Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Một ngàn năm đánh Tầu – hoànglonghải

2Bài 2

Một ngàn năm đánh Tầu.

A)-Đời Lý Trần

1)-Đánh Tầu đời Tiền Lê

            Lê Hoàn làm quan “Thập Đạo Tướng Quân” của nhà Đinh. Năm 981, nhà Tống chuẩn bị đem quân xâm lăng nước ta. Vì vua nhà Đinh còn nhỏ tuổi, nên quân sĩ tôn Lê Hoàn lên làm vua để lo việc chống Tầu. Ông tự xưng là Lê Đại Hành.

            Quân Tống chia làm 2 đạo: Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng tiến quân qua ngã Lạng Sơn. Lưu Trừng chỉ huy quân thủy tiến theo ngã sông Bạch Đằng.

            Ban đầu, thế giặc mạnh lắm, dù Lê Hoàn đã chuẩn bị các nơi, cũng phải lui quân, nhưng cho phục binh đánh quân bộ của Tầu ở Chi Lăng, bắt được Hầu Nhân Bảo, bèn giết đi. Quân Tầu đại bại, chết quá nửa.

            Lưu Trừng chỉ huy thủy quân thấy vậy, bèn rút quân chạy về nước.

            Tuy thắng trận nhưng sợ nhà Tống phục thù, chiến tranh kéo dài, dân tình khốn khổ nên Lê Đại Hành phải sang sứ xin hòa. Vua Tống phong cho vua Lê làm “Giao Chỉ Quận Vương”.

2)- Đánh Tầu đời nhà Lý.

Lý Thường Kiệt tấn công Lưỡng Quảng

            Bên Tầu, Tể tướng Vương An Thạch đặt ra “tân pháp” khiến dân chúng bất mãn. Để trấn an dân chúng và ổn định tình hình, Vương An Thạch chủ trương đánh nước ta. Thế rồi Thạch sai Lưu Gi thám xét địa thế nước ta để khởi binh.

            Nhà Lý nghi ngờ hành động ấy, bèn viết thư sang hỏi Tống triều. Lưu Gi bắt giữ sứ của ta lại, không cho về.

            Nhà Lý bèn sai Lý Thường Kiệt và Tôn Đản chỉ huy một trăm ngàn quân, chia làm 2 đạo sang đánh nước Tầu, lấy cớ là để cứu người Tầu khỏi ách cai trị tàn ác của nhà Tống.

            Năm 1075, Lý Thường Kiệt đem quân đánh Châu Khâm và Châu Liêm (thuộc Quảng Đông). Tôn Đản đánh Ung Châu (thuộc Quảng Tây). Tướng Tầu là Trương Thủ Tiết đem quân cứu Ung Châu, bị Lý Thường Kiệt vây đánh, giết Trương Thủ Tiết tại trận.

Tôn Đản vây thành Ung-châu hơn 40 ngày, quan tri-châu là Tô Đam cố giữ thành. Đến khi quân nhà Lý hạ được thành, thì Tô Đam bắt người nhà tất cả là 36 người chết trước, rồi tự đốt chết theo. Người trong thành cũng bắt chước quan tri châu, không ai chịu hàng cả. Quân nhà Lý vào thành giết hại gần đến 58.000 (?) người, xong rút quân về.

Vua Tống giận lắm, cuối năm 1076, bèn sai Quách Quì cùng một số tướng sĩ và binh lính sang đánh nước ta. Vua Lý sai Lý thường Kiệt đem binh cự địch. Ông đánh chặn quân nhà Tống ở sông Như Nguyệt (sông Cầu bây giờ). Quân Tống đánh trận ấy chết hơn 1.000 người, Quách Quì tiến quân về phía tây, đến đóng ở bờ sông Phú Lương.

Lý Thường Kiệt đón đánh, không cho quân Tầu sang sông. Lúc bấy giờ quân Tống đánh hăng lắm, Lý Thường Kiệt hết sức chống giữ, nhưng sợ quân mình ngã lòng, bèn đặt ra một chuyện nói rằng có thần cho bốn câu thơ:

Nam-quốc sơn-hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm -phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Binh sĩ nghe đọc mấy câu thơ ấy, hết lòng đánh giặc. Quân Tống không tiến lên được. Hai bên chống giữ nhau. Mãi sau, Vua nhà Lý thấy đánh lâu không lợi, bèn xin hoãn binh.

“Vua Tống thấy quân Tầu không tiến lên được, lại đóng ở chỗ chướng địa, quân sĩ hơn 8 vạn, chết đến quá nửa, cho nên cũng thuận hoãn binh để lui về, nhưng vẫn ngoan cố chiếm giữ một số đất đai của ta ở mạn Cao Bằng, Lạng Sơn.

Năm 1078, vua nhà Lý sai Đào Tôn Nguyên đi cống sang Tầu và đòi lại các vùng đất đã bị chiếm. Vua Tống bắt phải trả lại những người Tầu mà Lý Thường Kiệt và Tôn Đản dã bắt ngày trước.

Năm sau, vua nhà Lý thả những người bị bắt về và lấy lại đất đã bị mất.

Năm 1084, vua Lý Nhân Tông sai quan là Lê Văn Thịnh sang Tầu định lại biên giới giữa hai nước. Hai bên lại hòa hiếu. vua Tống phong chu vua Lý làm “Nam Bình Vương”.

3)-Ba lần đánh bại quân Mông Cổ.

            Người Mông Cổ cởi ngựa giỏi, bắn cung hay, rất thiẹn chiến. Thành Cát Tư Hãn từng nói: “Vó ngựa quân ta đến đâu, cỏ ở đấy không mọc được nữa.”

            Trong khi đem quân đánh nhà Tống, Hốt Tất Liệt sai “Ngột Lương Hợp Thai” đánh chiếm Vân Nam. Xong việc, y sai sứ sang nói với vua Trần thần phục Mông Cổ. Vua nhà Trần không nghe, bắt giam sứ Mông Cổ, rồi sai Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo) đem quân giữ mạn bắc. Bấy giờ là năm 1257.

Sài Thung đi sứ

            Vua Mông Cổ nghe tin Trần Thánh Tông mới lên ngôi, bèn sai Sài Thung sang sứ nước ta.

                Thung là người kiêu ngạo, đến Thăng Long, y đi thẳng vào cửa chính, đưa thư trách cứ vua Nhân Tông: Sao không xin phép triều-đình nhà Nguyên, mà dám tự lập, vậy phải sang chầu Thiên-triều Hoàng-đế mới xong”. 

 

            Nhân tông mở tiệc mời Sài Thung, bảo SàiThung rằng: “Quả-nhân xưa nay sinh-trưởng ở trong cung không quen phong-thổ, không thể nào đi được”.

 

            Năm 1282, Vua Mông Cổ lại sai sứ sang thúc hối, vua nhà Trần bèn sai Trần Di Ái đi thay cho nhà vua. Vua Mông Cổ không chịu, bèn sai quan qua nước ta làm giám trị. Vua Nhân Tông đuổi bọn chúng về nước.

            Vua ngà Nguyên giận lắm, phong cho Trần Di Ái làm An-Nam Quốc Vương, bèn sai Sài Thung đưa Di Ái về nước. Vua nhà Trần nghe tin, sai quân lên đón đánh. Sài Thung bị bắn hư một mắt, sợ hãi bỏ chạy về Tầu.

Thoát Hoan sang đánh lần thứ nhất.

            Vua Mông Cổ thây Sài Thung bị thương chạy về, giận lắm, bèn sai con (Thái tử) Thoát Hoan cùng Toa-Đô và Ô-Mã-Nhi đem nửa triệu quân, giả tiếng là mượn đường đi đánh Chiêm Thành để xâm lăng nước ta.

Hội Nghị Bình Than

            Nghe tin, Nhân Tông mở hội nghị Bình Than (chỗ sông Đuống gặp sông Thái Bình), họp các tướng lại, bèn kế chống giặc.

Các tướng, nhất là Trần Quốc Tuấn và Trần Khánh Dư chủ trương quyết chiến.

Bóp nát trái cam (Trần Quốc Toản)

            Trần Quốc Toản bấy giờ mới 17 tuổi, không được dự hội nghị. Ông tức giận, cầm quả cam trong tay bóp nát lúc nào không hay. Sau đó, ông cùng bạn bè, thu dụng người có nghĩa khí, lập một đội quân, cờ đề sáu chữ “Phá cường tặc, báo hoàng ân”, đánh thắng quân Mông nhiều trận, lập được công lớn.

Một chống hai rưởi.

            Để chống giặc, Trần Hưng Đạo hội các tướng ở Đông Bộ Đầu (1284). Quân thủy bộ cả thảy được hai trăm ngàn.

            Được ít lâu, nghe tin quân Nguyên chuẩn bị sang đánh, vua Trần có ý lo, bèn sai sứ sang Tầu, xin hoãn binh. Vua Nguyên không cho sai Thoát Hoan cứ tiến binh.

Hội Nghị Diên Hồng.

            Trước tình hình đó, vua Nhân Tông mở Hội Nghị Diên Hồng, họp các bô lão để hỏi “hòa hay chiến”. Các bô lão đồng thanh hô “chiến”. Vua thấy vậy, hăng hái cương quyết kháng cự.

Mông Cổ xâm lăng

            Quân Nguyên chia làm hai đạo tiến sang nước ta:

1/ Toa-Đô đem một trăm ngàn quân, đi đường thủy đánh Chiêm Thành. Chiếm đưọoc nước nầy, quân Tầu sẽ là mũi tấn công từ phía nam.

2/ Thoát Hoan tiến theo đường Lạng Sơn, lại có thư vừa dụ vừa dọa rằng: Bản-súy chỉ nhờ đường Nam-quốc sang đánh Chiêm-thành, chứ không có bụng gì đâu mà ngại. Nên mở cửa ải cho quân bản-súy đi, và đi đến đâu, nhờ giúp ít nhiều lương-thảo, rồi khi nào phá xong Chiêm-thành thì sẽ có trọng tạ về sau. Nhược bằng kháng-cự thiên binh, thì bản-súy sẽ không dong tình, phá tan bờ-cõi, bấy giờ dù hối lại cũng không kịp”.

 

            Trần Hưng Đạo đuổi sứ giả của Thoát Hoan về, chia binh giữ các ải ở Lạng Sơn, đích thân Trần Hưng Đạo đóng ở phía sau chờ tiếp ứng.

“Xin chém đầu tôi rồi hãy hàng.” (Hưng Đạo Vương)

            Quân Thoát Hoan tiến tới, đánh với quân của Trần Hưng Đạo mấy trận không phân thắng bại. Khi Thoát Hoan đánh Chi Lăng, Trần Hưng Đạo thua phải rút về Vạn Kiếp.

            Vua Trần nghe tin bại trận, liền đi thuyền nhỏ đến Hải Dương, cho với Trần Hưng Đạo đến hỏi: “Thế giặc to như vậy, mà chống với nó thì dân-sự tàn-hại, hay là trẫm hãy chịu hàng đi để cứu muôn dân.”Hưng-đạo-vương tâu rằng: “Bệ-hạ nói câu ấy thì thật là lời nhân-đức, nhưng mà Tôn-miếu Xã-tắc thì sao? Nếu bệ-hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu tôi đi đã, rồi sau sẽ hàng”. Vua nghe lời nói trung-liệt như vậy, trong bụng mới yên.

“Sát Đát”

            Hưng Đạo Vương tập họp quân ở Vạn Kiếp, được hơn hai trăm ngàn quân. Bấy giờ Vương soạn ra cuốn “Binh Thư Yếu Lược”, rồi truyền hịch khuyên răn tướng sĩ, làm cho tinh thần họ lên cao. Mỗi người lấy mực chích vào cánh tay hai chữ “Sát Đát”, nghĩa là “giết quân Mông Cổ”.

Thăng Long thất thủ

            Khi ấy, Thoát Hoan thừa thắng đánh cuống Vạn Kiếp, bắt được người nào có chữ “Sát Đát” đều giết cả. Quân Thoát Hoan kéo tới sông Hồng Hà, cho bắt cầu phao qua sông, kéo đến chân thành Thăng Long hạ trại.

            Khi Thoát Hoan hạ được thành rồi, mới biết vua ta đã đi về phương nam, liền cho quân đuổi theo.

Toa Đô thua trận

            Toa-Đô cho quân đánh Chiêm Thành nhưng thất bại, bèn kéo ra đánh Nghệ An. Ô Mã Nhi đem thủy quân tiếp ứng với Toa-Đô.

            Nghe tin ấy, Hưng Đạo vương sai Trần Quang Khải đem quân phòng bị phía nam, không cho quân Nguyên đánh ra, lại sai Trần Bình Trọng giữ Thiên Trường chận quân Thoát Hoan rồi rước vua về Hải Dương.

            Trần Quang Khải không cự nỗi quân Nguyên, phải rút lui.

“Thà làm quỉ nước Nam” (Trần Bình Trọng)

            Trần Bình Trọng đem quân đánh quân Nguyên ở Đà Mạc (Hưng Yên), thua trận bị bắt.     Thoát Hoan biết Trần Bình Trọng là tướng khỏe mạnh, muốn khuyên dụ về hàng, thết đãi ăn-uống, nhưng Trần Bình Trọng không ăn, dỗ dành hỏi dò việc nước, Trần Bình Trọng cũng không nói. Sau Thoát Hoan hỏi rằng:  Có muốn là vương đất Bắc không?” Bình Trọng quát lên rằng: Ta thà làm quỉ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc. Ta đã bị bắt thì có một chết mà thôi, can gì mà phải hỏi lôi-thôi!” Thoát Hoan thấy dỗ không được, sai quân đem chém.

            Bấy giờ thế giặc mạnh lắm, Hương Đạo Vương phải đem vua trốn tránh, ngày đêm lo nghĩ kế chống giặc, không sợ hãi chút nào.

“Cầm Hồ Hàm Tử quan”(trận Hàm Tử)

            Không thắng được Toa-Đô, Trần Quang Khải lui về giữ những nơi hiểm yếu ở phía nam, khiến Toa-Đô đánh mãi không được, lương thực ngày mỗi cạn, bèn cùng Ô-Mã-Nhì đi đường biển ra phía Bắc với Toát Hoan.

            Trước tình hình như thế, Hưng Đạo Vương tâu cùng vua Nhân Tôn: Toa Đô tự Chiêm-thành trở ra, qua vùng Ô-lý (Thuận-hóa), Hoan (Nghệ-an), Ái (Thanh-hóa), đường sá gập-ghềnh, quân-sĩ vất-vả, nay lại vượt bể ra Bắc, thì sức-lực cũng đã mỏi-mệt. Vậy nay nên sai một tướng đem quân ra đón đường mà đánh thì chắc phá được.”

 

            Vua bèn sai Trần Nhật Duật, có Trần Quốc Toản, Nguyễn Khoái làm phó tướng đêm 50 ngàn quân đón đánh Toa-Đô ở Hàm Tử (Hải Dương). Trong quân ta có Triệu Trung là tướng nhà Tống từ bên Tầu chạy qua xin gia nhập. Quân Nguyên lại tưởng lầm nhà Tống đã lấy lại Trung nguyên, nay cho quân sang giúp nước Nam nên bọn chúng sợ hãi bỏ chạy. Toa-Đô thua to, rút về Thiên Trường.

            Được tin ấy, Hưng Đạo Vương bèn tâu với vua: Quân ta mới thắng, khí-lực đang hăng, mà quân Nguyên mới thua, tất cũng chột dạ. Vậy nên nhân dịp này tiến quân đánh Thoát Hoan để khôi phục Kinh-thành”.

 

            Vua Nhân Tông sai hai đạo quân: Đạo thứ nhất do Trần Quang Khải vừa mới từ Nghệ An ra, đem quân đánh thẳng vào Thoát Hoan ở Thăng Long. Đạo thứ hai do Trần Nhật Duật chỉ huy, đánh chặn đường không cho Toa-Đô hợp binh cùng Thoát Hoan.

“Cướp sáo Chương Dương độ” (Trận Chương Dương)

            Thoát Hoan đóng binh ở Thăng Long, thủy binh đóng ở bến Chương Dương.

            Trần Quang Khải, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão đem quân đánh vào chiến thuyền quân Nguyên. Quân ta đánh hăng quá, quân Nguyên không chịu nỗi, phải bỏ chạy. Thừa thắng, quân ta kéo đến thành Thăng Long hạ trại. Thoát Hoan đem quân ra cự, bị phục binh của Trần Quang Khải, phải bỏ Thăng Long rút qua sông Hồng Hà chạy lên phía Bắc Ninh.

            Trần Quang Khải đem quân vào thành mở tiệc khao quân. Đến khi uống rượu vui vẻ, Quang Khải ngâm bài thơ rằng:

 

Đoạt sáo Chương-dương độ
Cầm Hồ Hàm-tử quan
Thái-bình nghi nỗ lực
Vạn cổ thử giang-san

 

Dịch nôm:

Chương-dương cướp giáo-giặc
Hàm-tử bắt quân thù

Thái-bình nên gắng sức
Non nước ấy nghìn thu

Trận Tây Kết (1285)

            Bấy giờ Toa-Đô không liên lạc được với Thoát Hoan, cũng không biết Thoát Hoan đã bỏ chạy khỏi Thăng Long. Hưng Đạo Vương xin vua sai Trần Nhật Duật cùng Trần Quang Khải đem quân giữ các nơi, không cho Toa-Đô và Thoát Hoan thông thương được vơi nhau, còn Vương thì tự đem quân đánh Thoát Hoan, cho một đạo phục binh đánh úp Toa-Đô.

            Bấy giờ quân ta thắng hai trận lớn ở Hàm Tử và Chương Dương, tinh thần lên cao lắm.

                Quân Nguyên không địch nỗi, bỏ thuyền lên bộ mà chạy. Toa-Đô bị tên chết. Ô-Mã-Nhi tìm đường chạy vào Thanh Hóa, bị chận đánh rất gắt, bèn bỏ quân lính, một mình trốn lên một chiếc ghe nhỏ mà chạy về Tầu.

            Ở Tây Kết, quân của Vương toàn thắng, bắt sống ba chục ngàn quân Mông Cổ và vô số thuyền bè, khí giới. Vương cho khao quân rồi đem quân tiếp tục đánh đuổi Thoát Hoan.

Trận Vạn Kiếp.

            Thấy quân các nơi đều bị đại bại, Thoát Hoan có ý bỏ chạy. Vương đoán biết ý ấy bèn sai Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoái dẫn ba chục ngàn quân phục sẵn ở bờ sông Vạn Kiếp, chờ quân Mông rút về thì đổ ra đánh, sai hai con trai của Vương ra giữ mạn Quảng Yên, không cho quân Mông chạy về. Còn Vương tự dẫn quân đánh Thoát Hoan.

            Thoát Hoan thua trận, rút chạy về ngã Vạn Kiếp, bị phục binh của Phạm Ngụ Lão và Nguyễn Khoái, mười phần chết hết năm. Thoát Hoan sợ tên phải chui vào ống đồng, bỏ lên xe mà chạy. Đến gần châu Tư Minh, Thoát Hoan còn bị hai con trai của Vương đổ ra đánh, tên bắn như mưa, cac tướng Nguyên chết cả. Trận ấy tướng chỉ có Thoát Hoan, A-Bát-Xích và Phàn Tiếp thoát được về Tầu mà thôi.

Thoát Hoan sang đánh lần thứ hai

            Thoát Hoan tuy đại bại chạy về Tầu, nhưng lòng căm hận lắm, định xin vua Nguyên cho thêm binh lính sang đánh phục thù. Vua Nguyên y cho, sai đóng thêm chiến thuyền, tập họp binh mã, dự trù tháng 8 năm ấy sẽ khởi binh.

            Vua nhà Trần nghe tin ấy, lấy làm lo, bèn cho gọi Hưng Đạo Vương vào hỏi: “Thoát Hoan bại trận trở về, chuyến này căm-tức định sang đánh báo thù, quân-thế hẳn to hơn trước, ta nên dùng kế gì mà chống lại được?”

 

 Hưng-đạo-vương tâu rằng: “Nước ta xưa kia, quân-dân hưởng thái-bình đã lâu, không tập đến việc chiến-trận, cho nên năm trước quân Nguyên vào cướp còn có kẻ trốn-tránh theo hàng- giặc. May nhờ có oai-linh Tổ-tông, và thần-võ của Bệ-hạ, đi đến đâu đánh được đến đấy, cho nên mới quét sạch được bờ-cõi. Còn như bây giờ quân ta quen việc chinh-chiến, mà quân nghịch thì đi xa mỏi-mệt. Vả lại thấy Toa Đô, Lý Hằng, Lý Quán tử trận, tất cũng chột dạ, quân-tình đã sinh nghi-sợ, hẳn không dám hết sức mà đánh. Cứ như ý tôi, thì chuyến này dù có quân Nguyên sang đây, ta phá cũng dễ hơn phe trước, xin bệ-hạ đừng lo”.

            Nghe xong, vua yên lòng, bèn sai các nơi chuẩn bị để nghênh giặc.

            Năm 1287, Thoát Hoan làm đại nguyên súy, đem 3 trăm ngàn quân cùng 5 trăm chiến thuyền chia làm hai đạo: Thoát Hoan dẫn một đạo đi đường bộ theo ngã Quảng Đông mà vào Bắc Giang. Đạo thủy binh do Ô-Mã-Nhi, Phàn Tiếp theo đường biển mà vào nước ta.

            Được tin, vua sai các vương hầu, thống lĩnh cá nơi phòng giặc. Hưng Đạo Vương sai Trần Nhật Duật, Nguyễn Khoái dẫn ba chục ngàn quân giữ mặt Lạng Sơn. Trần Quốc Toản, Lê Phụ Trần dẫn ba chục ngàn quân giữ mặt Nghệ An. Vương tự mình đem quân giữ mặt Quảng Yên.

            Thế quân Mông Cổ mạnh lắm. Vương chống không nỗi, phải lui về Vạn Kiếp. Thoát Hoan sai quân đánh Vạn Kiếp, lại sai Ô-Mã-Nhi đánh vào sông Hồng. Hưng Đạo Vương phải rút về Thăng Long, xa giá phải bỏ kinh thành, rút về phía nam, rồi vào Thanh Hóa.

            Thoát Hoan đem quân đánh vào Thăng Long nhưng không chiếm được thành, phải lui về Vạn Kiếp. Hưng Đạo Vương lại tiến quân lên chống giặc.

Trận Vân Đồn

            Quân Nguyên đóng ở Vạn Kiếp, tiến thoái lưỡng nan, lương thực sắp cạn, bèn sai Ô-Mã-Nhi đem chiến thuyền ra ngã Hải Dương đón thuyền lương của Trương Văn Hổ bên Tầu sang. Trần Khánh Dư chận đường Ô-Mã-Nhi nhưng bị đại bại. Ô Mã Nhi đi thẳng ra biển.

            Thua trận, Trân Khánh Dư bị vua sai sứ ra hỏi tội. Trần Khánh Dư thưa: Tôi sai tướng-lệnh đành thôi chịu tội, nhưng xin khoan cho tôi một vài hôm, may mà tôi lập được công khác để chuộc tội chăng?

            Mấy hôm sau, sau khi gặp Trương Văn Hổ rồi, Ô-Mã-Nhi lại trở vào, đi trước dẹp đường, thuyền lương thực Trương Văn Hổ đi sau.

            Thấy thế, Trần Khánh Dư nghĩ rằng Ô-Mã-Nhi vừa thắng trận, nên ỷ y, bèn nhặt nhạnh thuyền bè, tập hợp binh sĩ, phục sẵn, chờ thuyền Trương Văn Hổ đến.

            Quả nhiên, khi thuyền Trương Văn Hổ đến vịnh cửa Lục thì bị đánh úp. Bao nhiêu thuyền lương và vũ khí đều bị cướp cả. Trương Văn Hổ bại trận, lên chiếc thuyền nhỏ chạy về Tầu.

            Được tin, vua quan của ta đều mừng. Vua bảo Hưng Đạo Vương rằng: “Quân Nguyên cốt trông cậy có lương-thảo khí-giới, nay đã bị ta cướp được cả rồi, thì thế nó không tràng-cửu được nữa. Nhưng nó chưa biết tất còn đắc chí, vậy ta nên tha những quân bị bắt cho về báo tin với Thoát Hoan, thì quân-sĩ của nó tất ngã lòng, bấy giờ mới phá rất dễ”.

 

Trận Bạch Đằng,“lời thề sông Hóa”

            Sau khi thua trận Vân Đồn, binh tướng quân Nguyên đều nao núng, chỉ muốn rút về. Hưng Đạo Vương đoán biết ý ấy, chuẩn bị đánh đuổi giặc.

            Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp dẫn thủy binh theo sông Bạch Đằng ra biển về trước, sai Trình Bằng Phi, Trương Quân chặn hậu để Thoát Hoan đem quân về.

            Hưng Đạo Vương sai “Nguyễn Khoái dẫn binh lẻn qua đường tắt mé sông thượng-lưu sông Bạch Đằng, kiếm gỗ đẽo nhọn bịt sắt đóng khắp giửa giòng sông, rồi phục binh chờ đến lúc nào nước thủy triều lên thì đem binh ra khiêu chiến, nhử cho thuyền giặc qua chỗ đóng cọc. Hễ lúc nào nước thủy triều xuống thì quay binh lại hết sức mà đánh. Lại sai Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Chế Nghĩa dẫn quân lên phục ở ải Nội Bàng (thuộc Lạng Sơn) chờ quân Nguyên chạy lên đến đấy thi đổ ra đánh.”

 

Khi ngang “sông Hoá lúc ấy vào mùa nước cạn nên Hưng Đạo Vương cho con voi chiến của mình lội qua sông. Chẳng may lội đến giữa sông thì voi bị sa lầy không sao nhúc nhích được nữa. Thấy thế, nam phụ lão ấu trong làng đổ ra tìm đủ mọi cách như bắc ván, lót rơm… để giúp voi qua sông nhưng rốt cuộc đều không kết quả. Việc binh như lửa, không thể chậm trễ, Hưng Đạo Vương đành quyết định bỏ voi lại. Con voi khôn ngoan tội nghiệp cứ nghểnh đầu trông theo vị chủ tướng và ứa nước mắt. Hưng Đạo Vương không khỏi mủi lòng đến nỗi nước mắt vương cũng ứa ra. Nhưng không thể để cho những tình cảm uỷ mị làm mềm lòng quân sĩ trước một trận chiến mang tính chất quyết định, vương bèn nói:

“Ta thương là thương con voi trung với nước và có nghĩa với ta, chứ không phải ta lo sợ có sự gì bất tường (điềm gở) đâu! Ta nói cho các ngươi biết: trong quân sĩ nếu ai để cho lòng nao núng thì hãy trông thần kiếm của ta đây!

 

            Và thề rằng: “Trận này mà không phá xong giặc Nguyên thì không về đến sông này nữa!”

            Quân sĩ ai nấy đều xin quyết chiến, kéo một mạch đến sông Bạch-Đằng.

            “Chiến-thuyền của Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp theo giòng sông Bạch Đằng, bỗng chốc thấy tướng nhà Trần là Nguyễn Khoái dẫn chiến thuyền đến khiêu chiến. Ô Mã Nhi tức giận thúc quân xông vào đánh, Nguyễn Khoái liền quay thuyền chạy. Bấy giờ đang lúc thủy-triều lên, mặt nước mênh-mông, Ô Mã Nhi vô tình, thấy địch quân chạy, cứ việc thúc thuyền đuổi theo. Nguyễn Khoái nhử quân đi khỏi xa chỗ đóng cọc, rồi mới quay thuyền đánh vật lại. Hai bên đánh đang hăng, thì đại quân của Hưng Đạo-vương tiếp đến. Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp thấy quan quân to thế lắm, mới quay thuyền chạy trở lại. Khi chạy đến khúc sông có cọc đóng thì nước thủy triều đã rút xuống, thuyền của quân Nguyên vướng mắc phải cọc, đổ nghiêng đổ ngửa, đắm vở mất nhiều. Quan quân thừa thắng đánh cực hăng, quân Nguyên chết như rạ, máu loang đỏ cả khúc sông. Tướng Nguyên là Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ, Cơ Ngọc đều bị bắt cả.”

 

“Trận Bạch-đằng-giang đánh vào tháng ba năm mậu-tí (1288) lấy được chiến thuyền của quân Nguyên hơn 400 chiếc và bắt được quân-sĩ rất nhiều.”

 

Thoát Hoan rút về theo đường bộ. Đến ải Nội Bàng thì gặp phục binh của Phạm Ngũ Lão đổ ra đánh. Quân Nguyên vùa chống vừa chạy. Trường Quân đi đoạn hậu bị Phạm Ngũ Lão chém chết. Binh Nguyên mười phần chết hết năm sáu.

            Bấy giờ Thoát Hoan lại nghe tin cấp báo đường về đã bị chặn cả, bèn sai A-Bát-Xích, Trương Ngọc đem quân mở đường. Áo-Lỗ-xích đi chận hậu, còn y đi giữa. Phục binh của Vương trên núi bắn tên dộc xuống như mua, hai tướng đi đầu đều tử trận cả. Thoát Hoan phải theo đường tắt mà trốn chạy về Tầu.

            Dẹp giặc xong, Hưng Đạo Vương rước xa giá về lại Thăng Long. Triều đình đem các tướng Nguyên bị bắt làm lễ hiến phù trận ở Chiêu Lăng (lăng vua Trần Thái Tông). Tại đây, vua Trần Nhân Tông trông thấy chân mấy con ngựa đá đều lấm bùn, cho rằng các tiên đế cũng cởi ngựa đá đi đánh giặc bèn làm hai câu thơ:

 

Xã-tắc lưỡng hồi lao thạch mã,

Sơn-hà thiên cổ điện kim âu.

Dịch nôm:

Xã-tắc hai phen bọn ngựa đá,

Non sông thiên cổ vững âu vàng.

 

            Sợ vua Nguyên phục thù, chiến tranh kéo dài, dân tình khốn khổ nên năm 1288, vua Trần sai sứ sang Tầu cầu hòa. Vua Nguyên thấy đánh ba lần đều bị đại bại nên thuận cho hòa.

            Năm sau, vua Nhân Tông cho các tướng bị bắt là Tích Lệ, Cơ Ngọc về Tầu. Phàn Tiếp lo sợ thành bệnh mà chết. Duy có Ô-Mã-Nhi là người tàn ác, vua ta cho về, nhưng sai người đục thuyền cho y chết chìm ngoài biển. Vua Nguyên biết nhưng không làm gì được. Đúng là “luật Nhơn-Quả”.

            Sau khi toàn thắng, vua khen thưởng cho tất cả tướng sĩ có công. Riêng có một số người hai lòng thì vua có cách: “Khi quân Nguyên đang cường thịch, triều thần lắm kẻ hai lòng, có giấy-má đi lại với giặc. Sau giặc thua chạy về bắc, triều-đình bắt được tráp biểu hàng của các quan. Đình thần muốn lục ra để trị tội, nhưng Thượng-hoàng nghĩ rằng làm tội những đồ tiểu-nhân cũng vô ích, bèn sai đem đốt cả tráp đi, cho yên lòng mọi người.

 

Phụ Lục

Giai thoại về

Hưng Đạo Đại Vương,

___________________________________

Hưng Đạo Đại Vương, có khi gọi tắt là Hưng Đạo Vương. Người Việt Nam tôn sùng ông, gọi là “Thánh”, tiếng thông thường là “Đức Thánh Trần”, không gọi tên vì tránh “phạm húy”, có đền thờ khắp cả nước, từ Nam chí Bắc. Ngay ở đền Ngọc Sơn, Hà Nội, nơi linh thiêng người dân Hà Nội thường đến lễ bái vào dịp Tết hay ngày lễ vía cũng có bàn thờ Ngài. Trên bàn thờ, tượng Ngài ở giữa, hai bên thờ Phật và thờ thần Tháp Rùa.

Tại sao tượng Đức Trần Hưng Đạo ở giữa tượng Phật và tượng Thần?

Người Việt Nam thường kết hợp tinh thần Dân Tộc với tinh thần Tôn Giáo trong “Chủ Nghĩa Yêu Nước”. Trong suốt những cuộc chiến đấu chống một ngàn năm Bắc thuộc cũng như thời kỳ một ngàn năm chống xâm lăng để giữ nền tự chủ của người Việt, Tổ tiên, thần thánh, các bậc anh hùng liệt nữ dù đã quá vãng vẫn cứ luôn luôn xuất hiện giúp đỡ, hỗ trợ vua quan, quân binh, dân chúng chống lại kẻ thù. Trong các chiến trận đó, không bao giờ thiếu vắng hương linh, hình ảnh Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Đức Thánh Trần, vua Quang Trung, v.v… Ngay cả trong lần đánh quân Tống trên sông Như Nguyệt, hai anh em Trương Hống, Trương Hát đã đem “âm binh” đánh úp trại quân Tống, giúp Lý Thường Kiệt đại thắng trong trận nầy.

Việc thờ phụng trong Đền Ngọc Sơn, tượng Thánh Trần ở giữa, hai bên là tượng Phật và Thần Tháp Rùa là có ý nghĩa của nó. Dù tôn giáo, dù thần thánh, một nhân vật như Đức Thánh Trần, ba lần đánh đuổi quân Mông Cổ, giữ nền độc lập, trăm họ an vui là người đó được tôn sùng là Thánh, còn hơn cả vua, là người tượng trung cho “Tinh Thần Dân Tộc”. Người đó phải được tôn vinh hơn hết.

Tổ Quốc trên hết là Tinh Thần yêu Đất Nước, yêu Dân Tộc của Người Việt Nam. (Chữ Người, tg cố ý viết hoa)

Đó là niềm tin tôn giáo, kết hợp với niềm tin Tổ tiên Dân tộc đã nâng cao tinh thần chống ngoại xâm của người Việt Nam.

Trong Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, Đức Trần Hưng Đạo là “Thánh Tổ của Quân Chủng”.

Khi Thái sư Trần Thủ Độ ép Trần Liễu phải nhường vợ là bà Thuận Thiên Công Chúa, chị của Lý Chiêu Hoàng cho em ruột là vua Trần Thái Tông, khi bà nầy có thai được ba tháng.

Phẫn uất vì chuyện nầy, Trần Liễu hợp quân chống lại Thái sư. Vua Trần Thái Tông buồn bã bỏ lên núi Yên Tử. Về sau, Trần Liễu phải xin vua Trần Thái Tông xá tội. Nhờ vua Trần Thái Tông, Trần Thủ Độ mới không giết Trần Liễu.

Tuy nhiên, Trần Liễu không quên được mối hận nầy. Khi sắp mất, ông trối trăn với con trai là Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo): Con không vì cha lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được. Quốc Tuấn vâng dạ, nhưng không nghĩ đó là điều phải.

Có lần Hưng Đạo Vương nói chuyện ấy với hai tì tướng là Yết Kiêu và Dã Tượng. Hai tướng ấy thưa rằng: Làm kế ấy tuy được phú quý một thời nhưng để lại tiếng xấu ngàn năm. Nay Đại Vương há chẳng đủ phú và quý hay sao? Chúng tôi thề xin chết già làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu”…

Có lần Hưng Đạo Vương thăm dò ý kiến con trai là Hưng Vũ Vương: “người xưa có cả thiên hạ để truyền cho con cháu, có nghĩ thế nào”. Hưng Vũ Vương tỏ rõ lòng “trung quân”: “Dẫu khác họ cũng không nên, huống chi cùng một họ.”

Nhưng khi Hưng Đạo Vương hỏi dò Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, người con thứ, nghe xong câu trả lời: “Tống Thái Tổ vốn là một ông lão làm ruộng, đã thừ cơ dấy vận nên có được cả thiên hạ” Hưng Đạo Vương không khỏi nổi giận, mắng: “Tên loạn thần là đứa con bất hiếu nầy mà ra.” Hưng Đạo Vương rút gươm tính chém. Hưng Vũ Vương hay tin, tới khóc lóc xin chịu tội thay.

Sau đó, ông dặn Hưng Vũ Vương: “Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài đã rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng”.

Năm 1285, khi quân Nguyên tấn công vua và Thượng Hoàng chạy ra Quảng Ninh, tình thế hiểm nguy. Lúc ấy, xa giá nhà vua đang phiêu giạt, mà Trần Quốc Tuấn vốn có kỳ tài, lại còn mối hiềm cũ của An Sinh vương, nên có nhiều người nghi ngại. Trần Quốc Tuấn theo vua, tay cầm chiếc gậy có bịt sắt nhọn. Mọi người đều gườm mắt nhìn. Trần Quốc Tuấn liền rút đầu sắt nhọn vứt đi chỉ chống gậy không mà đi.(Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)

Sử còn chép kia: Trần Thánh Tông thân đi đánh giặc, Trần Quang Khải theo hầu, ghế tể tướng bỏ không, vừa lúc có sứ phương bắc đến. Trần Thái Tông gọi Trần Hưng Đạo tới bảo: “Thượng tướng đi theo hầu vắng, trẫm định lấy khanh làm Tư đồ để tiếp sứ phương Bắc”.Trần Hưng Đạo thưa: “Việc tiếp sứ giả, thần không dám từ chối, còn như phong thần làm Tư đồ thì thần không dám vâng chiếu. Huống chi Quan gia đi đánh giặc xa, Thái sư theo hầu mà bệ hạ lại tự ý phong chức, thì tình nghĩa trên dưới, e có chỗ chưa ổn, sẽ không làm vui lòng Quan gia và Thượng tướng. Đợi khi xa giá trở về, sẽ xin vâng mệnh cũng chưa muộn.”

 

Mối bất hòa giữa hai chi họ cũng như bất hòa cá nhân giữa Trần Quang Khải và Trần Hưng Đạo trở thành một hiểm họa, có thể làm hại cho công cuộc chống quân Nguyên. Vì vậy, Hưng Đạo Vương tìm cách giải hòa:“Một hôm, Quốc Tuấn từ Vạn Kiếp tới, Quang Khải xuống thuyền chơi suốt ngày mới trở về. Lại Quang Khải vốn sợ tắm gội, Quốc Tuấn thì thích tắm thơm, từng đùa bảo Quang Khải:

 

“Mình mẩy cáu bẩn, xin tắm giùm”, rồi cởi áo Quang Khải ra, dùng nước thơm tắm cho ông và nói:

“Hôm nay được tắm cho Thượng tướng”.

Quang Khải cũng nói: “Hôm nay được Quốc công tắm rửa cho”.

 

Từ đó, tình nghĩa qua lại giữa hai người càng thêm mặn mà. Bản thân làm tướng văn, tướng võ, giúp rập nhà vua, hai ông đứng hàng đầu.

(Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)

 

Sử cũ cũng kể rằng: “Bấy giờ Hưng Vũ vương Nghiễn (là con trai của Trần Quốc Tuấn, lại có công đánh giặc) được lấy Công chúa Thiên Thụy, thế nhưng tướng Trần Khánh Dư lại thông dâm với Thiên Thụy, khiến nhà vua phải xuống chiếu trách phạt và đuổi Khánh Dư về Chí Linh vì “sợ phật ý Quốc Tuấn”.

 

Vậy mà khi quân Nguyên sang xâm lược Đại Việt lần thứ 3, Trần Hưng Đạo đã gạt bỏ hiềm riêng, tin cậy “giao hết công việc biên thùy cho phó tướng Vân Đồn là Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư” sau khi ông này được phục chức. Ngoài ra, khi soạn xong Vạn Kiếp tông bí truyền thư, thì Trần Khánh Dư cũng là người được ông chọn để viết bài Tựa cho sách.

 

Vua phong Trần Quốc Tuấn làm Thượng Quốc Công, cho phép ông được quyền phong tước cho người khác, từ minh tự trở xuống, chỉ có tước hầu thì phong trước rồi tâu sau. Nhưng Trần Hưng Đạo chưa bao giờ phong tước cho một người nào. Khi quân Nguyên xâm lăng nước Việt, ông lệnh cho nhà giàu bỏ thóc ra cấp lương quân, mà cũng chỉ cho họ làm lang tướng giả chứ không cho họ tước lang thực, ông rất kính cẩn giữ tiết làm tôi…

Hưng Đạo Vương thương yêu và lo lắng cho binh sĩ. Trong Hịch Tướng Sĩ, Vương nói:

Ta đây, ngày thì quên ăn, đêm thì quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm-đìa, chỉ căm-tức rằng chưa được sả thịt lột da của quân giặc, dẫu thân này phơi ngoài nội cỏ, xác này gói trong da ngựa, thì cũng đành lòng. Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh-quyền, cũng đã lâu ngày, không có áo thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho ăn, quan còn nhỏ thì ta thăng thưởng, lương có ít thì ta tăng cấp, đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa, lúc hoạn-nạn thì cùng nhau sống chết, lúc nhàn-hạ thì cùng nhau vui cười, những cách cư-xử so với Vương công Kiên, Đường ngột Ngại ngày xưa cũng chẳng kém gì.

Đầu năm 1281, sứ nhà Nguyên là Sài Thung đến Thăng Long, thái độ rất ngạo mạn. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép:

            “Vua sai Quang Khải đến sứ quán khoản tiếp. Thung nằm khểnh không ra, Quang Khải vào hẳn trong phòng, hắn cũng không dậy tiếp. Hưng Đạo Vương Quốc Tuấn nghe thấy thế, tâu xin đến sứ quán xem Thung làm gì. Lúc ấy Quốc Tuấn đã gọt tóc, mặc áo vải. Đến sứ quán, ông đi thẳng vào trong phòng. Thung đứng dậy vái chào mời ngồi. Mọi người đều kinh ngạc, có biết đâu gọt tóc, mặc áo vải là hình dạng nhà sư phương Bắc. Ông ngồi xuống pha trà, cùng uống với hắn. Người hầu của Thung cầm cái tên đứng sau Quốc Tuấn, chọc vào đầu đến chảy máu, nhưng sắc mặt Quốc Tuấn vẫn không hề thay đổi. Khi trở về, Thung ra cửa tiễn ông.

 

Binh Pháp:

“Tháng Sáu (âm lịch) năm Canh Tý (1300), Trần Hưng Đạo ốm. Vua Trần Anh Tông ngự tới nhà thăm, hỏi rằng: “Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?”.

Hưng Đạo Vương trả lời: “Ngày xưa Triệu Vũ Đế (tức Triệu Đà) dựng nước, vua nhà Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế thanh dã (vườn không nhà trống), đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, Hồ Nam, còn đoản binh thì đánh úp phía sau. Đó là một thời.

 

Đời nhà Đinh, nhà Tiền Lê dùng người tài giỏi, đất phương nam mới mạnh mà phương bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống. Đó lại là một thời.

 

Vua nhà Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế. Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy.

 

Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản binh chế trường trận là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như các tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy.

 

Những điều trả lời, cho người đọc thấy Hưng Đạo Vương là người giỏi về lịch sử quân sự. Về đời Triệu, sách lược chống Hán là là “kế thanh dã”, tức “vườn không nhà trống” là kế triệt lương thực của địch. Muốn kéo dài chiến tranh, phải có lương từ hậu phương đưa tới. Công việc nầy khó thực hiện vì quân thì đông, đường thì xa. “Thực túc binh cường”. Kế nầy là “thực không túc” thì “binh cường” thế nào đươc! Một mặt thì đánh bằng trận lớn, mặt khác thì phục binh đánh phía sau. Kế ấy làm cho giặc phải thua.

Đời Tiền Lê, đời Lý thì dùng kế khỏe đánh mệt. Giặc từ bên Tầu sang, đi đường xa thì mỏi mệt, tinh thần yếu, còn phía ta thì đánh ngay tại “sân nhà”, vua tôi cùng một lòng, tức là đoàn kết, thắng giặc không khó là nhờ vậy.

Binh pháp chính yếu của Hưng Đạo Vương là lấy Đoản Binh chống Trường Trận. Trường trận là trận lớn, giàn binh ra mà đánh. Đó là thế mạnh của quân đông, vũ khí lớn và dầy đủ. Xem như trận Đông Bộ Đầu, VNSL của Trần Trọng Kim chép như sau: Thoát Hoan thấy phía nam ngạn sông Hồng-hà có trại quân An- nam đóng giữ, mới sai quân lấy súng đại-bác bắn sang, phá tan cả các trại, quân-sĩ khiếp-sợ bỏ chạy hết sạch. Quân Mông-cổ bấy giờ làm cầu phao qua sông, kéo đến tận chân thành Thăng-long hạ trại.

            Quân địch tiến như vũ bão, hung dữ thì sức mạnh ấy không bền. Khi chúng tiến chậm mà chắc, ấy là tạo nên cái khó cho việc chống giữ.

            Binh pháp nầy, về sau, người ta thấy Việt Minh, (Võ Nguyên Giáp?) đem áp dụng, nhưng không bao giờ nói là học từ binh pháp của Hưng Đạo Vương mà nói từ… Liên Xô.

            “Kế thanh dã”, như Hưng Đạo Vương nói, là vườn không nhà trống, có khác chi với chủ trương “tiêu thổ kháng chiến” của Việt Minh. Trong trận Đông Bộ Đầu, quân Mông dùng đại bác bắn tan tác trại binh của ta, có khác chi “tiền pháo hậu xung” mà Võ Nguyên Giáp đã áp dụng. Khi còn là giáo sư sử địa, Giáp thường cổ võ cho chiến thuật nầy, nhưng bấy giờ ông ta nói là của Napoléon. Napoléon sau Trần Hưng Đạo những hơn năm trăm năm. Còn như dùng “Đoản binh” mà (khống) chế “trường trận” thì chính là chiến thuật phục kích, du kích, “đánh nhanh rút nhanh” mà sau nầy, Võ Nguyên Giáp đã đem ra áp dụng cho “bộ đội Việt Minh”. Những điều nầy, Giáp cho là học ở Liên Xô, ở “người thầy vĩ đại Stalin” chứ không nói là từ tổ tiên ta bao giờ.

            Điều căn bản, Hưng Đạo Vương trối trăn là “trên dưới một lòng” hay “vua tôi một lòng”. Hơn thế nữa, Hưng Đạo Vương còn nói tới “Anh em hòa mục” chính là việc ông đã làm với Trần Khánh Dư, Trần Quang Khải.

            Đó là điều nói và làm, không hô hào suông, về “Đoàn Kết” vậy

            Hưng Đạo Vương thương yêu binh sĩ, trong Hịch Tướng Sĩ, Hưng Đạo Vương nói:

Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh-quyền, cũng đã lâu ngày, không có áo thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho ăn, quan còn nhỏ thì ta thăng thưởng, lương có ít thì ta tăng cấp, đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa, lúc hoạn-nạn thì cùng nhau sống chết, lúc nhàn-hạ thì cùng nhau vui cười

            Hưng Đạo Vương coi binh sĩ như thủ túc, như anh em, chỉ sai người lính đi vào chỗ chế khi nào cần thiết. Ở “Lời thề sông Hóa” khi voi của Vương bị mắc lầy, Vương phải bỏ voi mà đi cho kịp đánh trận, voi khóc mà Vương cũng ứa nước mắt. Với súc vật còn thế huống chi là với binh lính, với dân lành.

            Trong chiến tranh Việt Minh chống Pháp, “chiến thuật biển người” thường được đem ra áp dụng, trận nào cũng vậy chứ không riêng chi trận Điện Biên Phủ, Việt Minh chết gần mười ngàn binh lính. Phan Đình Giót cùng 16 người nữa được vinh danh không phải là để cổ vũ cho “chiến thuật biển người” hay sao? Đó là chiến thuật vô nhân đạo, Cộng Sản mới thường dùng.

            Theo ý kiến của ông Hà Văn Tải, giám đốc đài truyền hình SBTN Boston ngày 25 tháng 2 năm 2013, đối với luật pháp Hoa Kỳ, thì một viên “tướng thí quân” như Võ Nguyên Giáp đã phải ra tòa án quân sự từ lâu rồi.

Phạm Ngũ Lão

Trong Vũ Trung tùy Bút, Phạm Đình Hổ thuật lại câu chuyện ông Phạm Ngũ Lão ra mắt Hưng Đạo Vương khá lạ kỳ:

Hưng Đạo Vương cùng tuỳ tùng đi ngang qua Đường Hào thấy Phạm Ngũ Lão ngồi bên vệ đường đang đan sọt. Quân lính kéo đến, dẹp lối đi. Phạm Ngũ Lão vẫn ngồi thản nhiên, như không để ý đến ai cả. Quân lính cầm giáo đâm vào đùi chảy máu mà ông vẫn không nhúc nhích, thấy vậy Vương dừng lại hỏi, bấy giờ Phạm Ngũ Lão mới trả lời rằng đang nghĩ một câu trong binh thư nên không để ý. Biết người có tài, Trần Hưng Đạo cho ông ngồi cùng kiệu đưa về kinh sư. Từ đó Phạm Ngũ Lão trở thành môn khách của Trần Hưng Đạo.

Sau Hưng Đạo Vương gả con gái (giả làm con gái nuôi của Trần Hưng Đạo vì nhà Trần có quy định chỉ gả con gái trong dòng tộc) là quận chúa Anh Nguyên.

Sông Bạch Đằng

Sông Bạch Đằng, còn gọi là Bạch Đằng Giang, (tên nôm: sông Rừng), hiệu là sông Vân Cừ, là một con sông chảy giữa thị xã Quảng Yên (Quảng Ninh) và huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng), cách vịnh Hạ Long, cửa Lục khoảng 40 km. Nó nằm trong hệ thống sông Thái Bình.

Điểm đầu là phà Rừng – Hải Phòng (ranh giới Hải Phòng và Quảng Ninh).

Điểm cuối là cửa Nam Triệu – Hải Phòng. Sông có chiều dài 32 km.

 

Sông Bạch Đằng là con đường thủy tốt nhất để đi vào Hà NộiThăng Long, từ cửa sông Nam Triệu các chiến thuyền đi vào sông Kinh Thầy, sông Đuống và cuối cùng là sông Hồng đoạn chảy qua Hà Nội

 

Sông Bạch Đằng nổi tiếng với 3 chiến công của dân tộc Việt Nam:

 

Trận thủy chiến sông Bạch Đằng năm 938: Ngô Quyền đánh thắng quân xâm lượcNam Hán,

Trận thủy chiến sông Bạch Đằng năm 981: Hoàng đếLê Đại Hành đập tan quân Tống xâm lược

Trận thủy chiến sông Bạch Đằng năm 1288: Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đại thắng quân xâm lược Nguyên (trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba).

 

Hiện ở khu vực cửa sông Bạch Đằng có 3 ngôi đền thờ 3 vị anh hùng trên đó là đình Hàng Kênh (Lê Chân, Hải Phòng) thờ Ngô Quyền, đền Vua Lê Đại Hành ở thị trấn Minh Đức (Thủy Nguyên, Hải Phòng) và đền Trần Hưng Đạo ở phường Yên Giang, (Quảng Yên, Quảng Ninh).

 

Bạch Đằng Giang phú

(Trương Hán Siêu danh sĩ nổi tiếng đời Trần, kiệt tác văn chương nổi tiếng nhất trong sự nghiệp sáng tác của ông là bài Bạch Đằng giang phú rất được lưu truyền…)

Khách có kẻ:

Chèo bể bơi trăng, buồm mây giang, gió.

Sớm ngọn Tương kia, chiều hang Vũ nọ.

Vùng vẫy Giang, Hồ: tiêu dao Ngô, Sở.

Ði cho biết đây, đi cho biết đó.

Chằm Vân-mộng chứa ở trong kho tư-tưởng, đã biết bao nhiêu, mà cái trí khí tứ phương, vẫn còn hăm hở!

Mới học thói Tử-trương: bốn bể ngao du.

Qua cửa Ðại-than sang bến Ðông-triều, đến sông Bạch-Ðằng, đứng đỉnh phiến-chu.

Trắng xóa sông kềnh muôn dặm, xanh rì dặng ác một màu.

Nước trời lộn sắc, phong cảnh vừa thu.

Ngàn lau quạnh cõi, bến lách đìu-hiu.

Giáo gậy đầu sông, cốt khô đầy gò.

Ngậm ngùi đứng lắng ngắm cuộc sống phù du.

 Thương kẻ anh hùng đâu vắng tá, mà đây dấu vết hãy còn lưu.

Kia kìa, bến sông, phu lão người đâu.

Lượng trong bụng ta, chứng có sở cầu.

Hoặc gậy trống trước, hoặc thuyền bơi sau.

Vái tạ mà thưa rằng: Đây là chỗ chiến địa vua Trần bắt giặc Nguyên, và là nơi cố-châu của vua Ngô phá quân Lưu đây.

Đương khi:

muôn đội thuyền bày, hai quân giáo chỉ.

Gươm tuốt sáng lòe, cờ bay đỏ khí!

Tướng Bắc quân Nam đôi bên đối lũy.

Đã nổi gió mà bay mây, lại kinh thiên mà động địa.

Kìa quân Nam-Hán nó mưu sâu, nọ Hồ-Nguyên có sức khỏe.

Nó bảo rằng: phen này đạp đổ nước Nam, tưởng chừng có dễ.

May sao:

Trời giúp quân ta, mây tan trận nó, khác nào như quân Tào Tháo bị vỡ ở sông Xích-bích khi xưa, giặc Bồ Kiên bị tan ở bến Hợp-phù thuở nọ.

Ấy cái nhục tày trời của họ, há những một thời, mà cái công tái tạo của ta lưu danh thiên cổ.

Tuy vậy, từ thuở có trời có đất, vẫn có giang-san.

Trời đặt ra nơi hiểm-trở, người tính lấy cuộc tồn-an.

Hội này bằng hội Mạnh-tân, như vương-sự họ Lã; trận nào bằng trận Dung-thủy, như quốc sĩ họ Hàn.

Kìa trận Bạch-Đằng này mà đại-thắng, bởi chưng Đại-vương coi thế giặc nhàn.

Tiếng thơm còn mãi, bia miệng hao mòn.

Nhớ ai sa giọt lệ, hổ mình với nước non!

Rồi vừa đi vừa hát rằng:

Sông Đằng một dải dài ghê!

Cuồng to sóng lớn dồn về biển Đông.

Trời Nam sinh kẻ anh hùng.

Tăm kềnh yên lặng, non sông vững-vàng

Khách vừa đi vừa hát rằng:

Vua Trần hai vị Thánh-quân.

Sông kia còn dấu tẩy trần giáp-binh

Nghìn xưa gẫm cuộc thăng-bình.

Tài đâu đất hiểm, bởi mình đức cao

            Hiện giờ chúng ta có hai bài hát về sông Bạch Đằng, một của Hoàng Quý, một của Lưu Hữu Phước.

            (Kỳ tới: Phần B: Chống Tầu đời Hậu Lê và Tây sơn)

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: