Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Nói về Một Ngàn Năm Bắc Thuộc – hoànglonghải

1Bài 1

Đánh Tầu

Giải thích:

Sau khi “tù cải tạo” về tháng 7 năm 1982, đầu năm sau, buổi tối ngày 5 tháng Giêng ta, tôi ghé ngồi một quán càphê ở góc đường Trần Hưng Đạo – Đề Thám. Bàn bên cạnh, khoảng bốn, năm thanh niên cũng ngồi uống càphê. Nghe họ nói chuyện, tôi đoán chừng người nói giọng Bắc là cán bộ, một “Bắc kỳ 75” chính hiệu. Những người kia là “dân Saigon”. Có lẽ họ đang lén lút giao dịch gì đó với“ông cán bộ”, móc ngoặc, mua bán “hàng quốc doanh” như thường xảy ra ở Saigon thời bấy giờ.

 

Tôi nghe “ông cán bộ” nói:

-“Hôm lay nà ngày Quang Trung đánh tan bọn Nguyên Mông ở “Thăng Nong” đấy.”

 

Dĩ nhiên, tôi phải suy nghĩ về câu nói của “ông cán bộ” nầy.

           

Trước hết là việc “ông nọ chắp cằm bà kia”. Vua Quang Trung đánh đuổi quân Tầu hay còn gọi là Mãn Thanh vào năm Kỷ Dậu, tính theo Dương lịch là năm 1789. Còn như “Nguyên Mông” thì bị quân nước Nam đời nhà Trần đánh bại tới ba lần, hồi thế kỷ 14, trận đầu tiên là vào năm 1257. Hai sự kiện lịch sử cách nhau bốn trăm năm.

 

Thứ hai, anh ta gọi là Quang Trung mà không gọi là “vua Quang Trung”, như cách gọi trong lịch sử (Việt Nam Sử Lược của cụ Trần Trọng Kim chẳng hạn). Việt Cộng “kỵ” cái gì thuộc về vua chúa, “phong kiến”, là đối tượng đấu tranh của Cộng Sản. Gọi “Quang Trung” mà không gọi “Vua Quang Trung”, đối người Việt, nói chung, – dĩ nhiên không phải là người Cộng Sản – là xách mé, hổn láo, vô lễ, vô học.

 

Hồi trước, sách sử gọi là “quân Nguyên” hay “quân Mông Cổ”, không gọi là Nguyên-Mông như các “nhà sử học” Việt Cộng bây giờ.

 

Ý nghĩ chung của tôi với “ông cán bộ” là dốt, vô giáo dục. Tuy nhiên, nghĩ lại thì “ông cán bộ có biết gì đâu”. Ai dạy cho anh ta để biết lịch sử, nhất là “lịch sử chống Tầu” mà các “nhà sử học Việt Cộng”, không dám gọi là Tầu, mà gọi đúng “chữ nghĩa lễ phép” của Cộng Sản Hà Nội là “phong kiến phương Bắc”. Họ không dám nói đụng chạm tới “tổ tiên của người Trung Quốc” như tổ tiên chúng ta ngày xưa và người dân của Chính quyền Miền Nam (VNCH) đã gọi.

 

Thế tại sao bây giờ anh ta “bàn tới sự kiện lịch sử”. Có lẽ mấy năm nay, kể từ cuộc chiến tranh giữa Tầu Đỏ và Việt Cộng, trong nội bộ cán bộ đảng viên có học tập về việc “Trung Quốc đánh ta” nên “ông cán bộ” nầy đem chuyện “đánh Trung Quốc” nói với đám thanh niên con cháu “Tay sai Mỹ Ngụy dốt nát”, chẳng biết gì về “lịch sử nhân dân ta”, bị “nô dịch văn hóa” chỉ biết có “cơm thừa sữa cặn” mà thôi.

 

Nhìn chung, học sinh miền Bắc không được học sử một cách đứng đắn, chính thống. Chương trình học chính yếu (VC gọi là chủ yếu) là học về đánh Tây, đánh Mỹ, đánh “Ngụy”, không dám nói tới “đánh Tầu”.

           

Học sinh miền Nam thì khác, cứ chính sử mà học, từ “Họ Hồng Bàng làm vua đầu tiên ở nước ta” tới thời kỳ cận đại.

 

Hiện giờ, tình hình giáo dục trong nước cũng không khá hơn, “Đảng và Nhà Nước” còn tránh né, không dám nói chi đụng tới người Tàu, biết là “dổm” mà vẫn cứ hô hào “Bốn tốt. Mười sáu chữ vàng” thì học sinh biết gì về lịch sử Chống Tầu.

 

Còn như ở Hải ngoại, con em chúng ta ôm cập tới nhà trường Mỹ, ai dạy cho chúng “lịch sử Việt Nam” để biết Hưng Đạo Đại Vương, Lý thường Kiệt là những ông ông nào. Bạch Đằng, Chương Dương, Gò Đống Đa là cái gì để nghe và hiểu các bài ca lịch sử hiện được trình bày thường xuyên trên các đài Radio và TV hải ngoại.

 

Trong nước thì vì chính sách của “Đảng và Nhà Nước”, Hải ngoại thì vì hoàn cảnh giáo dục, nên bọn trẻ u ơ về lịch sử VN. Vì vậy nên tôi phải viết bài nầy.

 

Trước hết, tôi cố gắng nói gọn, rõ ràng, để các em dễ đọc, dễ nhớ, nhấn mạnh các điểm quan trọng, cần thiết để chúng hiểu người Tầu thì như thế nào, người Việt thì như thế nào. Tại sao Tầu và Việt đánh nhau “cả ngàn năm” mà chưa dứt, và cũng để các em thấy thêm, biết gì thêm, nhớ gì về tinh thần của Dân Tộc và sẽ làm gì cho Dân Tộc Việt Nam sau nầy, khi các em lớn khôn.

 

Bài số 1

Nói về

Một Ngàn Năm

Bắc Thuộc.

1)- Nguồn gốc nước Việt Nam.

Nguồn gốc dân tộc VN, nước VN là ở bên Tầu.

Trước thời Tần Thủy Hoàng (259-210 trước Tây Lịch) thành lập Đế Quốc Tầu đầu tiên, nước Tầu là một xứ tạp nham như thời kỳ Đông Châu Liệt Quốc, gồm nhiều nước ở Hoa Bắc (phía Bắc sông Dương Tử) thì vùng Hoa Nam, phía Nam sông Dương Tử là lãnh thổ của nước Việt, của một trăm giống Việt (Bách Việt). Những câu chuyện về Họ Hồng Bàng, các vua Hùng Vương, v.v… là khi nước ta còn ở bên ấy.

Nói chung, lịch sử nước ta hồi ấy con mù mờ, chưa có sách sử nào nói rõ ràng, nên được hiểu đại khái như vậy.

Nước Nam Việt của Triệu Đà (239-137), cũng ở Hoa Nam. Còn An Dương Vương, tên là Thục Phán (trị vì 257-208), đóng đô ở Phong Khê, huyện Đông Anh, xây thành Cổ Loa, cách Hà Nội 20km. Ca dao có câu:

            Ai về qua huyện Đông Anh

Ghé xem phong cảnh Loa thành Thục vương…

Triệu Đà dùng mưu, cho con trai là Trọng Thủy cưới con gái của An Dương Vương là Mỵ Châu, cướp đất của An Dương Vương năm 208 trước TL.

Năm 111 tr. TL, nhà Hán cướp đất Nam Việt của nhà Triệu. Thời kỳ một ngàn năm đô hộ là kể từ năm nầy.

Cũng từ sự kiện lịch sử nầy nên sau khi đại phá quân Thanh năm 1789, dù đang thắng trận, vua Quang Trung phải sai sứ sang Tầu xin giảng hòa mà lòng vua thì còn hận.

Sử chép:

“Công việc xếp đặt đâu vào đấy rồi, đến năm nhâm tí (1792) vua Quang Trung sai sứ sang Tàu, xin cầu hôn và xin trả lại cho Việt Nam đất Lưỡng Quảng. Việc ấy tuy không phải là bản ý nhưng muốn mượn chuyện để thử ý vua nhà Thanh. Không ngờ vua Quang Trung phải bệnh mất, các quan dìm việc cầu hôn và việc xin trả đất đi, không cho Thanh triều biết.”

(VN Sử Lược –

Trần Trọng Kim/ cuốn 2)

2)- Một ngàn năm Bắc thuộc

Một ngàn năm Bắc thuộc là kể từ năm 111 Tr. TL như vừa nói, đến năm 939 sau TL, là năm Ngô Quyền đuổi quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, giành độc lập (sử thường gọi là quyền tự chủ).

Trong một ngàn năm Bắc thuộc, người Lạc Việt (Việt Nam) có nhiều cuộc nổi dậy:

a)-Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40-43 sau TL)

Trưng Trắc và Trưng Nhị là con quan Lạc Tướng ở Mê Linh. Vì chính sách cai trị tàn ác của Thái Thú Tô Định, lại giết chồng Bà Trưng Trắc là Thi Sách nên Hai Bà kêu gọi các nơi cùng nổi dậy chống Tầu, đuổi Tô Định chạy về nước, chiếm giữ 65 thành trì. Bà Trưng Trắc tự xưng làm vua: Trưng Nữ Vương (Trưng Vương)

Hai Bà Trưng đọc lời thề trước khi xuất binh:

“Một xin rửa sạch nước thù

Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng

Ba kêu oan ức lòng chồng

Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này”

(Thiên Nam ngữ lục)

 

Cột đồng Đông Hán

Năm 43 sau TL, nhà Hán sai Mã Viện đem quân sang phục thù. Hai Bà thua trận, nhảy xuống sông Hát tự vẫn. Mã Viện bèn cho dựng cột đồng, khắc lên đó mấy chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” có nghĩa là nếu đồng trụ bị đổ thì dân Giao Chỉ bị tiêu diệt. Ngày nay, cột đồng đã mất dấu (1).

Về cột đồng, bài thơ ca ngợi Hai Bà của Hoàng Cao Khải, có câu:

            Cột đồng Đông Hán tìm đâu thấy

Chỉ thấy Tây Hồ bóng nước gương.

 

b)-Cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu 248 sau TL)       

Bà Triệu tên là Triệu Thị Trinh, quê ở Thanh Hóa, thuở nhỏ, cha mẹ mất sớm, ở với anh là Triệu Quốc Đạt. Năm 248, Bà cùng anh khởi nghĩa chống lại chính sách cai trị tàn ác của người Tầu. Anh em Bà thắng nhiều trận lớn.

Đang lúc ấy thì anh bà bị bệnh qua đời. Nghĩa binh thấy bà là người can đảm, mưu lược, bèn tôn Bà làm minh chủ. Khi ra trận, Bà thường mặc áo vàng cởi voi, nên dân chúng gọi Bà là “Nhụy Kiều Tướng Quân”

Nghe tin khởi nghĩa, vua Ngô bên Tầu sai Lục Dận đem quân sang đánh dẹp. Bà chống lại quân Đông Ngô được hơn nửa năm thì phải thua, bèn tuẫn tiết ở Thanh Hóa, năm 248 sau TL, khi ấy Bà mới 23 tuổi.

Khi Bà Triệu 19 tuổi, trả lời người hỏi bà về việc chồng con, Bà nói:

 

“Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kìnhbiển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người!”

 

c)-Lý Nam-Đế dựng nuớc

Tên thật là Lý Bôn, có người gọi là Lý Bí, gốc người Tầu, sang ở nước ta đã mấy đời, trở thành người Việt.

Bấy giờ nhà Lương bên Tầu đang cai trị nước ta, rất tàn ác. Năm 542, Lý Bí ở Hà Tĩnh, hiệp cùng dân chúng các nơi, nổi lên chống Tầu. Thứ sử là Tiêu Tư sợ hãi, bỏ chạy về Tầu. Lý Bí liền đem quân ra chiếm thành Long Biên (Hà Nội bây giờ). Cuối năm ấy, vua nhà Lương lại sai quân qua đánh dẹp. Lý Bí liền đón đánh. Quân Tầu thua to, lại bỏ chạy về Tầu.

Lý Bí lên làm vua, tự xưng là “Nam Việt Đế”, sử gọi là Lý  Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân.

Năm 545, quân Tầu lại sang xâm lăng, Nam Việt Đế thua trận, đem quân chạy về phía Nam. Ông tập hợp binh mã, thế lực lại mạnh lên, nhưng vẫn không chống nỗi quân Tàu. Ông bèn giao binh quyền cho Triệu Quang Phục.

Triệu Quang Phục chống không lại quân Tầu vì chúng quá đông. Ông lui về giữ Đầm Dạ Trạch là chỗ hiểm yếu, dùng chiến thuật du kích để đánh Tầu vào ban đêm, thắng nhiều trận nên dân chúng gọi ông là “Dạ Trạch Vương”.

Bấy giờ, anh của Lý Nam Đế (Lý Bí) là Lý Thiên Bảo, cùng với tướng là Lý Phật Tử, khởi binh ở Cửu Chân, bị quân Tầu đánh bại, chạy trốn qua Ai Lao (Lào).

Năm 548, Lý Nam Đế mất, Triệu Quang Phục tự xưng vua, tức Triệu Việt Vương.

Năm 550, thấy quân Tầu bây giờ thế yếu, Triệu Quang Phục bèn đem quân đánh, đuổi quân Tầu về nước, lấy lại nước Vạn Xuân, lại đem quân về đóng ở Long Biên.

Sau khi chạy qua Lào, Lý Thiên Bảo và Lý Phật Tử lại đem quân về nước. Năm 555, khi Thiên Bảo chết, Lý Phật Tử tự xưng làm vua, đem quân đánh Triệu Việt Vương. Lý Phật Tử thấy thế mình còn yếu, bèn xin giảng hòa. Triệu Việt Vương cắt đất cho hòa.

Lý Phật Tử dùng mưu gian như Triệu Đà, kết sui gia với Triệu Quang Phục, rồi bất ngờ đem quân đánh úp. Triệu Việt Vương chống không lại, đem con gái lên ngựa chạy về phía nam, khi đến biển Đại Nha, hết đường chạy bèn nhảy xuống biển tự tử.

Lý Phật Tử lên làm vua, đóng đô ở Phong Châu, cũng xưng là Lý Nam Đế, đời sau, sử gọi là Hậu Lý Nam Đế, để phân biệt với Lý Bí.

Năm 602, nhà Tùy bên Tàu đem quân sang đánh nước ta, Lý Phật Tử biết thế chống không nỗi, bèn xin hàng. Nước ta lại bị Tầu đô hộ một lần nữa.

Kể từ khi Lý Bí nổi lên chống Tầu (542) đến khi Lý Phật Tử đầu hàng (602) là đúng 60 năm.

d)-Mai Hắc Đế và Bố Cái Đại Vương

Năm 722 Mai Hắc Đế thấy chính sách cai trị của nhà Đường (Tầu) tàn ác, bèn nổi lên chống lại, chiếm giữ vùng Hoan Châu (Nghệ An). Ông quê ở Hà Tĩnh, người khỏe mạnh, da đen sì, nên sử gọi là Mai Hắc (Đế).

Nhà Đường bèn đem thêm quân qua đánh Hắc Đế. Ông thua chạy rồi phải bệnh mà chết. Nay ở Nghệ An còn có đền thờ.

Mười tám năm sau, năm 791, Phùng Hưng lại nổi lên đánh phá quân Tầu. Phùng Hưng chiếm được Đô Hộ phủ, mấy tháng sau thì ông qua đời. Dân chúng kính mến ông, lập đền thờ và gọi ông là “Bố Cái Đại Vương”. Người Việt thường gọi cha là Bố, mẹ là Cái. Họ tôn kính ông như cha mẹ.

Quân sĩ tôn con ông là Phùng An lên nối nghiệp.

Cùng năm ấy, quân Tầu lại sang. Phùng An thấy không chống nỗi, bèn xin hàng.

e)-Họ Khúc dấy nghiệp (906-907)

Bên Tầu có loạn. Ở Giao Châu, có ông Khúc Thừa Dụ, quê ở Hải Dương, là người giàu có, tính tình đôn hậu, dân chúng tôn ông làm Tiết Độ Sứ để lo việc cai trị. Được một năm, Khúc Thừa Dụ mất, trao quyền lại cho con là Khúc Hạo. Khúc Hạo cầm quyền cai trị được 10 năm (907-917). Khúc Hạo mất, truyền lại cho con là Khúc Thừa Mỹ. (917-923)

Sau đó, bên Tầu, nhà Lương cướp ngôi nhà Đường, đến năm 923, cho quân sang xâm chiếm nước ta, bắt được Khúc Thừa Mỹ, đem về Tầu, lại sai quan sang cai trị nước ta.

f)-Dương Diên Nghệ và Kiểu Công Tiện (933-938)

Dương Diên Nghệ nguyên là tướng của Khúc Hạo. Ông nổi lên đánh Tầu, đuổi chúng chạy về nước. Xong, Dương Diên Nghệ xưng là Tiết Độ Sứ. Được sáu năm, ông bị thuộc tướng là Kiểu Công Tiện giết đi mà cướp lấy binh quyền.

g)-Ngô Quyền đuổi quân Nam Hán,

giết Thái tử Hoằng Tháo,

chấm dứt một ngàn năm nô lệ.

Tướng của Dương Diên Nghệ là Ngô Quyền đem quân đánh Kiểu Công Tiện để báo thù.

Nguyên Ngô Quyền người quê ở Sơn Tây, là người tài trí, được Dương Diên Nghệ gã con gái cho.

Bị tấn công, Kiểu Công Tiện cầu cứu với người Tầu.

Vua Nam Hán của Tầu sai con là Hoằng Tháo đem quân đi trước, còn vua tự thân chinh đem quân theo sau tiếp ứng.

Sử chép:

 

“Khi quân Hoằng Tháo vào gần đến sông Bạch Đằng, thì bên này Ngô Quyền đã giết được Kiểu Công Tiện (938), rồi một mặt truyền lệnh cho quân sĩ phải hết sức phòng bị, một mặt sai người lấy gỗ cặp sắt nhọn, cắm ngầm ở dưới lòng sông Bạch Đằng, xong rồi chờ đến lúc nước thủy triều lên, cho quân ra khiêu chiến; quân Nam Hán đuổi theo, đến lúc nước xuống, Ngô Quyền hồi quân đánh ập lại, quân Nam Hán thua chạy, bao nhiêu thuyền mắc vào cộc gỗ thủng nát mất cả, người chết quá nửa, Hoằng Tháo bị Ngô Quyền bắt được, đem về giết đi.

 

Hán Chủ nghe tin ấy, khóc òa lên, rồi đem quân về Phiên Ngung, không dám sang quấy nhiểu nữa.

(Viêt Nam Sử Lược –

Trần Trọng Kim, cuốn1)

 

Nhận xét về Ngô Quyền, Trần Trọng Kim viết như sau:

“Ngô Quyền trong thì giết được nghịch thần, báo thù cho chủ, ngoài thì phá được cường địch, bảo toàn cho nước, thật là một người trung nghĩa lưu danh thiên cổ, mà cũng nhờ có tay Ngô Quyền, nước Nam ta mới cởi được ách Bắc thuộc hơn một nghìn năm, và mở đường cho Đinh, Lê, Lý, Trần, về sau này được tự chủ ở cõi Nam vậy.

 

Lịch sử thường gọi thời gian từ năm 111 Tr. TL đến năm 939 là năm Ngô Quyền đuổi quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, giành quyền độc lập là “Một ngàn năm nô lệ giặc Tầu”.

 

Người Việt thường gọi bọn Tầu xâm lăng là “Giặc Tầu”, xưa đã vậy mà nay cũng thế.

Tuy nhiên, trong một ngàn năm đó, tình hình Giao Châu không bao giờ yên vì người Việt luôn luôn quật khởi, đánh lại người Tầu, giành quyền tự chủ.

Vì vậy, thời gian “Một ngàn năm” phải được chia thành 3 thời kỳ, sử gọi là:

-“Bắc thuộc lần thứ nhất” (từ 111 Tr. TL đến năm 40 sau TL, dài 141 năm),

-“Bắc thuộc lần thứ hai” (từ năm 43 sau TL đến 544 sau TL, dài 541 năm), và

-Bắc thuộc lần thứ ba” (từ 602 sau TL đến 939 sau TL, dài 337 năm).

(1)

Ông giang Văn Minh đổ thám hoa (cao nhất kỳ thi năm ấy), được cử đi sứ Tầu đời Lê-Trịnh. Vua nhà Minh vì còn bênh nhà Mạc ở Cao Bằng, nên không chịu phong vương cho vua Lê, còn đem chuyện đồng trụ mai mỉa nước ta, ra câu đối:

“Đồng trụ chí kim đài dĩ lục””

Nghĩa là:

Đồng trụ đến giờ rêu vẫn mọc.

Giang Văn Minh đã hiên ngang đối lại bằng câu:

“Đằng Giang tự cổ huyết do hồng”

 

            Vua Minh giận lắm, bèn sai người mổ bụng ông để “bọn sứ thần An Nam to gan lớn mật đến đâu”.

            Vua nhà Minh Tư tông cho đem xác ông về nước, khi thi hài của ông về đến Kinh thành Thăng Long, vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng bái kiến linh cữu ông và truy tặng chức Công bộ Tả thị lang, tước Vinh quận công, ban tặng câu “Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng” (tức là Sứ thần không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là anh hùng thiên cổ),

Tại sao cột đồng mất dấu?

“Trong bài “Les colonnes de bronze de Ma Vien” đăng trong Bulletin des Amis du Vieux Hue ngày 10 tháng 11 năm 1943, học giả Đào Duy Anh cho rằng chuyện cột đồng là có thật và có lẽ nó được dựng ở núi Thành (tức núi Lam Thành hay núi Đồng Trụ, tên chữ là Hùng Sơn) ở Nghệ An. Và ông tin tưởng lời phán đoán của mình là đúng vì nó gần ăn khớp với sự ghi chép của sách Ngô lụcTùy thư.” (Wikipedia)

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

1 Comment on Nói về Một Ngàn Năm Bắc Thuộc – hoànglonghải

1 Trackback / Pingback

  1. Nói về Một Ngàn Năm Bắc Thuộc – hoànglonghải | CHÂU XUÂN NGUYỄN

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: