nguyễn BáChung. Ông viết:

                        Tôi sẽ về làm người không manh áo

                        Giá áo túi cơm rồi cũng chẳng làm gì!

            Có phải ông Nguyễn Bá Chung muốn nói những người di tản là “giá áo túi cơm” (những người di tản đến nịnh bợ Nguyễn Bá Chung thì ông có nhìn họ là “giá áo túi cơm” hay không?)

            Thế những người nịnh Mỹ vì Mỹ cho địa vị, cho cơm áo, cho nhà cửa, xe cộ thì có “giá áo túi cơm” hay không. Có ai là thằng nịnh mà không giá áo túi cơm?

            Còn Nguyễn Bá Chung nói ông sẽ “Trở Về”.

            Xin cứ tự nhiên mà về Việt Nam. Ở đời, có nhiều người nói mà không dám làm. Đó là kẻ hèn.

            Nói mà làm mới là người có khí phách. Những người như NBC, nên về nước để phục vụ dân tộc (người di tản có về thì Cọng Sản cũng không dùng họ). Nhờ dân tộc Ciệt Nam (tôi nhấn mạnh là nhờ dân tộc Việt Nam), Nguyễn Bá Chung đã được đi du học, đã thành tài thì nay nên về để phục vụ, trả ơn dân tộc, Như NBC nói, ông về để tạ tội với Cọng Sản như ông nói sau đây thì Cọng sản sẽ trọng dụng ông!

                        Tôi sẽ về làm người tù tự trói

                        Mang trên mình những biểu ngữ đầy tên

                        Để được sống một lần trong tự hối

                        Với những người không biết vẫn thân quen.

            Để có đủ thời gian chuẩn bị cho chuyến về, thì một hay hai năm nữa, nếu Nguyễn Bá Chung về thật như lời ông hứa trong bài thơ “Trở Về” thì xin độc giả cứ mắng ngay vào mặt tôi rằng tôi là kẻ không biết nhìn người.

            Còn nếu như một hai năm nữa Nguyễn Bá Chung còn ở Mỹ, chưa về, thì độc giả sẽ đánh giá ông là người nói là làm, là có khí phách hay chỉ là nói miệng, nói phách tấu, muốn sống ở Mỹ cho sung sướng thân mình, dù vẫn tự chối rằng mình không phải là kẻ “giá áo túi cơm” nhưng thực chất chỉ là một thằng hèn./

            Xin độc giả chờ xem!

            Hai năm nữa, tôi lại sẽ lên tiếng một lần nữa việc nầy.

            Tháng 4/2002

            hoànglonghải/tuệchương

Chưa cầm nếm,anh đã biết là bánh vẽ

Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn

Cầm lên nhấm nháp

Chả là nếu anh từ chối

Chúng sẽ bảo anh pha thối

Êm vui!

Chế Lan Viên (di cảo 1987)

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

1 Trackback / Pingback

  1. Vụ án William Joiner Center: Đầu Ngô mình Sở – hoànglonghải | Văn Tuyển

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: