Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Sự suy tàn của các Thành Quốc ở Hy Lạp – Trần Thanh Hiệp

Vào thời điểm thế kỷ thứ VII trước CN, sự đột xuất của các Thành Quốc tại Hy Lạp đã được hậu thế chào đón như một “Phép Lạ” mở đường cho loài người bước từ cổ đại sang tân đại. Những xã hội tân tiến ngày nay, gần 30 thế kỷ sau, vẫn còn mang nhiều thành tố nền tảng xuất phát từ cơ cấu do các Thành Quốc Hy Lạp thủa xưa đã sáng chế. Tuy sự tôn sùng này không phải là đã không dựa trên những lý do xác đáng, và tuy rằng chỉ có tên tuổi của ba người nổi tiếng là Socrate, Platon và Aristote thường được gắn liền với phép lạ đó, nhưng công bình mà nói, các Thành Quốc ở Hy Lạp này thật ra chính là sự đóng góp âm thầm, trên cả hai bình diện khái niệm và định chế, của nhiều nhà tư tưởng, nhiều nhà cải cách vô danh. Cũng như các Thành Quốc ấy còn là những đáp ứng cho một loạt nhu cầu của xã hội Hy Lạp đương thời đang trải qua một cuộc khủng hoảng về chủ quyền, đang cần có một không gian công cộng chung, chủ trương phải đề cao vai trò của lý trí và ngôn ngữ, đang đòi hỏi sự bình đẳng cũng như sự biến đổi của tôn giáo. Sự thỏa mãn được các nhu cầu trên đã dẫn tới sự ra đời của các Thành Quốc mà các tác phẩm chính trị nổi tiếng như Cộng Hòa (La République) của Platon và Chính Trị (La Politique) của Aristote đã miêu tả, phê bình và lưu lại kiến thức, kinh nghiệm chính trị cho hậu thế.

Suy tàn không phải chỉ là tự băng hoại

Trên dòng thời gian, các Thành Quốc ở Hy Lạp, vào thời điểm từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ IV trước CN, như một “phép lạ”, đã mang lại cho vùng đất này một nếp sống văn minh sáng chói về mọi mặt, chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa… Người ta cứ tưởng rằng với đà tiến hóa đó, Hy Lạp trong tương lai sẽ trở thành một ngọn đuốc soi đường cho văn hóa nhân loại. Nhưng không ngờ rằng từ phần nửa sau thế kỷ thứ IV trước CN, cuộc sống chung tại các Thành Quốc bỗng trở nên sa sút, quyền tự do chính trị của người dân, dưới nhiều hình thức, đã tiêu trầm.

Paul Valéry, khuôn mặt văn hóa hàng đầu của nước Pháp, đầu thế kỷ trước, đã đưa ra một nhận định trong tác phẩm Tạp Lục (Variétés) của ông – được rất nhiều người trích dẫn – rằng “Chúng ta, văn minh, bây giờ biết được rằng chúng ta không thể là bất tử (Nous autres, civilisations, nous savons maintenant que nous sommes mortelles). Qua nhận định này, hình như Paul Valery muốn nhắn gửi suy nghĩ của ông theo đó, mỗi khi cần lấy thái độ trước những hiện tượng về văn minh, thì đừng thất vọng, cũng như đừng hy vọng, mà phải tìm hiểu.
Và nếu tìm hiểu, thay vì thất vọng hay hy vọng trước sự kiện các Thành Quốc ở Hy Lạp vào cuối Thế kỷ thứ IV trước CN đã lần lượt ra khỏi vũ đài lịch sử, thì sự suy tàn của những thực thể một thời sáng chói ấy đã không hoàn toàn chỉ là một sự tan rã vật thể. Mà là một bước chuyển đoạn, một sự tiếp nối, mở đường cho phát triển. Dĩ nhiên, bước chuyển hóa này không phải đã không có những nguyên nhân tiêu cực mà còn có những nguyên nhân tích cực nữa. Hay nói cách khác, cho chính xác hơn, đã có những nguyên nhân chủ quan và những nguyên nhân khách quan của một sự biến đổi, dưới đòi hỏi có tính cưỡng hành của tiến bộ.

Những nguyên nhân “bên trong hay tiêu cực” của sự suy tàn của các Thành Quốc

Đối với nhóm du mục người Ấn Âu (India-Europa) từ phương Bắc, nhiều đợt di dân xuống bán đảo Grecia (Hy Lạp), một mỏm nhỏ hẹp và trắc trở mọc trồi ra từ bụng của lục địa Europa, sống tụ tập thành những nhóm nhỏ trên những vùng đất đồng bằng hay những thung lũng nhỏ của bán đảo, vì hình thể của bán đảo đã không cho phép họ họ hội tụ đông đảo. Đợt di dân cuối cùng, vào thời điểm thế kỷ thứ XII trước CN, đã diễn ra như một cuộc xâm lăng của những đoàn cướp võ trang của những người nói thổ ngữ Dorian, giống như tiếng nói của dân Helen ở thành Dorit, đến tàn phá cung điện, đền đài xua đuổi thổ dân và chiếm đất để ở lại định cư tại vùng đất mới. Biến cố này đã là nguồn gốc của sự đột xuất của các Thành Quốc ở Hy Lạp vào khoảng thế kỷ thứ VIII, thứ VII trước CN.

Cuộc sống chung, trên một lãnh thổ có địa hình chia cắt, rất ít đất liền xen lẫn với núi và biển, đã sản sinh ra một loạt thực thể tự trị, tự túc, độc lập với nhau. Nhưng chính nhờ vậy mà một nền “văn minh thành quốc” đã ra đời, mang lại cho Hy Lạp một nếp sống tự do, trù phú trong đa nguyên, đa dạng, dĩ nhiên còn tương đối thôi vì những hạn chế của ngoại cảnh. Và cũng là điều tự nhiên, nếu tình trạng chia cắt tự nhiên của hình thể lãnh thổ đã dẫn tới tâm lý đam mê độc lập, trong nội bộ một Thành Quốc, và, chia rẽ sâu sắc giữa những Thành Quốc. Cho nên với sự hiện hữu của hàng trăm Thành Quốc độc lập – thực ra là biệt lập – Hy Lạp đã gặp trở ngại tới mức không thể thực hiện được sự thống nhất làm nền tảng cho một Quốc gia chừng nào các Thành Quốc còn tồn tại. Tức là các Thành Quốc này là những nguyên nhân “bên trong, chủ quan” của sự suy tàn của các Thành Quốc.

Mặt khác, sự tranh hùng vì bá quyền giữa các Thành Quốc, hay đúng hơn, giữa hai Thành Quốc hàng đầu là Athènes và Sparte, cùng với các liên minh của hai Thành Quốc này, cũng là những nguyên nhân “tiêu cực,chủ quan” khác đưa tới sự sụp đổ của các Thành Quốc.

Ngoài ra, những biến đổi của xã hội Hy Lạp đương thời không phải chỉ bắt nguồn từ những nguyên nhân chủ quan ở bên trong, mà còn đến từ bên ngoài. Những nguyên nhân khách quan này có thể chia ra làm hai loại. Một đằng là những nguyên nhân văn hóa, đằng khác là những nguyên nhân quân sự.

Về mặt tư tưởng chính trị, một khi Thành Quốc không còn giữ được địa vị nhất tôn nữa thì một số xu hướng chống Thành Quốc đã xuất hiện để đánh phá và chối bỏ Thành Quốc, cổ võ cho tư tưởng “thế giới đại đồng” (cosmopolitisme). Đó là các xu hướng “Xi Ních” (Cyniques), trong trường hợp này tạm dich ra tiếng Việt là “Phái Khuyển Nho” mà người sáng lập là Diogène de Sinope, người tự nhận mình là “chó”, thường truyền bá tư tưởng của mình nơi một ổ chó, “Phái Khoái Lạc” (Epicuriens) và “Phái Khắc Kỷ” (Stoiciens).

Phái “Xi Ních” chủ trương phải thiết lập một thế giới chính trị mới, trong đó con người sống tự nhiên, nghĩa là thật gần với thiên nhiên, ngoài mọi ràng buộc của lề thói, của các định chế, luật lệ của xã hội. Một lối sống hoàn toàn ngoài vòng cương tỏa, tự nhiên như khi chưa có xã hội. Một lối sống không cần quê hương, tổ quốc, chỉ biết cá nhân, bất cần tập thể. Thứ chủ nghĩa cá nhân tuyệt đối này rõ ràng là thù địch của tư tưởng Thành Quốc.

Phái “Khoái Lạc” (Epicuriens, danh xưng đặt theo tên của người sáng lập là Epicure) không chủ trương đi tìm khoái lạc cho riêng cá nhân, không chối bỏ các định chế xã hội, nhưng đòi hỏi rằng cuộc sống của con người phải được khoái lạc, trong thanh bình và công lý. Và đó là hạnh phúc mà ai cũng có quyền hưởng. Vì vậy sẽ không thể có được cái gọi là luân lý tự nhiên mà phải tùy thời, tùy hoàn cảnh. Tức là phải tương đối hóa luân lý, chính trị bằng sự kết ước khi thành lập xã hội. Tức là không có tư tưởng xã hội tự nhiên. Không bó buộc phải sống trong Thành Quốc.

Phái “Khắc Kỷ” (Stoiciens) chủ trì rằng thế giới loài người chịu sự chi phối của thần quyền nên chỉ có một xã hội độc nhất để con người sống, đó là Vũ Trụ. Vũ Trụ là xã hội của của thần thánh của con người đều bình đẳng. Do đó, trong vũ trụ mọi người đều bình đẳng và sống tự nhiên khi nghe theo lý trí và trí thông minh. Các định chế quốc gia hay chế độ nô lệ đều không phải là sản phẩm của tự nhiên. Tuy nhiên, trong thực tế không ai đứng ra thực hiện sự bình đẳng này và sự bình đẳng ấy rút lại chỉ còn là một triết lý sống thuần túy, ngay cả khi dưới sự áp bức.

Những nguyên nhân “bên ngoài” kể trên, tuy là những mũi tấn công hướng vào các Thành Quốc, nhưng không phải là những sức mạnh cưỡng hành đẩy các Thành Quốc vào tình trạng phải tan rã. Phải đợi năm 338 trước CN, xảy ra việc vua Philippe II của Macedonia đánh chiếm bán đảo Grecia và con của Philipp II là Alexandre III, thường được gọi là Alexandre Đại Đế (A Lịch San Đại Đế) đem quân mở cuộc trường chinh sang Châu Á, và như một cơn lốc, chinh phục tất cả Đế quốc Persia, chỉ dừng ngựa lại ở vùng Ngũ Hà (Punjab) của Ấn Độ, thì các Thành Quốc mới bị chìm ngập trong cái không gian chính trị mà danh tướng Alerxandre III, với giấc mộng hợp nhất châu Á với châu Âu, đã mở rộng như một chiến công oanh liệt bậc nhất trong lịch sử loài người.

Và nhìn trong toàn cảnh của những biến động đầy kịch tính nhưng thật vĩ đại này thì sự suy tàn của các Thành Quốc ở Hy Lạp đã là, và cũng chỉ là, một trang sử đã viết xong, không có gì để “thất vọng hay hy vọng”.

© Trần Thanh Hiệp

June 21, 2014

——————————-
TÀI LIỆU BỔ TÚC:

Tôi chuyển tới độc giả link sau đây: http://xemphimso.com/phim-alexander-dai-de/4924.html để nếu quí vị có thời giờ vô coi cuộc trường chinh của Alexander Đại Đế mà tôi đã coi, sau khi viết bài “Sự suy tàn…”. Cảm tưởng của tôi là mấy dòng chót của bài đó vô tình đã phản ánh được cái nhìn toàn bộ trong phim của đạo diễn Olivier Stone…

II.- Suy tàn để mở đường đi vào tương lai

Cách đây 6 năm, hai giáo sư về cổ học tại Đại học Pacific Lutheran University of Tacoma là ông Eric D. Nelson và bà Susan K. Allard-Nelson (triết gia, chuyên khảo về Aristote) đã gọi biến cố suy tàn của các Thành Quốc, xảy ra vào thời điểm nửa phần đầu thế kỷ thứ IV trước Công Nguyên (CN) ở Hy Lạp, là “buổi hoàng hôn chói sáng”. Dưới mắt hai nhà giáo dục này, “văn hóa Hy Lạp là nền móng của xã hội tân tiến ngày nay” ở phương Tây. Cũng đi cùng chiều với cách nhìn lại quá khứ này là nhận định, theo đó, sự suy tàn của các Thành Quốc nói trên không phải chỉ là một sự tự băng hoại đơn thuần. Mà là một biến thái để mở đường đi vào tương lai. Tại sao lại có hiện tượng chuyển hóa lịch sử “hoàng hôn chói sáng” ấy, và nó đã diễn ra như thế nào?

1. Thời thế tạo anh hùng nhưng anh hùng cũng tạo thời thế

Nếu có thể gọi ngày tàn của các Thành Quốc ở Hy Lạp là một “buổi hoàng hôn chói sáng” thì cũng có thể đặt tên cho ngày các Thành Quốc ấy xuất hiện trên đất Hy Lạp là “buổi rạng đông rực rỡ”. Đây không phải là một thủ thuật thậm xưng, nói quá mức để làm cho câu văn thêm hấp dẫn, không cần biết cách mô tả này đã phản ánh đúng hay sai sự thật. Phải tránh không đánh giá vội vã bút pháp nói trên chỉ thuần về mặt ngữ nghĩa, mà phải bỏ công thâu thập, suy nghĩ để cân nhắc các sự kiện đã diễn ra trong cuộc sống thực tế tại các Thành Quốc ở Hy Lạp vào thời điểm từ giữa thế kỷ thứ VII đến giữa thế kỷ thứ IV trước CN, thì mới thấy được rằng bút pháp ấy, bằng hình ảnh, đã nêu lên được ý nghĩa lịch sử rất đặc biệt của xã hội Hy Lạp ở vào giai đoạn tiếp liền theo sau thời thái cổ. Và thêm vào đó, còn hiểu rõ được vì sao những ảnh hưởng sâu rộng của cuộc sống ấy đã được ghi khắc khắp các mặt, khoa học, văn học, nghệ thuật, chính trị v.v…vào tiềm thức các xã hội tân tiến hiện đại trên thế giới ngày nay, không riêng gì trong vùng Địa Trung Hải và vùng tiếp giáp của ba châu Âu, Á và Phi.

Để cảm chiêu được với những người Hy Lạp thời các Thành Quốc – tiếp theo liền ngay sau thời thái cổ – thì trong hành trang du hành ngược dòng thời gian, thông qua sự tương tác giữa con người và các biến cố – cái thường được gọi là mối liên hệ giữa “thời thế và anh hùng” – ngoài khán pháp lạnh lùng của sử học, còn phải mang theo sự rung cảm nồng nàn và đa dạng của những tâm hồn những người Hy Lạp đã viết ra những trang sử Hy Lạp, một thời, dưới sự thúc đẩy của tình người, biểu hiện qua sự sợ hãi, óc trọng danh dự, lòng vị kỷ, tham vọng quyền lực, tất cả hòa quyện với nhau trong tâm trạng dưới dấu ấn của lý trí nhưng vẫn còn vương vấn với sức mạnh của thần quyền, sự nghiệt ngã bi thảm của số mệnh, những khổ đau của đời sống con người, những khát vọng công lý giữa cuộc đời v.v…

Nhìn sự việc dưới góc độ như vậy thì tất yếu đã phải thấy “bình minh rực rỡ” và “hoàng hôn chói sáng”, những hình ảnh giữ lại cho hậu thế một nếp sống đặc thù của một tập thể người, đã phát minh ra sự tự do vừa cá thể vừa tập thể, đã biết tổ chức cuộc sống chung để thử nghiệm sâu sắc hai thứ tự do đó mà ngôn ngữ thời đại bây giờ gọi là “văn minh Thành Quốc”.

Trên dòng thời gian, các sự việc đã thành tựu như thế nào?

Cho đến gần giữa thế kỷ thứ IV trước CN, văn minh Thành Quốc đã tạo ra được một khung cảnh xã hội trong đó người dân Hy Lạp đã sống cả một thế kỷ văn hóa nở rộ, với những sáng tác phẩm đủ loại, văn học, khoa học, triết học, nghệ thuật, hội họa, đồ gốm, kiến trúc v.v… Nhưng cuộc sống này đã không diễn ra một cách êm ả trong xã hội mà nhiều lúc đã phải đắm chìm trong tranh chấp, loạn ly…

Thời thế biến đổi, con người biến đổi.

Về thời thế, văn minh Thành Quốc đã đạt được thành quả cụ thể là sự phát triển về mọi mặt quân sự, chính trị, văn hóa, thương mại, những yếu tố mang lại kích thích mới cho cả vùng đất giao tiếp với bán đảo Grecia (Hy Lạp). Phong cảnh chính trị, xã hội của vùng này một thời nở rộ như phép lạ, với các Thành Quốc, đã không tồn tại mãi mãi. Chiến tranh, thương mại đã khiến cho các Thành Quốc trước đó biệt lập nay trở thành liên lập dưới nhiều hình thức. Ngoài ra, trong tình huống ấy, tham vọng bá quyền tất nảy sinh và dẫn tới xung đột võ trang nội chiến. Một số Thành Quốc hàng đầu của Hy Lạp như Athènes, Sparta, Corinthe, Thèbes v.v… lúc hợp, lúc tan đánh chiếm lẫn nhau.

Thời thế này đã là cơ hội cho anh hùng xuất hiện để lãnh đạo cuộc tái phân phối quyền lực, thay đổi trật tự chính trị trong xã hội. Cơ cấu Thành Quốc, những thực thể chính trị tự trị, tự túc, tự cấp, với tuổi thọ gần hai thế kỷ dần dần mất đi địa vị độc tôn để nhường bước cho sự ra đời của những cơ cấu tập quyền mới mà cuộc thay đổi trật tự đòi hỏi. Mặt khác, xu hướng dân chủ lại bị xu hướng độc đoán quân phiệt, quả đầu chế (oligarchique) đẩy lui ra khỏi vũ đài chính trị. Thời thế ở Hy Lạp, vào thời điểm đầu thế kỷ thứ IV trước CN, chẳng khác gì một màn tuồng bi hài kịch được trình điễn trên sân khấu (đó cũng là cách nhìn cuộc đời phổ thông, giữa những người Hy Lạp).

Ba hồi của vở tuồng này là 3 cuộc chiến tranh – hai nội chiến, một viễn chinh – đã nhào nặn lại cơ cấu Thành Quốc rồi làm thay đổi hẳn hướng diễn biến của lịch sử Hy Lạp.

Cuộc chiến tranh thứ nhất là cuộc đánh chiếm toàn cõi Hy Lạp, diễn ra nhiều đợt, của Philippe II, vua nước láng giềng ở phương Bắc, Macédoine. Được cha là vua Amyntas III truyền ngôi, Philippe II đã đột xuất như một anh hùng cứu quốc, đối nội dẹp loạn phân ly tại các vùng, thống nhất nội trị. Đối ngoại, mở rộng biên cương cho Macédoine bằng những trận chiến quân sự, phá bỏ vòng vây của các lân bang thù địch, kiểm soát những vùng bờ biển cần yếu để thông thương với nước ngoài, khai thác các mỏ đồng, mỏ bạc kiếm lời gây công qũy. Hai thành tích to lớn của Philippe II là, một, đánh chiếm để, từ đó, thống nhất được Hy Lạp và, hai, cải tổ bộ binh và kỵ binh, chế tạo vũ khí mới, hoàn thiện binh thuyết, xây dựng cho Macédoine một quân đội thiện chiến và hùng mạnh đứng bậc nhất trong vùng.

Sau hết, Philippe II còn mưu tính nhiều dự án trong đó có cuộc viễn chinh đánh chiếm Đế quốc Ba Tư (Perse), giàu mạnh, mà lãnh thổ trải rộng ra tận lưu vực sông Indus ở Ấn Độ ở phía Đông, xuống tới Ai Cập (Egypte), Hy Lạp ở phía Nam…
Trong chừng mực đó, người ta có thể nói rằng Philippe II là người anh hùng tuy do thời thế tạo nên. Nhưng đồng thời, ngược lại, Philippe II cũng đã góp phần thay đổi thời thế, tạo điều kiện mở mang bờ cõi cho Macédoine, thống nhất Hy Lạp, quy tụ các lực lượng lẻ tẻ trong vùng, họp thành một chủ lực có khả năng tranh thắng với Đế quốc Ba Tư. Philippe II, như vậy, là đã mở ra những triển vọng mới về tương lai, những triển vọng có ý nghĩa thời thế mới cho những tác nhân lịch sử mới, những triển vọng không thể triển khai nếu không có bàn tay của Philippe II.

Cuộc chiến tranh thứ hai là cuộc nội chiến giữa hai Thành Quốc hàng đầu của Hy Lạp là Sparte và Athènes. Hai Thành Quốc này, tranh giành nhau bá quyền, đã thử thách nhau qua hai đợt xung đột võ trang gây ra cho Hy Lạp thảm cảnh chinh chiến trong 26 năm (430-404 tr.CN). Rốt cuộc, Athènes đã thảm bại phải đầu hàng Sparte. Biến cố nội chiến này đã khiến cho những ánh hào quang rực rỡ của các Thành Quốc tắt dần cho đến khi cuộc chiến tranh thứ ba – cuộc viễn chinh đánh chiếm Đế quốc Ba Tư nổ ra – thì đã không còn bóng dáng các Thành Quốc trên đất Hy Lạp nữa.

Bị ám sát chết khi còn đang trị vì, Philippe II đã phải bỏ dở việc thực hiện dự tính đánh chiếm Đế quốc Ba Tư này. Sứ mệnh viễn chinh ấy đã được trao lại cho con trai của Philippe II là Alexandre III, mà Philippe II đã lo tính đào tạo từ thời thơ ấu cho thành một nhà lãnh đạo văn võ toàn tài. Với dụng ý đó, Philippe II đã gửi Alexandre III đi thụ huấn về quân sự, mời Aristote vào vương cung dạy dỗ cho thái tử Alexandre III. Để sau này sẽ thành một nhà lãnh đạo hàng đầu, một người Hy Lạp gương mẫu và, nhất là thành một ông vua anh hùng, “Vua của các Vua”, một “Vua của Thế giới”. Philippe II đã nuôi chí lớn này cho con mình khi nó chỉ mới 12 tuổi mà đã trị được con ngựa quí Bucéphale, bất kham, không cho ai cưỡi. “Con phải lập được một nước khác, xứng đáng với con hơn, nước Macédoine này không đủ cho con cai trị”. Philippe II nói với Alexander III như vậy khi Alexnder III trên mình ngựa Bucéphale nhảy xuống đất.

Và Alexandre III, 20 tuổi, đã lên ngôi nối nghiệp cha. Nhưng Alexandre III đột xuất như một thiên tướng (giống như Phù Đổng Thiên Vương ở Việt Nam). Điều không ai có thể ngờ là Alexandre III đã lưu lại cho hậu thế một sự nghiệp danh tiếng vang lừng bốn bể. Sự nghiệp của Alexandre III đối với dân chúng là huyền thoại “A Lịch San Đại Đế”, được lưu truyền qua các thế kỷ nhưng phong cách của người vua anh hùng vĩ đại này đã vượt ra ngoài sức tưởng tượng. Chỉ mới trên 20 tuổi mà Alexandre III, sau khi bình định xong vương quốc của mình, đã đem quân lên đường viễn chinh, thực hiện giấc mộng không thành của vua cha là đánh chiếm Đế Quốc Ba Tư. Mối thù Macédoine, Hy Lạp bị Đế Quốc Ba Tư hai lần tới xâm lăng phải trả. Alexandre III đã ra quân dưới ngọn cờ giải phóng tất cả những ai đã phải làm nô lệ cho Đế Quốc Ba Tư. Khởi đầu bằng cuộc đánh chiếm Ai Cập, Alexandre III, từ nay là Alexandre le Grand, A Lịch San Đại Đế, đem quân đi tìm bắt vua Ba Tư là Darius, “vua của thế giới”. Trong trận đánh đẫm máu tại Gaugamènes, năm 331 trước CN, với quân số chưa được bằng nửa quân số của Darius, A Lịch San Đại Đế đã phá tan quân của Darius và khiến cho Darius phải bỏ chạy lên vùng núi Echatane ở phía Đông. A Lịch San, được ba quân tôn lên làm Vua của châu Á, như một danh tướng – với dân chúng thì A Lịch San là một thiên tướng – tiến quân đánh chiếm thêm nhiều địa danh khác của Ba Tư như Babylone, Suse, Persépolis. Tuy thắng trận nhưng A Lịch San vẫn để cho những người cầm quyền những vùng này được tại chức, chỉ đặt họ dưới quyền kiểm soát của người Macédoine. A Lịch San bây giờ coi như là vua của thế giới, tiếp tục tiến quân lùng bắt Darius cho đến khi trên đường tháo chạy, Darius bị các thuộc hạ giết. Nên A Lịch San chỉ còn thấy được Darius hấp hối trước khi nhắm mắt và được A Lịch San làm lễ mai táng với nghi lễ như khi Darius còn vương quyền.

Nhưng cái chết của Darius đã không làm cho A Lịch San Đại Đế phải dừng bước. Trên lưng thần mã Bucéphale, thiên tướng A Lịch San vẫn muốn tiến quân. Nhưng quân của thiên tướng lại chỉ muốn trở về quê nhà ở Macédoine, ở Hy Lạp. “Quê hương của chúng ta bây giờ là Babylone”, A Lịch San Đại Đế đã trả lời như vậy khi nghe thấy những lời nài xin hồi hương của quân lính. Và đoàn quân viễn chinh lại tiếp tục cất bước cho đến khi nó đặt chân lên vũng lưu vực sông Indus ở Ấn Độ. Như vậy là ròng rã hơn 8 năm, A Lịch San Đại Đế đã đưa quân vượt hơn mười sáu ngàn cây số, ôm ấp mộng lập nên một vương quốc thống nhất Đông với Tây. Nhưng đến ngày 10 tháng 6 năm 323 trước CN, A Lịch San Đại Đế từ giã cõi đời tại Babylone ở tuổi 33. A Lịch San Đại Đế, người anh hùng trong vòng chỉ có 10 năm, đã vẽ lại bản đồ thế giới, lập nên một đế quốc mới, mênh mông nhưng chỉ hiện hữu nhờ thiên tài của A Lịch San và đã sụp đổ khi danh tướng này không còn trên đời nữa. Vùng đất mới mà khối óc cùng bàn tay của A Lịch San tạo dựng đã bị các thuộc tướng đem ra chia cắt thành nhiều mảnh… Nhưng sự băng hoại vật thể này đã không phá vỡ được những chiến tích tinh thần to lớn của A Lịch San Đại Đế khi người anh hùng này đã chinh phục được gần như cả thế giới văn minh để góp phần thay đổi hướng diễn biến của lịch sử nhân loại.

2. Tương lai đi về đâu?

Những ánh sáng của buổi rạng đông rực rỡ đã mờ nhạt trên các Thành Quốc để nhường chỗ cho buổi hoàng hôn chói sáng, cửa ngõ của một không gian chính trị-xã hội Hy Lạp mới, điểm khởi đầu cho một giai đoạn lịch sử Hy Lạp mới. Giai đoạn được gọi là “Hy Lạp hóa” (hellénistique)*. Hay cũng có thể tạm gọi là giai đoạn hậu-A-lịch-San. Vì nó đã ra đời sau cuộc viễn chinh mười năm của A Lịch San Đại Đế. Hai hình ảnh “rạng đông rực rỡ” và “hoàng hôn chói sáng” được kết hợp lại với nhau để diễn đạt ý kiến theo đó, A Lịch San Đại Đế đã đưa nước Macédoine và các Thành Quốc biệt lập của Hy Lạp lồng vào trong một không gian mở rộng gồm có nhiều phần đất của châu Phi, châu Âu và châu Á họp lại. Bởi thế đã không còn các Thành Quốc nữa vì những cơ cấu tự trị, tự túc này đã tự biến thành những hợp tố của một không gian xã hội rộng lớn hơn nhưng vẫn giữ được những đặc tính Hy Lạp tồn trữ trong các Thành Quốc nay đã mất đi hình thể cùng với danh xưng. Chất liệu nhân xã – công dân Thành Quốc – trước sống trong khuôn khổ cũ, chật hẹp và phân cắt nay trở thành công dân thế giới trong một không gian xã hội mới, đa nguyên, đa dạng, mở cho những người dân mang tên Hy Lạp những chân trời văn hóa, chính trị mới. Vì họ phải đổi mới ngôn ngữ, cách sống riêng và sống chung, nói tóm lại, họ đã bước những bước đi mới theo hướng tiến bộ, họ đã tự biến thành những người Hy Lạp văn minh. Bởi thế, buổi hoàng hôn của các Thành Quốc mới là buổi hoàng hôn chói sáng và giai đoạn hậu A-Lịch-San mới là giai đoạn Hy-Lạp-Hóa.

Giai đoạn Hy Lạp Hóa này là giai đoạn của những biến cố hậu quả của cuộc viễn chinh của A Lịch San Đại Đế, những biến động đã làm cho văn minh Hy Lạp, cho đến thời Thành Quốc, thấm nhuần những vùng đất mới bị đánh chiếm ở cả ba châu Âu, Á, Phi và được sáp nhập vào vùng Macédoine-Hy Lạp để Hy Lạp Hóa những vùng đó, với những mức độ khác nhau. Nhưng tất cả đều đặt dưới quyền thống trị của lớp qúy tộc Hy Lạp-Macédoine.

Cũng như các giai đoạn khác của lịch sử Hy Lạp, giai đoạn Hy Lạp Hóa nói trên là sự biểu hiện trung thành của, một mặt, sự tương tác giữa tình thế, con người và các định chế xã hội và, mặt khác, cách sống đặc thù của người Hy Lạp, nhớ lại quá khứ, tìm hiểu hiện tại và hướng về tương lai, luôn luôn đắm mình vào biến cố thay vì đứng ngoài quan sát rồi chịu đựng biến cố.

© Trần Thanh Hiệp

(18/7/2014)

Nguồn: Chuyển Hoá

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: