Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Người chết không nói…- Phi Ngọc Hùng

1Lão có người bạn trẻ vừa chết!

       Chết không hẳn là hết chuyện, bởi nhẽ các cụ nho gia ta xưa có câu kinh điển sinh vi quá khách, tử vi quy nhân, thiên địa nhất nghịch lữ, đồng bi vạn cổ sầu mà người bạn trẻ diễn nôm với sinh là khách qua đường, chết là người trở về, đất trời chỉ là quán trọ, thương thay cho hạt bụi ngàn năm. Người bạn trẻ còn góp nhóp thêm rằng cuộc đờingoài là quán trọ, thân phận lữ khách trong nỗi thăng trầm là được hay mất.Đứng giữa hai con đường, tha nhân không thể cùng một lúc đi hai ngảmà…phải chọn một.

      Giữa hai con đường như ngày thường và ngày lễ. Người bạn trẻ nhè chọn…ngày Tết để chết. Giữa địa táng và hỏa táng lại chọn…lò thiêu. Vì sau khi thiêu nhà táng cho vào máy nghiền, chỉ còn chất calcium, đen hay trắng, không mùi vị. Cốt xương chả là gì hết, chỉ là chất âm, trở về với nguyên tố đất, nước, gió, lửa, thưa bạn đọc.

.

      Bạn đọc ngẫn ngẫn rằng “người” là giống gì mà nhiều sự quá thể vậy!

      Lộng ngôn về người bạn trẻ ư, đại loại người thượng thông thiên văn, hạ thức địa lý, trung trí nhân sự. Bởi thông thiên bác cổ thế: Thế nên trong chốn làng văn xóm chữ kêu réo người là “Tự điển sống”. Văn sách thêm chút nữa, đại thể người bạn trẻ là dân làm văn, làm báo. Thế nên bạn đọc cho là có hơi nhiễu chuyện cũng chả sai quấy là bao.

      Bạn đọc lễnh đễnh thêm “người” thông thiên bác cổ thế nào chăng?

      Ừ thì như tháng trước, người bạn trẻ ghé Thạch trúc gia trang, nhân năm hết Tết đến, bèn đốt điếu thuốc, tiện tay khui chai rượu lỳ một lam làm một ly. Nho táo, nho nhe với chữ nhất bẻ đôi không biết! Vậy mà câu “Tửu lạc vong bần”, lão phang ngang bửa củi là uống rượu với “phá-xa” trộn với húng lìu, chạy trời không khỏi nắng nghèo là cái chắc. Người bạn trẻ há hốc mồm với lão…lạc đây là lạc thú chứ chả phải là…lạc rang.

      ***

      Đang khi vui lọ đàn phách mà đã sớm về với thiên cổ, lão khăn gói gió đưa thăm người bạn trẻ chết…trẻ ở nhà quàn. Bước vào tiền sảnh, lão đang lụng bụng ba điều bốn chuyện bạn là dân làm văn với danh vị nhà thơ, nhà văn bự sự quá thể, chẳng thấy nhà quàn, nhà xác đâu, đâu đó cũng đến “làm thầy đất ta, làm ma đất người” thì va vào mắt tờ “Cáo phó” có hàng chữ “Miễn phúng điếu”, với chữ “điếu” nghĩa là viếng. Lão lịu bịu rằng chả lẽ tang gia lại yêu cầu đừng đến thăm viếng chăng. Thêm nữa, đập vào mặt lão cái pháp danh: Chân ngã.Lão bật ngửa người chịu chết nghĩ không ra mới hôm nào chân nam đá chân xiêu, vừa nằm xuống chưa nóng chỗ. Chưa kịp để tha nhân cái quan định luận đã thửa được cái pháp danh lên niết bàn ngay. Hay thật chứ đâu có đùa.

      Bước tới bàn thờ, nhìn bức di ảnh người bạn trẻ. Mặt như cuốn tự điển đeo kính trắng bự sự trông cũng kinh điển lắm. Chợt nhớ năm xưa người bạn trẻ dặn dò lệ cúng bái của người Khổng Khâu là vái người sống ba vái, vái người chết hai vái. Nom dòm thấy chết chắc rồi, bèn kính cẩn vái hai vái. Bước qua nơi người bạn trẻ nằm an giấc nghìn thu. Dòm nom thấy người bạn trẻ đội mũ vàng, mặc tăng bào nhà Bụt cũng mầu vàng. Lão có “cảm giác” người bạn trẻ của lão chả…văn nhân tí nào.

      Không những chả văn nhân, văn vẻ mà lão còn bị tra tấn chữ nghĩa với pháp danh Chân ngã. Chả là vì đau chân há miệng, lão há miệng thở ra vì lão tuổi Thân nên đeo cái “ngã” của Tôn Ngộ Không: Ngã chấp, ngã mạn, ngã tham, ngã ái, ngã dục, ngã sân, ngã si…ngã gì gì đi chăng nữa, chung sự cũng là…vô ngã. Nên lão cứ an nhiên tự tại để mình phiêu lãng quên mình lãng du. Với vô ngã, hậu sự lão chả vất vả với cái pháp danh. Đang phiêu bồng đến nơi chốn này, hiền thê bạn đi tới đưa một xấp giấy nói là “Di cảo” mà người bạn trẻ trăn trối đưa tận tay lão. Ủa chuyện gì thế này? Lão trở ra tiền sảnh có bộ “sa lông” và ngồi xuống tụng như tụng kinh. Hóa ra, di mặc của bạn là dẵm lại lối mòn xưa cũ với tử vi quy nhân, hiểu theo người bạn trẻ là…người chết trở về.

      Mới đây non tuần, ngồi ngoài vườn chén tạc chén thù. Khi không lão đan lồng nhốt kiến tới Léon Tolstoi qua câu nói:“Chân lý là sự chết” trong những ngày văn gia còn sinh thì, hiểu là những trần ai khoai củ mà nhà văn phải hứng chịu khi còn sống nhăn. Người bạn trẻ vặc lão là theo tự điển Paulus Của “sinh thì” là…chết ngắc. Sốt tiết, lão ra cái điều trên thông thiên văn, dưới thuộc lòng địa lý như ai, bằng vào sự thể ai cũng phải chết qua câu “Hạc nội mây ngàn”. Người bạn trẻ nhấm nhẳng rằng ý câu này là nay đây mai đó, không biết bao giờ mới gặp nhau. Người bạn trẻ dỗi, không tửu lạc vong bần với lão nữa và cút về. Ấy vậy mà cũng chịu khó ngoái cổ lại nhắn nhe “rình sinh thì”, theo tự điển Alexandre de Rhodes là…sắp chết hay…gần chết.Người bạn trẻ về rồi, lão điện thoại hai, ba ngày chả thấy tăm hơi đâu.

      Nên hôm ấy lão nghĩ dại lỡ…hạc nội mây ngàn thì…chả biết bao giờ mới gặp nhau.

Bút Nam Tào, dao thầy thuốc, hiểu theo nghĩa tha ma mộ địa Nam Tào giữ sổ sống chết con người ta. Dao thầy thuốc là con dao xắt thuốc bén ngót, chỉ việc sắc bén, rõ ràng, không có chuyện che giấu. Hiểu theo nghĩa chung sự là tôi chết. Đã chết thật rồi. Nằm chết như mơ, mình không manh áo nên có gì phải giấu giếm.

Nhập gia tùy tục mà gia đây lại là…nhà quàn, vì mấy ai tới nhà quàn vào ngày Tết. Thế nên tiện nội eo sèo nhân thế với họ hết sức mà không đổi được qua tuần sau. Nếu tôi còn sống, tôi sẽ nói với tiện nội rằng thôi, đáo giang tùy khúc, người Việt ta đâu khúc mắc chuyện Tết tiếc. Vả lại, từ lễ nhập quan đến lò thiêu, nhà đòn phải tống táng người chết trước đi trước, hậu sự với người sau đi sau. Chịu thôi. Với lại, ai đó nói rằng mơ thấy chết là may, thấy đẻ đái mới sợ. Tết nhất, tới nhà quàn ngắm người chết mà thấy mình còn sống nhăn răng cạp đất, thì may mắn là cái cẳng.

Khách khứa lục tục đến, đúng lúc tôi đang ngứa ngáy với bộ “com lê” còn mới. Bởi tiện nội chẳng chịu hiểu cho với nói vãi thì lại nói vơ thì cứ theo giáo điều nhà Bụt người chết phải mặc quần áo cũ. Không nên mặc quần áo mới như vậy, làm như ra cái điều vẫn còn luyến tiếc những phù hoa phù vân của đời tục lụy nên chẳng chịu về cõi cực lạc cho khổ. Cũng như trong đám ma, đừng có gào tướng lên khóc lóc níu kéo người chết. Vì hương linh người chết bị giằng co, vướng víu không siêu thoát được mà ở lại cũng không xong. Vẫn chưa xong, vì tôi đang muốn đục tụi nhà quàn một quả. Thằng người tôi nằm trong áo quan tự thấy dị hợm gì đâu và…hơi bị ngượng: Vì nhà quàn một ngày như mọi bữa, họ tô son đánh phấn thằng đàn ông tôi như đàn bà con gái. Tôi ngượng là thế. Khách đến viếng, nhưng lại tọc mạch tôi ngỏm củ tỏi thế nào? Thế là tiện nội được thể thêu dệt cái chết của tôi cũng không giống ai. Nào là có điềm báo trước hay sao ấy nên tôi cứ giở quẻ nói gở thế này thế kia, mồm miệng cứ lầu bầu hết “mortuus”đến “iam mortuus”. Rồi đủng đoảng thế nào chẳng biết nữa đột dưng…trúng gió chết quay cu đơ. Vì vậy hai mẹ con chẳng biết gì cả, tiện nội còn nghiêm và buồn là…biết chết liền. Với ngẫu sự ấy, người nào cũng buồn nhiều hơn vui làm như nhà mình có đám nên ai nấy đều ngậm tăm.

Trừ hàng ghế cuối, có hai ông đang rì rầm nói chuyên văn chương thiên cổ sự:

– Ông đã đọc Chiến tranh và hòa bình của Léon Tolstoi chưa?

– Hơ! Chiến tranh đã chấm dứt năm 75 rồi mà!

Hai ông yên ắng, ngồi thẳng, hai tay trên gối, mặt nghiêm và buồn.

Ha! Nói chuyện văn chương thiên cổ sự còn ai trồng khoai đất này. Tôi đây chứ ai. Nên theo tôi đọc Chiến tranh và hòa bình vẫn chưa đủ, mà phải đọc một trong những di bản cuối cùng là “Tự bạch của Léon Tolstoi”. Tiểu luận bộc bạch về cuộc đời ông từ thiếu thời đến khi về già, về sự sống và cái chết, trong đó có đoạn:

“…Tôi cảm thấy chán ghét cuộc sống, tôi không thể cưỡng nổi thôi thúc tìm cách chối bỏ cuộc đời. Ý định tự tử đến với tôi cũng tự nhiên như trước kia tôi đi tìm ý nghĩa của cuộc sống. Tôi là nhà văn, bị ám ảnh bởi cái danh và bởi những lời tâng bốc người đời, rồi thì cái chết cũng sẽ đến và hủy tiêu tất cả…”

      Khiếp! Người bạn trẻ di quan, di ngôn gì mà hành ngôn hành tỏi hàn lâm quá thể. Thấy người ăn khoai cũng vác mai đi đào, lão bèn đào sới ra nhà văn Nga thế kỷ 19 là Tolstoi. Với Chiến tranh và hòa bình, lão chỉ thấy dài lê thê, có chương chả ăn nhập gì tới cốt truyện. Ấy là chưa kể những khúc, những đoạn nhẩy cóc cứ lung tung cả lên, thêm những chi tiết như chó đái giắt. Như người bạn trẻ của lão với thế này đây:

Trên bàn thờ cạnh áo quan, ảnh chân dung tôi …lộng kiếng thếp vàng. Chẳng giống thằng người tôi nằm trong áo quan tí ti ông cụ nào. Ảnh cũ, hồi tôi mới nhập thế cục bất khả vô văn tự vào Văn khoa. Chẳng biết khách vãng lai, vãng qua, có bản lai diện mục thiên cổ chi mê tôi không. Vì có tới ba cái tôi: “tôi” xác chết trong áo quan, “tôi” trong chân dung, và “tôi”, người chết rồi nhưng vẫn còn âu sầu nhân thế với nhất hữu ly biệt, thiên lý tống tiễn…Chẳng biết “tôi” nào là tôi thật, tôi giả.

Hơ! Lão ngộ chữ tới…thăm viếng. Ha! Tôi đã câu đọng chữ thừa với lão rồi: Thăm viếng là đi thăm người sống. Viếng là đi viếng người chết. Lại nữa, viếng người chết không nên vác cái máy ”Canon” to đùng. Vì rằng tiện nội thấy cái ống kính như nòng súng khẩu “cà-nông” là như lân thấy pháo. Y chang, tiện nội tôi nói lão bắt vào ống kính vài tấm nơi vãng cảnh, vãng phần. Tôi nghe lão ngộ chữ bấm “tách…tách…”

Ngó lão ngộ, tôi lại nhớ tuần trước ngồi ngoài vườn chén chú chén anh nghe lão búi xúi về Léon Tolstoi. Nhưng thiên cổ chi mê tôi không biết lão đọc khúc này chưa:

“…Tôi được rửa tội theo Kitô chính thống. Từ thơ ấu, người ta dạy tôi tin theo đạo. Nhưng khi vào tuổi 16, tôi không tin những gì được dạy bảo. Thêm nữa khi anh trai tôi Dmitri, đang học đại học. Bỗng nhiên trở nên mộ đạo và bắt đầu chăm chỉ đi lễ nhà thờ, ăn chay, chúng tôi chế giễu gọi anh là một Noah. Tôi a dua với những diễu cợt là cần đi lễ nhà thờ song không nên coi trọng quá mức những chuyện ấy. Tôi còn nhớ sau đó tôi đọc Voltaire với những nhạo báng Kitô chính thống giáo của ông khiến tôi thích thú. Một hôm anh kêu bị nhức nhối trong đầu, trước khi ngủ, anh cầu nguyện. Theo quán tính, tôi làm dấu thánh giá theo. Xong, anh hỏi tôi: “Chú vẫn còn làm cái đó à?”. Anh không nói thêm gì, mấy tháng sau anh mất. Nhưng từ ngày đó, cuối tuần Dmitri ở nhà. Câu nói của anh cho tôi thấy những động tác quỳ lạy chỉ là động tác vô nghĩa nên anh không đi lễ nhà thờ nữa…”.

      Lão thở ra như trâu hạ địa và lẫm đẫm với hai cuốn Chiến tranh và hòa bình, Anna Karenina của L. Tolstoi được coi là hai quyển sách được nhiều người biết đến. Các nhà phê bình đánh giá nghệ thuật của L. Tolstoi hiện thực như sau: “Những cuốn này thể hiện những hiện thực cuộc đời của bất cứ ai. Lý do của nghệ thuật hiện thực là làm thể hiện rõ cái tiềm ẩn mà người đời không nói ra được…Bởi vậy cái tuyệt tác của một tác phẩm nghệ thuật từ chỗ nó thể hiện đúng sự thật, là cái mà tất cả mọi người có thể nhận thấy khi nhà văn cho họ thấy. Nhưng chỉ nhà văn đa tài mới chỉ nó ra cho ta thấy.”

      Nhòm xuống trang di cảo, lão…thấy người bạn trẻ…đa mang đang vật lộn với:

“…Từ 16 tuổi tôi đã thôi không cầu nguyện nữa và theo thôi thúc của bản thân cũng thôi không đi lễ nhà thờ và ăn chay. Nhưng tôi vẫn tin vào một cái gì đó mà không nói được tôi tin vào cái gì. Tôi không phủ nhận người cõi trên, nhưng người cõi trên nào thì tôi chịu, tôi không phủ nhận Kitô với học thuyết, nhưng học thuyết ra sao thì tôi hồ nghi. Ngoài ra, tôi còn nghi ngờ cái chân chính của lớp tu sĩ mà tôi biết, tôi bắt đầu quan sát chăm chú họ hơn và nhận ra rằng hầu như tất cả các tu sĩ ấy, đa phần là những người hết sức tự tin và tự mãn. Một sự tự mãn chỉ có thể có ở các thánh nhân hoặc ở những người không biết thánh thiện là gì…”

Người bạn trẻ của lão lại nhẩy cóc như L. Tolstoi với chuyện nhà quàn, nhà táng…

Thằng người tôi nằm trong áo quan chờ đem đi thiêu. Sư cụ áo vàng, sư trẻ áo nâu và đoàn hộ niệm lục tục tới đọc kinh cầu siêu cho tôi được siêu thoát để lên niết bàn. Mặc dù tôi đã có pháp danh…Chân ngã, chân như nhưng vẫn còn nặng nợ với một kiếp phù sinh. Mà đoàn hộ niệm thì liệu oản đọc kinh, tùy theo chùa lớn, chùa nhỏ, nên hộ niệm nhiều hay ít. Sau đấy, sư cụ áo vàng ngồi chủ trì, sư trẻ áo nâu đăng đàn giảng giải cho thân nhân người quá cố thông hiểu, thông cảm cho giữa sự sống và cái chết. Sư trẻ hoằng pháp rằng: Rằng từ thưở khai thiên lập địa, ông Bành Tổ nhân trung dài sáu tấc, đến 800 tuổi cũng chết nhăn răng nữa kìa. Huống chi cái thằng tôi đang ngập hệ lụy u mê ám chướng nằm kia.

Tôi nằm đây và đang phiêu diêu với “sinh ký dã, tử quy dã”. Vậy chứ quy về đâu?

Hay là hãy bản lai diện mục với những người vãng sinh trước. Thế là hồn vía thiên cổ chi mê tôi chui qua tường sang phòng bên cạnh để thăm hỏi. Ông phòng bên cạnh cho biết vừa “lâm sàng” đã có “Người cõi âm” đợi sẵn, nắm tay ông bay trong hành lang ngập ánh sáng xanh lè, trắng lóa mắt. Ông lạc một vùng quá độ, vừa là đời này, vừa là một nơi nào khác. Nơi nào khác là căn nhà cũ của bố mẹ ông vào đời trước. Lúc này ông mới nhìn toàn bộ cuộc đời mình với cảnh giới này nối tiếp cảnh vật nọ, theo dòng thời gian với sự việc xảy ra. Rồi “Người cõi âm” đưa ông tới nghĩa địa chỉ nơi sinh phần của ông. Ông hỏi gì cũng không nói vì“Người cõi âm” mặc áo chùm từ đầu đến chân như muốn dấu mặt. Lát sau, “Người cõi âm” đưa ông về phòng, vừa lúc tôi chui qua nên “Người cõi âm” hãi quá …biến mất tiêu.

Nghe vậy, thiên cổ chi mê tôi mở cửa sổ sang phòng khác cho chắc ăn. Ông đây cho hay đang nằm trên bàn mổ với dao, kéo, búa, kìm để thông tim thì…hồn lìa khỏi xác thành quả bong bóng bay lơ lửng trên trần phòng mổ vì tim…ngừng đập. Ông nhòm xuống thấy rõ mồn một thằng da đen đè ông ra đấm đá lên ngực ông nhưng ông nhất định không chịu…thở. Lát sau lao công nhà thương mang xe đẩy ông xuống nhà xác, ông bay theo…Ở đây ông gặp “Người cõi trên” chết trước ông mấy ngày. Nom dòm thấy quả bong bóng, “Người cõi trên” nói quá khứ vị lai ông là thằng bé thổi bong bóng xanh xanh, đỏ đỏ trong gánh xiệc. Nghe lạ, ông hỏi với vị lai nếu tái sinh thì tiền duyên hậu kiếp ông có hay hớm gì hơn chăng? “Người cõi trên” dòm nom quả bong bóng làm như suy nghĩ gì lung lắm rồi vừa định thiên cơ bất khả lậu, thì… thì vì tôi quên cài cửa sổ, gió thổi bung ra. Quả bong bóng bay lên giời mất đất.

Thế là tôi để hồn đi hoang lẽo đẽo đi theo mấy cụ ông, cụ bà đã quy tiên từ đời Tam hoàng Ngũ đế nào rồi và đang vất vưởng quanh đây như tôi. Trong đó có một cụ ông nhằm vào cái tuổi chín tầng mây trời, phong thái rất an nhiên tự tại và thoáng đãng. Bèn làm lễ vấn danh, cụ cho hay cụ là Thần hoàng bản thổ làng Xũ. Tôi lẫn ngẫn trông thấy nhưng cũng kịpthưa thốt rằng cụ đã lên niết bàn chưa? Trên ấy có vui chăng? Cụ thong dong trả lời lên mãi, nhưng ở lâu không được, vì chán lắm. Chán như đám ma này, nhà đám và khách hết đi vào phòng ăn nhà quàn lại đi ra. Bởi tang ma điếu đám ở làng quê xưa khác bây giờ vì có phường bát âm tò te tí te. Tang gia thuê người khóc mướn tỉ tê, tê tái…vui lắm. Tiếp đến tang chủ ngả con sề đánh chén ngay bên cạnh áo quan, tiết canh lợn, lợn luộc chấm mắm tôm, rượu đế làng Vân uống tì tì…Uống đến say khướt, nhiều khi mấy bác đạo tỳ đánh nhau u đầu sứt trán đâu vào đấy rồi…rồi mới chịu khiêng người chết ra cánh đồng làng chôn.

      Đoàn hộ niệm lao xao sửa soạn đi về. Sư cụ áo vàng là đồng môn với lão, đi qua chỗ lão ngồi dừng lại nói: “Anh Hùng về nhớ viết truyện đám tang này và tập tục tang ma người Việt để dành cho mai hậu”. Lão dạ vâng vì mải nhìn sư trẻ áo nâu cõng ông Bành tổ nhân trung dài sáu tấc bước ra cửa. Lão ngồi xuống ôm khư khư tập di cảo…

Và rồi với nhật mộ hương quan hà xứ thị, yên ba giang thượng sử nhần sầu, cụ thần hoàng dẫn thiên cổ chi mê tôi về con đường mòn xưa cũ của làng Xũ. Vừa đi cụ vừa chín đụn mười trâu, chết cũng hai tay cắp đít là từ thưở khai thiên lập địa các cụ ta xưa có thiên táng, điểu táng, huyền táng, thiền táng, đến mộ chum táng, thủy táng, địa táng, hỏa táng. Cụ tuế tóa xong là tới đầu ngõ cũng vừa lúc nhà đám đi ra, vì ngõ trúc ao sâu nên cụ và tôi không len chân vào được. Và thiên cổ chi mê chỉ thấy người dẫn đầu tay cắp cái rổ, tay rải tiền âm phủ vàng bạc đủ loại. Ra khỏi ngõ, đô tuỳ nhà đám hạ quan tái vừa chạm đất là nhấc lên ngay, tất cả ba lần. Mỗi lần vậy, họ hàng hang hốc tang gia quỳ đập đầu xuống đất vái ba lạy. Cụ giảng giải quan tài nhấc lên hạ xuống là người chết chào tạm biệt gia đình về với ông bà tổ tiên.

Trên con đường ra gò mả đồng làng, cụ chỉ cho tôi bốn đô tuỳ. Lúc này thiên cổ chi mê tôi mới chuối sau cau trước là họ đầu quấn khăn đầu rìu, gấu quần xắn móng lợn, và “minh tinh nhà táng” là giây chão võng áo quan bằng hai đòn gánh tre gộc. Vịn quan tài có một anh trai đội khăn vành quấn rơm như cái rế đội nồi, áo sô gai vải bố, chân trần, chống gậy vông. Bỗng có chị gái chùm khăn mấn, áo lộn sống sổ gấu, lăn đùng ra giữa đường, giãy đành đạch như đỉa phải vôi, khóc lóc thảm thiết và níu áo người ta không cho bước qua. Thấy lạ nên sắc mắc. Cụ cho biết ấy là con dâu hay con gái lớn nằm cản người ta đem bố mình đi chôn.

Bèn ngẫn ngẫn chôn ở đâu? Cụ hóng mắt tít mù trên gò mả, khật khưỡng là mấy bác đô tuỳ nát rượu vai xẻng, vai cuốc đi trước để đào huyệt. Trong khi chờ đợi mọi người vực chị gái dậy đi tiếp. Bỗng thấy có người dắt theo con chó đen đi theo đám tang từ đằng sau. Lại đú đậm cho rõ. Cụ cười cái hậc ấy là chó đen quen ngõ, là rải tiền bạc âm phủ trên đường để đánh dấu cho người chết biết lối mà về chưa đủ. Nếu nhà đám có chó đen dẫn theo thì sau ngày mở cửa mả, đêm về hồn vía người chết theo hơi hướng chó tìm về nhà thì sẽ không bị lạc. Vì thế các cụ ta xưa có câu “quáng quàng như chó nhà táng” là thế. Nhưng đừng dẫn chó trắng. Vì hồn người chết sợ lắm. Vì “chó trắng cắn ma”. Bèn gặng hỏi tới nữa ngày mở cửa mả.

Mà cớ sự này phải hỏi lão ngộ chữ mới xong. Ủa mà từ nãy giờ lão ta đi đâu vậy? Tôi không thấy! Mà tiện nội đưa cho lão tập lai cảo chưa? Tôi cũng không hay!Tôi phảiđi tìm lão mới được, chắc lại ra ngoài ngắm khói huyền bay lên cây đây…

      Khi không miệng lưỡi lão ngứa ngáy. Đợi người bạn trẻ ra, lão sẽ rủ ra ngoài để nhớ nhà trong điếu thuốc. Nhưng đợi mãi không thấy tăm hơi đâu, nên hặm hụi tiếp…

Đào huyệt chôn xong, ba ngày sau làm lễ mở cửa mả. Không như ở đất tạm cư, tôi không thấy sư ông gõ chuông, rắc gạo, đi vòng vòng quanh mộ. Bèn hỏi. Cụ cho hay tập tục chôn cất tùy theo thổ ngơi, làng cụ ma chay là thỉnh thầy cúng. Vì thầy cúng khác sư làng là hay vẽ chuyện để có chuyện mà kể. Như trước khi di quan, có thấy cúng lấy cái niêu đất đập vào quan tài xua đuổi tà ma. Cụ kể lể tiếp lễ động quan, có thầy cúng lấy dao bầu mổ lợn thọc vào trong quan tài gạch ba khía vẽ bùa. Mỗi đầu quan tài mỗi “chém” nhẹ tưng ba nhát nữa vì gỗ mang từ rừng về hôn ma còn vất vưởng nên chém…ma cho chết ngắc. Nhòm thầy cúng cầm dao bầu dứ dứ như đuổi tà ma, lật đật như ma trật đám quải cách mấy, tang chủ tang gia bối rối cách nào cũngbiết ý thầy đòi cái sỏ lợn. Con lợn trơ mắt ếch ra vì khi không mình bị mang ra ngả thịt, vì vậy mới có câu “trơ trơ như sỏ lợn nhìn thầy cúng” là thế.

Cụ bì bõm với lễ mở cửa mả thầy cúng bày bộ tam sên gồm trứng, con cua luộc, miếng thịt lợn. Và một con gà sống thiến còn…sống. Con gà được buộc giây vào chân được thầy cúng dắt đi quanh mả rải gạo cho gà mổ, tay vung vẩy bó nhang, ta bắt quyết, mồm hô hoán “Hồn nay ở chốn non bồng, qua đây hồn hãy vui lòng ghé chơi”. Sau đó nhà đám đi về, bỏ mặc gà muốn đi đâu thì đi. Gà đợi làm lễ lâu mệt khờ người, lại bị bỏ bơ vơ giữa đồng không mông quạnh, nên ngơ ngơ không biết đi đâu. Thấy mặt tôi ngáo ệch trông thấy, thấy vậy cụ diễn nghĩa câu văn ngữ trên chỉ người lúc nào cũng ngơ ngáo như thiên cổ chi mê tôi, như…”gà mở cửa mả”.

      Chôn cất theo các cụ tuế toái thật. Lão ngước mắt lên cáo phó để nhớ ngày, giờ lễ hỏa táng. Để có mặt cho đầy đủ lễ bộ, phép tắc. Tiếp, lão lúi húi với những chữ là chữ:

Trở lại ông Bành Tổ chôn cất thế nào cho phải phép? Chứ từ hồi sinh tiền, tôi nói với tiện nội tôi rằng chết đem thiêu rẻ, gọn, sạch. Có người bảo nóng quá. Nóng thì có nóng thật, 4000 độ F chứ đâu có bỡn. Nhưng chết rồi, nóng, lạnh khỉ gì nữa. Mặc tôi vật lộn với nóng, lạnh của lò thiêu, hai ông cuối dẫy hàng ghế vẫn còn râm ran:

– Ông đã đọc Anh em nhà Karamazov của Dostoevskychưa?

– Vâng, mới đi xem “lúy” ra mắt sách tháng trước ở Canvas Bistro.

Mặt buồn hiu hắt, tay bó gối, ngồi thẳng băng, hai ông trong tĩnh lặng.

Hơ! Tôi cũng buồn hiu và đang hiu hắt với  “Tự bạch của Léon Tolstoi”…

“…Tôi đã từng giết người trên trận địa, thách đấu súng, thua bạc, nát rượu, quan hệ luyến ái với đàn bà có chồng. Vào thời kỳ ấy tôi bắt đầu viết vì hám danh, và tự mãn. Trong viết lách tôi cũng hành xử như trong đời sống. Để có được tên tuổi, tôi che giấu cái tốt lành, phô trương cái xấu xa. Và tôi đã dùng đủ văn cách để tạo ra cung

cách từng trải cho cuộc sống và người ta ca tụng tôi…”.

      Trộm thấy cuộc đời L. Tolstoi thác loạn quá thể, thế là lão được thể ngập ngụa với cuộc đời của Dostoevsky: Năm 1846 Dostoevsky đọc sách báo cấm, bị bắt, lãnh án tử hình nhưng được ân xá tại pháp trường. Ông bị kết án bốn năm lao động khổ sai tại Tây Bá Lợi Á. Các tác phẩm tiêu biểu gồm Tội ác và hình phạt, Thằng ngốc, Anh em nhà Karamazov….Đậu vào mắt là tử hình với pháp trường, chưa thấy quan tài chưa đổ lệ, lão chợt nhớ ra mình đang ở nhà đám, và đám ma đang ở tao đoạn thế này đây:

Tôi chết rồi quớ quáo không biết đi về đâu, nên lụi đụi theo người muôn năm cũ. Vừa vặn người nhà đòn đẩy ông trước cửa phòng tới lò thiêu. Cụ thần hoàngdẫn tôi đi theo cái hòm đem đốt là gỗ vàng tâm. Cụ “vén tay áo sô đốt nhà táng giấy” chỉ cho tôi thấy: Phu nhà đòn đẩy linh cữu vào lò. Người trong lò lôi xác ra nhét vội vào hòm “foam”. Đợi thủ tục lễ nghi của tang gia xong. Người bên ngoài điều chỉnh nhiệt độ. Và bấm nút. Với người ngợm mỗi ngày rơi rụng lác đác như lá mùa thu, gặp thời buổi gạo châu củi quế, hôm nay đốt thêm một khách vãng lai nữa. Phu nhà đòn bắt thêm mớ bạc bèn bia rượu và chẳng quên chửi thê, nên…vui như Tết.

Vui hơn nữa có hai gã đạo tỳ thuộc diện Bắc kỳ 2 nút ngồi uống bia. Bỗng chúng hè nhau bỉ thử thằng tôi chẳng ra làm sao cả. Gã đạo tỳ “mặt cúm chó” khơi mào:

– Thằng mà em làm thịt hôm qua chắc là sĩ quan chiến tranh chính trị nên miệng nó cứ ngoác ra, mồm không đóng lại được. Em sợ nó nói nhiều, nói dai không bằng…nói dại nên em lấy kim chỉ khâu bố cái mồm nó lại để nó…không nói nữa.

– Khiếp bỏ mẹ! Nói mẹ là Ngụy tù cải tạo cho được việc. Vì tuyên truyền chống phá cách mạng nên bị biệt giam là đúng quá rồi. Cả năm bị cùm. Nhòm thấy “cái hàng” như cái conex là co chân lại. Bố phải lấy rượu bóp nát hai đầu gối nó mới chịu nằm yên ngay ngắn cho. Mẹ! Chết rồi còn tiếc thương, tiếc nhớ những ngày tù tội.

– Cái hàng là cái gì hở.

– Hở hang gì. Cái hàng là…cái hòm. Khỉ ạ!

Gã mặt non choẹt, mặt “bức xúc” thấy rõ:

– Bác tin có địa ngục không?

Thiên cổ chi mê tôi nhìn cụ mắt tròn dấu hỏi. Cụ thần hoàng làng Xũ cười mủm mỉm và…lắc đầu. Gã đạo tỳ “mặt hoa trâu tháng đẻ” xưng “bố” ra mặt dậy bảo:

– Dào, vẽ chuyện. Bố dậy cho mày nghe nhá, nhà Bụt đâu có chuyện hỏa táng với địa táng. Mà giả thử có tống vào lò thiêu là biết ngay. Chết rồi còn nóng lạnh chó gì nữa. Ngay cả chôn xuống đất rồi lớ ngớ chui xuống địa ngục bị Diêm vương nhúm nhét vào vạc dầu cũng vậy thôi. Vì vậy mày cứ uống bia, chửi thề thỏa mái như bố đây. Chết hết chuyện, làm chó gì có âm ty với địa ngục.

Ngẫm chuyện đời thường, nom nhòm hai gã đạo tỳ Bắc kỳ này biết quái gì đạo Bụt …với niết bàn, địa ngục, và chân tướng của cái chết…với co quắp, há miệng. Thế nên thiên cổ chi mê tôi thưa gửi với cụ thần hoàng là nhà Bụt đã thực chứng “Hiện tượng khi người sắp chết” rất thần thức từ thần khí tới diện tướng. Bởi do căn duyên và nghiệp quả của mỗi người, mỗi cái chết đều có hiện tướng khác nhau. Nếu gần chếttừ từ nhắm mắt lìa đời nhẹ nhàng như đi vào giấc ngủ bình thường thì sẽ lên niết bàn. Còn người chết một là mắt mở, hai là miệng hả, ba là mũi bầm đen, bốn là người ngợm co quắp thì chắc như cua gạch là sẽ bò xuống địa ngục.

Cụ lắc lắc đầu, mở mắt, hả miệng mà rằng khi nào tôi ra ngoài thông khói, cụ sẽ thông hanh cho tôi tường mọi nhẽ của nghiệp chướng trong cõi nhân gian.

Chợt nhớ lại ngày nào, thiên cổ chi mê tôi cưỡng từ đạt lý với lão ngộ chữ, với ngã hữu thốn tâm vô dự ngữ, tạm hiểu là ta có tấc lòng chưa ngỏ được. Ấy là “sinh ra là khách qua đường,…thương thay cho hạt bụi ngàn năm”. Khi không trong nhà quàn văng vẳng từ nhạc cổ điển êm dịu sang điệu…sa mạc nghe chỉ thấy toàn cát là…cát bụi: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi để một mai muôn hình hài lớn dậy – Ối! Cát bụi ngập đầy, vết chân nào xóa bỏ một kiếp rongchơi – Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi để một mai tôi trở về làm cát bụi…”.

      Lão cà cộ ra và ngẩng đầu ngó chừng chả thấy máy móc nào đâu, nên ngẫm ngợi người bạn trẻ có hoang tưởng quá chăng!? Rồi đành cơm niêu nước lọ tiếp:

Chẳng lẽ thằng chết cãi thằng khiêng, tôi bỏ mặc hai gã đạo tỳ và cụ thần hoàng trước cửa tử với địa ngục và niết bàn. Lớ quớ thế nào chẳng biết nữa tôi lại gửi thưa với cụ là qua kinh A di đà nếu thiểu dĩ thiện căn, phúc đức nhân duyên khó sanh bỉ quốc. Kinh viết rằng nếu thần thức xuất ở ngực tái sinh về cõi người. Nếu hiện tướng xuất đầu gối tái sinh vào súc sinh. Thấy cụ im thin thít như thịt nấu đông, thiên cổ chi mê tôi sa đà và tụng tiếp: Bởi nghiệp báo của duyên nghiệpvới sự tái sinh qua viễn kiến nhà Bụt. Nếu như thần thức xuất thần ở đầu thì vãng sinh về cõi Bụt. Nếu như hiện tướng xuất thần ở bụng thì kiếp lai sinh vào ngạ quỷ.

Nghe thủng xong, cụ háy háy mắt rủ rê tôi ra ngoài. Cụ nhón một điếu thuốc hít lấy hít để. Thông hơi thông điếu thông thoáng xong, cụ dậy rằng những luân hồi, nhân quả vừa rồi qua giấc ngủ êm như mơ rồi khơi khơi lên niết bàn. Còn người mắt mở, miệng hả để nháo nhào xuống địa ngục. Thì nhẽ ấy là chuyện truyền khẩu nhân gian, vì vậy cụ chết vào giờ trùng mới hóa thân là thần hoàng là thế. Thế nên qua nhân gian với những gì mắt thấy tai nghe từ đời này qua kiếp khác để lưu tử truyền tồn. Nếu thân xác từ từ xạm đen, xanh xám rồi rên rỉ, mặt nhăn nhó, quằn quại thân mình thì cái chết bắt đầu từ chân. Nếu trên thân lạnh trước rồi dần dần lạnh xuống hay ngược lại. Như có bài kệ đã nói: Nghiệp lành, dưới lạnh trước nên thân xác chết từ bụng lên. Còn nghiệp dữ thì trên lạnh trước, thân xác chết từ đầu xuống.

Làm hết điếu thuốc chùa có mùi nhang, cụ đủng đỉnh tiếp: Sau 49 ngày, hồn xuất để đầu thai là người, là súc vật. Hay vãng sinh là Bụt, là ma do tu nghiệp, tu học mà ngài Tam tạng Trần Huyền Trang đưa vô lượng kiếp vào Tam tạng kinh. Chứ nghiệp chướng vô khả vô bất khả ấy không có trong kinh, luận của nhà Bụt! Khi không tôi vấn cụ với tích 49 ngày. Cụ dậy là ngay cả 100 ngày. Cụ là thần hoàng cũng không hay biết nữa là. Mà đâu cần đợi đến thất thất lai tuần, vi có người đầu thai trong vài tiếng đồng hồ sau khi chết, nhất là lính thú chết ngoài trận địa. Vì họ không chịu được cảnh hồn họ lang thang ngoài chiến địa với máu me. Họ muốn nhập xác liền. Có lẽ lý do này giải thích được hiện tượng chúng sinh …sinh đẻ nhiều sau chiến cuộc. Nhưng cũng có nhiều người mấy trăm năm sau mới chịu tái sinh cho. Như có linh hồn ăn cháo lú rằm tháng bẩy từ thời cụ Tiên Điền Nguyễn Du mà bây giờ đây mới trở lại cõi tục lụy như Thiền sư Phạm Thiên Thư chẳng hạn.

Rồi thì khi không lưỡi đá miệng thiên cổ chi mê tôi bẩm với cụ: Xũ là lý sự gì? Cụ cười cái bép: Xũ là…cái hàng. Rồi cụ thăng. Văng vẳng, lửng lơ giữa đất trời như sáo diều cốc: Hàng là hòm…Hòm là quan tài…Quan tài là áo quan…Áo quan là….

Vào nhà quàn, thiên cổ chi mê tôi dùi xùi chết kèn trống sống dầu đèn đến Léon Tolstoi với nhân sinh bách tuế vi kỳ, với đời người lấy trăm năm làm hạn, không như chuyện ruồi bu vừa rồi. Nhưng lại ruồi bâu kiến đậu tới những cái chết…

“…Thuở ấy tôi không nhận ra bản thân che giấu sự không hiểu biết về cuộc đời và cái chết của mình. Như khi lưu lại ở Paris, cảnh tượng xử tử hình đã lột trần trước mắt tôi cảm quan chông chênh của tôi về cái chết. Khi tôi trông thấy cái đầu của những tử tội rời khỏi thân thể, cái này lẫn cái kia rời nhau rơi bịch xuống hòm, tôi đã không hiểu ra. Một chuyện khác khiến tôi chẳng nhận ra tính bất toàn cho đời sống là cái chết của anh trai tôi Dmitri. Là một người tình cảm, anh tôi chết trẻ không hiểu được mình đã sống để làm gì và lại càng ít hiểu hơn, chết rồi thì sẽ đi về đâu…”.

      Gấp tờ di mặc lại, lão xoay xỏa với Dostoevsky. Vì có nhiều cái nhìn khác nhau, có nhiều độc giả say mê hâm mộ sáng tác của Dostoesvky, và cũng nhiều người chê là nhàm chán, khó hiểu. Khi truyện của ông mới được xuất bản, các nhà phê bình đương thời chê là phóng đại, không thực, lập dị, tác giả nhiều tưởng tượng quá. Nhưng chuyện đâu còn đó, lão hặm hụi tiếp với người bạn trẻ của lão qua L. Tolstoi cái đã…

“…Giả sử có một thiên thần đến thực hiện mọi ước vọng của tôi thì tôi không biết nói gì. Vì không phải ước vọng, chỉ là thói quen như trong lúc say rượu xưa kia, lúc tỉnh táo, tôi biết rằng cái đó chỉ là hư ảo. Bởi vì tôi đoán được nó là cái gì. Ấy là: Cuộc sống là vô nghĩa. Cứ như thể và cuối cùng đi đến một vực thẳm và trông thấy rõ dưới đó không có gì cả, ngoài cái chết. Và ngoài cuộc sống hư ảo, còn khổ đau, thì sự tuyệt diệt mới là thật. Tất cả cái đó mọi người đều biết. Không bệnh tật thì cái chết cũng từ từ sẽ đến và sẽ không còn lại gì ngoài mùi hôi thối và lũ giun..”.

Hơ! Ngủ với giun dế thì lão ngộ chữ…ngộ ra ngay. Nhưng lão hiểu thế nào được nỗi ám ảnh với cái chết của Léon Tolstoi. Như thiên cổ chi mê tôi đây đang bồi hồi hồi tưởng lại tiếng chuông của ông bõ nhà xứ mà từ tấm bé chưa hề thấy mặt, đã bao nhiêu năm tháng như thế. Thế nhưng ám ảnh tôi nhất là hồi chuông báo tử của bõ. Tiếng chuông quê mùa vụng dại cứ vang vọng điểm một hồi dài với ba tiếng một. Rồi bỏ lửng. Buông rơi. Từng tiếng. Từng tiếng một. Tiếng “boong” dài ra. Rồi buông rơi rớt xuống. Rớt xuống tan lõang để rồi mất hút. Tan lõang như tiếng sáo diều bảng lảng trong một ngày tàn. Tiếng chuông cầu hồn của bõ cứ nhập vào thiên cổ chi mê tôi mãi. Mãi cho đến lúc này về những chết chóc. Và thiên cổ chi mê tôi áng chừng lão ngộ chữ sẽ đốn ngộ ra ngay với chuyện kể lể dưới đây của Tolstoi:
”…Từ lâu tôi được nghe kể một chuyện ngụ ngôn phương Đông về một lữ khách giữa thảo nguyên bị một con thú tấn công. Chạy trốn con thú, lữ khách nhảy xuống cái giếng cạn, nhưng trông thấy dưới đáy giếng một con rồng đang há miệng chờ. Anh không dám chui lên để phải chết bởi con thú, cũng không dám nhảy xuống để bị con rồng ăn thịt, nên phải bám chặt bụi cây mọc từ khe giếng. Tay lữ khách yếu dần, và anh ta cảm thấy sắp phải nộp mình cho thần chết đương chờ anh ta từ hai phía. Nhưng anh vẫn cố giữ, và trong khi cố giữ, anh ngoái xung quanh thấy hai con chuột nhắt, một trắng, một đen, bò đến và gặm bụi cây. Chỉ một lát nữa bụi cây sẽ đứt, và anh ta sẽ rơi vào miệng rồng. Lữ khách nhìn thấy tất cả và biết rằng cái chết không thể tránh khỏi, trong khi anh ta vẫn bị treo lơ lửng trong không trung. Anh ta tìm thấy trên lá cây mấy giọt mật của mấy con ong, thế là anh thè lưỡi ra liếm chúng.

Cũng thế, tôi đang bám lấy cuộc sống, biết rằng sự chết đang sẵn sàng, không thể tránh khỏi. Tôi cũng liếm những giọt mật trước đây, nhưng không còn làm tôi vui thích, thế mà con chuột trắng và chuột đen, ngày và đêm, vẫn tiếp tục gặm cái cành cây mà tôi níu lấy. Tôi chỉ thấy hai con chuột và không thể nhìn đi chỗ khác. Đây không phải là truyện ngụ ngôn, mà là sự thật, không hồ nghi và ai ai cũng thấy…”.

      Bỗng dưng người bạn trẻ mang lão ra bày cỗ với hai con chuột, mà nào ai biết ma ăn cỗ bởi lẽ lão biết chuyện này năm ở trong “101 Truyện Thiền” của thiền sư Nyogen Senzaki viết vào thế kỷ 13. Nó còn có tựa đề khác nữa là “Góp nhặt cát bụi”. Và tên của công án thiền là: ”Một ngụ ngôn”. Không như L. Tolstoi dài dòng quá thể, trong kinh nhà Bụt do Đức Phật kể thì ngắn gọn hơn và không có…con rồng mà chỉ có…quả dâu!  

      Nom nhòm xuống dưới…trang giấy, người bạn trẻ của lão lại bày biện cỗ bàn nữa:

Cùng một cõi đì về, thiên cổ chi mê tôi như thấy thiếu vắng một cái gì? Chợt nhớ ra từ nãy đến giơ lão ngộ chữ…vắng mặt, dục dặc thế nào chả biết nữa lại hồi cố nhân tới cụ Thần hoàng bản thổ làng Xũ với 49 ngày, với 100 ngày…

Nếu có lão ngộ chữ ôm đồm với Chữ nghĩa làng văn ở đây thì cụ thần hoàng vỡ bọng cứt ra ngay là từ thời Đông Hán, người Tàu truyền bá Hán học sang nước ta. Lối dậy bấy giờ, là dậy chữ nghĩa cho một số người làm lại thuộc cho các quan Tàu. Sau là dậy dân ta lễ nghĩa như lễ cưới vợ, gả chồng và…tang gia bối rối theo Kinh lễ nhạc của người Khổng Khâu. Người đây làm quan chức Tư chức lại, lo việc nuôi dê cho việc cúng bái, nghi lễ nơi miếu đường. Khi người mất, xóm gừng láng tỏi ở xứ Bưởi để tang 100 ngày. Riêng trưởng môn là thầy Tử Lộ để tang 3 năm.

Từ việc thờ cúng với quả trứng, mâm xôi, con gà khỏa thân có đầu, dân gian ta có câu ca dao: Anh có sống khôn chết thiêng ngồi dậy ăn xôi nghe kèn để em đi lấy chồng. Nhưng ấy là chuyện hai, ba trăm năm sau Khổng tử với người Trang Tử. Rồi cũng từ lễ nhạc, mà nhạc là ca dao, đồng dao, nhạc lễ trong miếu đền, nhạc đám ma của người Khổng Khâu để lại, nên ta có nhạc cung văn, chầu văn, phường bát âm đám ma. Từ “hà, sĩ, thương, xích, công, lục” ta có “hò, xử, xang, xê, cống, líu”.

      Ủa gì mà người bạn trẻ đổ vấy cho lão từ phường bát âm đám ma qua cổ nhạc Nam phần? Mà nghĩ cho cùng, người bạn trẻ của lão cũng chả hay hớm gi cho mấy, bởi bị cụ thần hoàng lỡm mà không hay vì làm quái gì có…làng Xũ. Vì chết kèn trống, sống dầu đèn thì từ thời Lê, khu Kẻ Chợ 36 phố phường ở phố Hàng Kèn phía nam Hồ Gươm. Phố này có một phường kèn trống bát âm chuyên phục vụ đám ma. Phố Hàng Mã chuyên bán các loại đồ cúng tế bằng giấy cho các đám tang.Phố Hàng Đồng bángia dụng nhang đèn hương khói. Còn đòn đám ma và người khiêng đòn nắm ở phố Hàng Đàn. Phố Hàng Hòm làm quan tài vì nghe thô kệch nên sau đổi tên là…phố Lò Xũ.

       Cuối thế kỷ 19, người Tây lập mấy phố Tây nên những người cho thuê đòn đám ma, phường bát âm đều dọn lên Hàng Lược để tiện cho các gia đình có đám đến thuê… Ngoài ra có quán Trung đồ, tức quán giữa đường, nơi tạm dừng chân của những chiếc xe tang độc mã hay tứ mã ở phố Huế. Cùng với quán xá, từ người khiêng đòn đám ma là đô tùy và đô tỳ phục vụ cho nhà táng, để phố hàng Lược nẩy sinh quán mộc tồn ở trên gác gỗ có từ tứ đại đồng đường. Xưa, ở đấy mấy bác phu nhà quàn ngồi trên chõng tre tì tì đánh chén với rượu Kẻ Mơ. Chuyện “làng Xũ” là thế đấy, còn chuyện tì tì đánh chén, lão gà gật với gái có tang…gà mái ghẹ và trở lại với…chuyện đánh chén…

Trở lại chuyện ăn xôi nghe kèn để em đi lấy chồng với Trang Tử qua Sử ký của Tư Mã Thiên, chương Trang Tử liệt truyện, với chữ nghĩa tam sao thất bản như sau:

Một bữa ngoài đồng ruộng, Trang Tử đang phe phẩy quạt thì thấy một người đàn bà cũng đang cầm quạt quạt một nấm mồ. Ông hỏi thì nàng nói khi chồng nàng chết có dặn dò là ráng đợi mồ khô, xanh cỏ hày đi lấy chồng. Nay vừa đúng 49 ngày. Trang Tử về nhà thuật lại cho vợ nghe, vợ cười mà rằng: “Sao lại có chuyện vội vậy!”.

Trang Tử có phép thuật bèn giả chết để thử vợ. Trước khi chết dặn vợ quàn 100 ngày rồi hãy chôn. Những ngày ấy, “chủ phụ” dựng xạp, bày rượu chè ê hề cạnh quan tài cho khách phương xa thăm viếng nghỉ ngơi, chè chén. Trang Tử mới hiện ra một chàng trai trẻ trong đám khách ấy. Vợ Trang Tử thấy chàng trai trẻ nên phải lòng. Nửa đêm chàng gõ cửa phòng giả bộ đau bụng rên la như sắp chết. Vợ Trang Tử hỏi đau vậy uống thuốc gì hết. Chàng trai trẻ nói nếu có sọ người mài ra uống thì hết bệnh. Vợ Trang Châu mở quan tài, lấy búa…búa vào đầu Trang Tử một búa…”.

Thiên cổ chi mê tôi hết ngẫm ngợi phải chăng từ 100 ngày điếu đám thịt heo quay, Mai quế lộ nên sau này ta có tiết canh lòng lợn, rượu làng Vân chăng? Lại nhang đèn hương khói đến quả trứng, con gà. Ngẫm chuyện gà đẻ ra trứng hay trứng đẻ ra gà với 100 ngày của Khổng Tử hay Trang Tử đây? Nói cho ngay, ngay cụ đương cảnh thần hòang, thượng đẳng thần làng Xũcòn không biết, huống chi lão ngộ chữ.

Ha! Chuyện ông thần hoàng làng quê ta với người thành hoàng ở bên Tàu có thành quách, hào sâu là chuyện văn hóa của mai kia. Còn ăn bằng hôm, lo bằng mai lúc này là chuyện cúng quả vì thiên cổ chi mê tôiăn cơm mới nói chuyện cũ rằng tục 49 ngày ma chay dám từ nhà Bụt lắm ạ! Nhưng chợt hồi nhớ ra trong Kinh Đại Niết Bàn, trước khi nhập diệt, Đức Phật nói: “Như Lai thường không thuyết pháp…vì pháp vốn vô tánh. Như Lai dầu giảng nói tất cả pháp nhưng thường không chỗ nói.” (Phẩm Quang Minh Biến Chiếu Cao Qúy Đức Vương Bồ Tát, thứ 22).

Ngôn từ không bao giờ chính xác để nói lên điều gì. Nói chỉ là nói tạm, vì chẳng cách nào khác để truyền đạt tư tưởng cho đa số người. Vì vậy, dù là Phật đã giảng thuyết 49 năm, nhưng không có lời nào là tuyệt đối đến mức mọi người cứ khư khư nắm giữ nó. Tùy nghi liệu thế mà hiểu. Cho nên, giảng thuyết nhiều mà lại chẳng nói lời nào là thế. Muốn đắc ngộ, phải rời bỏ văn tự, không mắc kẹt vào ngôn từ:

“Vì Như Lai và chánh giải thoát rời danh tự. Do đó nên đức Như Lai đối với tất cả pháp, không chướng ngại, không đắm-trước mà đặng chơn thật giải thoát.”

      (Kinh Đại Niết Bàn, Phẩm Văn Tự, thứ 13)

Tụng đến đây lão cứ rối mù, chỉ hiểu được là: Tùy nghi liệu thế mà hiểu. Thế nên lão không biết…hiểu gì hơn làm gì là thinh bằng cách dán mắt vào trang di bút:

Nhìn ra ngoài sân có cây đào kwansan Nishiky, thiên cổ chi mê tôi lại rối rắm nữa…

”…Dù có nói bao nhiêu: anh không hiểu được ý nghĩa cuộc sống đâu, nên đừng nghĩ nữa, hãy sống đi. Bây giờ tôi không thể không nhìn thấy ngày và đêm đi qua và kéo tôi đến gần cái chết. Mỗi bước đi trong nhận thức đều dẫn đến nó. Chân lý ấy là sự chết. Diễn đạt một cách khác, câu hỏi sẽ là: “Tôi mong muốn một cái gì đó để làm gì, và làm một cái gì đó để làm gì?”. Và còn như thế này: “Tôi sống để làm gì?”. Trả lời: “Trong không gian vô tận, trong thời gian dài vô tận, những hạt nhỏ vô tận thay hình đổi dạng một cách phức tạp vô tận, thì lúc ấy anh sẽ hiểu anh sống để làm gì”.

Chân lý ấy là sự chết. Mà sự khởi đầu và kết thúc của nó ta không thể biết. Giống hệt như trong các khoa học thực nghiệm nửa vời, chứa đầy những mơ hồ và mâu thuẫn. Nhiệm vụ của khoa học thực nghiệm là xác định trình tự nhân quả của các hiện tượng vật chất. Chỉ cần đưa vào khoa học thực nghiệm câu hỏi về nguyên nhân cuối cùng, thì ta sẽ có ngay cái mâu thuẫn. Với nhận thức bản chất vô nguyên nhân của sự sống. Chỉ cần đưa vào đây sự nghiên cứu những hiện tượng mang tính nhân quả với tiền kiếp, hậu kiếp qua những hiện tượng, thì ta sẽ lại có ngay cái mơ hồ.

Triết học cũng chẳng hơn gì, dù nhà triết học gọi cái căn cốt của sự sống có trong tôi và trong mọi thứ hiện hữu là những ý niệm, hoặc bản thể, nhà triết học không thể trả lời. Thay vì trả lời, thế nhưng họ lại có cũng vẫn câu hỏi ấy, dưới hình thức phức tạp hơn bằng một câu hỏi khác nữa: “Tôi tồn tại để làm gì?” và triết nhân trả lời: “Không biết”. Hoặc biết thì ý nghĩa cuộc sống của tôi là gì? Trả lời: Không là gì cả. Hoặc: “Cái gì có từ cuộc sống của tôi?”. Trả lời: “Không cái gì cả”. Hoặc giả tất cả những gì tồn tại thì tồn tại để làm gì, và tôi tồn tại để làm gì? Trả lời:…Tồn tại vì tồn tại.

      Khiếp! Người bạn trẻ của lão di ngôn gì mà hành ngôn hành tỏi tối như hũ nút thế này. Thấy ăn khoai vác mai chạy quấy, lão lại quấy quá với tờ Spectator trong một bài điểm sách quyển “Thằng ngốc” của Dostoevsky cho rằng cái gọi là hiện thực và tồn tại của tác giả chỉ là một sự méo mó lệch lạc đưa ra cho người đọc thưởng lãm. Cuốn tiểu thuyết lớn sau cùng “Anh em nhà Karamazov” cho thấy ông là một trong những người mở đường của nghệ thuật hướng nội và là người bàn luận độc đáo về tôn giáo.

      Dostoevsky diễn tả thân phận con người, khởi xướng ý tưởng trong trào lưu triết học mang tên thuyết hiện sinh. Với “Tội ác và hình phạt”, Will Durant trong cuốn Lạc thú của triết học nói Dostoievsky là một trong những cha đẻ của trào lưu triết học hiện sinh.

      Trong khi ấy người bạn trẻ của lão vẫn…hiện hữu với tối như đêm, dày như đất:

”…Còn đâu là triết học chân chính, không phải cái triết học mà Schopenhauer gọi là triết học của các giáo sư triết học, chỉ để phân chia các hiện tượng tồn tại theo các điều mục triết học và gọi bằng những tên mới, luôn luôn chỉ có một câu trả lời. Câu trả lời đã được đưa ra từ lâu bởi Socrate, Schopenhauer, Salomon, hay Đức Phật.
“Chúng ta chỉ rời xa cuộc sống bao nhiêu thì mới nhích gần lại với chân lý bấy nhiêu, Socrate nói: “Chuẩn bị ra đi”. Chúng ta khao khát cái gì trong cuộc sống? Khao khát giải phóng mình khỏi thân xác. Nếu thế ta không vui sao được khi mà cái chết đến với ta?”. Vì “Ta suốt đời tìm kiếm cái chết, cho nên với ta cái chết không đáng sợ”.
Trước chúng ta tất nhiên chỉ còn lại cái hư không. Nhưng thực ra chỉ là cái hướng tới tồn tại. Wille zum Leben nói việc chúng ta sợ cái hư không đến thế hay là, hiện thực đến thế, với tất cả những mặt trời và những ngân hà của nó, chỉ là hư không”.
“Phù vân, quả là phù vân{, Salomon nói: “Tất cả chỉ là phù vân”. Thế hệ này đi, thế hệ kia đến, nhưng trái đất mãi mãi trường tồn. Mặt trời mọc rồi lặn, mặt trời ngả xuống nơi nó đã mọc lên. Gió thổi xuống phía nam, rồi xoay về phía bắc: gió xoay tới rồi gió qua đi. Mọi dòng sông đều xuôi ra biển, nhưng biển chẳng đầy.

Tôi là Ecclésiaste, tôi đã làm vua cai trị Israël ở Jérusalème. Tôi đã khảo sát những gì diễn ra dưới bầu trời: đó là công việc nhọc nhằn mà Thiên Chúa bắt con cái loài người phải thực hiện. Sau khi nhìn thấy mọi công việc thực hiện dưới ánh mặt trời, tôi nhận ra: tất cả chỉ là công cốc…Tôi tự nhủ: Này, tôi đã thu thập được rất nhiều điều khôn ngoan, hơn tất cả các vị đã cai trị Jérusalème trước tôi. Trí tôi đã học hỏi, tích lũy được bao nhiêu kiến thức; tôi đã phân biệt đâu là khôn ngoan, hiểu biết, đâu là điên rồ, khờ dại. Nhưng tôi nhận thấy chỉ là công dã tràng. Bởi vì càng nhiều khôn ngoan, càng nhiều phiền muộn; càng thêm hiểu biết, càng thêm khổ đau…”.

      Với triết lý củ khoai theo đóm ăn tàn, lão thu vén…hiểu biết thêm thế này đây

      “…Vì những cuốn khảo cứu mâu thuẫn nhau về Dostoevsky như: Dostoevsky người Thiên Chúa giáo, Dostoevsky nhà hiện sinh, Dostoevsky nhà  tâm lý, Dostoevsky triết gia…Sự thực Dostoevsky không thể là một triết gia vì những tác phẩm của ông chỉ là tiểu thuyết như Anh em Karamazov, Tôi ác và hình phạt…không phải là những cuốn sách triết học, như Hữu thể và hư vô (L’être et le néant) của J.P Sartre chẳng hạn.

      Nhiều nhà nghiên cứu gán cho Dostoevsky những tư tưởng, những ý nghĩa mà chưa chắc ông đã nói thế. Tiểu thuyết của ông rất khó hiểu và viết thừa nhiều hơn L. Tolstoi. Nhiều tác phẩm của Dostoevsky chỉ cần đọc nửa quyển sau là đủ, nửa quyển trước là thừa thãi. Nhiều độc giả thưởng thức văn ông một cách vất vả tại vì nó…khó hiểu. Nhưng tại vì có nhiều người ca tụng tác giả, nên đó chỉ là một trào lưu của những người tỏ ra mình hiểu biết. Bởi lẽ đa số tác phẩm lớn của Dostoevsky đều rườm rà dông dài, dư thừa nếu so với L. Tolstoi. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ông thể hiện nhân vật biểu tượng khác L. Tolstoi là hiện thực giống như cổ nhân bên Trung Hoa nói vẽ ma dễ, vẽ người khó vì ma không ai thấy, người thì ai cũng thấy vẽ sai sẽ bị chê ngay…”.

         Khi ấy, người bạn trẻ của lão lại vẫn như L. Tolstoi thêm những chi tiết như chó đái giắt. Vẫn cái thói giờ mẹo trèo qua giờ tý để vật lộn với những người còn sống:

Như tôi đây sống chưa chót đời, đên khi nằm xuống mới biết được chuyện đời thường. Thì ra chỉ người sống mới lắm chuyện: Lễ lạc, thủ tục, nghi thức, khóc lóc để vuốt ve người chết. Người chết tôi thử hắt xì một cái. Chẳng ai thèm nghe. Vừa lúc tôi nghe ở cửa ra vào có hai thí chủ chào nhau: A Di Đà Phật. Từ sự thể vái chào nhau của Phật tử trong giao tế, đâu đó thiên cổ chi mê tôi hong hanh “A Di Đà Phật” từ mảng chữ “Vô lượng thọ Phật là tiếng Phạn, đúng nghĩa là lời niệm mong khi nào…viên tịch được trở về cõi cực lạc từ. Vậy chứ sau khi thiêu đốt xong, nhúm tro tàn của tôi sẽ về đâu? Thiên cổ chi mê tôi lại hong hóng đến câu kệ: Nam Mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát Ma Ha Tát”. Với hai chữ “Ha Ma” không thôi cũng nhức đầu không phải là ít. Dường như có ai đấy nói “Ha Ma” là con sông Hằng tinh khiết, tro người Ấn Độ sau bao tục lụy được thả xuống sông Hằng để trở về với tinh khôi. Nhưng cũng có ai đó lại nói “Ma Ha” là tên một con sông ở Ấn Độ, tương truyền các sư sãi tắm ở sông này sẽ tẩy hết bụi trần, trở nên thanh tịnh. Và được dẫn chứng trong bài Sãi vãi của Nguyễn Cư Trinh có câu “rửa bụi trần, sãi vui nước ma ha”.

Bằng vào sông Hằng, đang nằm trong quan tài lại lềnh bềnh tới Tolstoi qua Salomon với mọi dòng sông đều xuôi ra biển.Vì vậy tôi ngóng cổ dậy ngó quanh…

Bởi sau khi ở lò thiêu ra, tôi bơi lội dưới sông, sông trôi ra biển về nơi chôn nhau cắt rốn của mình hay tôi được nhét vào tiểu sành mang vào chùa. Hơ! Khổ nạn nữa! Chuyện là gần đây, có một nữ Phật tử eo sèo trên báo chợ, báo chùa, là đưa tro vào chùa để nghe kinh mà tro nào có biết…nghe. Với Phật tử náo động này thì chẳng có kinh điển nhà Phật nào đả động đến chuyện mang tro vào chùa cả. Ha! Tôi chẳng muốn vạ miệng vì người Phật tử động não trên, vì tôi chết mất đất rồi còn đâu nữa. Trước khi về quê, quê ta xa mãi bên kia biển, chỉ thấy tơi bời mây trắng vương tôi đoán chừng chuyện thiêu đốt có từ bên kia Ấn Độ dương vi nơi ấy là đất Phật.

Nằm dài người như Bụt mọc nghe Salomon qua Tolstoi luận về gió máy…với gió thổi xuống nam, rồi xoay về bắc, gió xoay tới rồi gió qua đicũng chán. Hay là…

Thế là tôi vù qua Đại Tây dương, tới tận bên Tây, mò đến làng Mai để hỏi thầy Nhất Hạnh. Đúng là thiền sư có khác, thiên cổ chi mê tôi chưa kịp há họng thì thiền sư đã luận chứng rằng: “Trong Phật giáo đại thừa nói rất rõ niết bàn là sinh tử. Niết bàn và sinh tử là một. Không có cái này thì không có cái kia. Thí chủ nghĩ rằng có niết bàn rồi thì không còn sinh tử nữa là kẹt vào cái lưỡng nguyên”. Bèn hỏi: “Vậy chứ đệ tử phải tìm niết bàn ở đâu?”. Thiền sư đáp: “Thí chủ hãy đi tìm trong sinh tử”.

Thiên cổ chi mê tôi ngọng trông thấy vì như bị lạc vào bờ mê bến ngộ bèn để cái đầu đậu phụng lang bạt kỳ hồ với “Thiêu táng ký sự”. Như vừa rồi vầy vò với thiêu đốt từ phương đông. Ở phương tây, một số giáo phẩm tòa thánh Vatican tin có luân hồi và thiêu táng, trong đó có đức cha Origin, ông thánh Augustin. Năm 533 sau Tây lịch, vì triều đình La Mã cứ đường xưa lối cũ với cát bụi trở về với cát bụi nên vua Rex và hoàng hậu cấm không cho nói đến luân hồi và thiêu táng nữa. Hậu quả là sau đấy có hai giáo hoàng bị giết vì muốn giữ đoạn nói về luân hồi trong kinh sách.

Tiếp đến là hoạn quan Tàu tên Trịnh Hòa với con đường tơ lụa trên biển qua bẩy chuyến hải hành. Ngoài nước ta, người Tàu đã tìm đến Tân Gia Ba, Mã Lai, Nam Dương, Brunei chọn làm quê hương thứ hai. Khi mãn phần, xác được thiêu bỏ vào tiểu sành gửi về cố quốc. Tới thời kỳ “Cách mạng văn hóa” của Tàu lục địa, vì đất chật người đông không cho chôn cất mà thiêu. Từ đó Hán tự với quan quách, quan tài được chôn vào…”kim tĩnh”. Tiểu sành, tiểu gốm được mùa trăm hoa đua nở. Kịp lúc người Việt ta chọn đất khách quê người làm nơi chốn tạm dung. Đất chôn là cái nợ đời với cơm áo gạo tiền nên thiêu táng có…đất sống.

Đang ngồi ở quán Les Deux Magots trên đường Saint Germain nơi sinh thời Jean Paul Sartre vẫn ngồi. Chợt nhớ lại hồi sáng thiền sư Nhất Hạnh bồ đề là muốn đi tìm niết bàn phải tìm trong sinh tử. Bèn lay lắt qua Dostoevsky với Jean Paul Sartre cùng hữu thể và hư vô. Vì J.P Sartre là kẻ vô thần nên đã ngả ngớn rằng: “Muốn lên thiên đàng phải chết trước đã”. Dostoevsky còn dẫn chứng thêm Socrate với chuẩn bị ra đi. Thế là bắt cái Metro đi tìm thư viện Inaxu của tòa thánh Vatican tìm “cái mort” tức cái chết mà tiếng La Tinh là mortuus. Vào thư viện, mò mẫm ra từ Giáo hội công giáo Vatican qua những nhà truyền giáo Đàng Trong, trong Phép giảng tám ngày (Ngày thứ Sáu), giáo sĩ A. Barbosa dịch từ tiếng La Tinh ra Hán-Nôm chữ mortuus là sinh và chữ iam mortuus là “sinh thì” là…gần chết tức…chuẩn bị ra đi.

Ha! Như thiên cổ chi mê tôi đã rao giảng với lão ngộ chữ, thêm nữa, nay ngẫm chuyện sinh tử thì tôi vừa là triết nhân, vừa là thiền giả chứ còn khỉ gì nữa. Bởi ăn mày chữ nghĩa triết gia Jean Paul Sartre, thiền sư Nhất Hạnh, tôi túm tó được qua sách vở: Một là thiên đường, niết bàn có thật. Hai là phải chết ngay cu đơ cái đã. Ba là chết ngỏm củ tỉ rồi không lo chuyện tắm rửa, ăn uống. Nhất là muốn đi đâu chẳng cần xe cộ, máy bay mà chỉ vù một cái là đi, là về. Thế là tôi vù về…nhà quàn.

               Người bạn trẻ ngóng cổ tìm hiền thê làm gì, lát nữa sẽ biết vì còn đang ở Paris. Trong khi chờ đợi, lão ngửa mặt lền trần nhà quàn, lão ngớ ra vì chuyện nhạc sa mạc với cát bụi là có thật, chứ người bạn trẻ của lão không hư cấu. Vì với một thước hai thước như hồn ma bóng quế ám ảnh hay sao ấy, ở đâu đó góc nhà quàn, dàn máy chuyển từ nhạc Beethoven, Mozart âm ỉ sang nam ai nam oán với trăng tà nguyệt tận: Đôi khi ta lắng tai nghe! Bao nhiêu năm làm kiếp con người, rồi chợt một chiều tóc trắng như vôi – Lá úa trên cao rụng đầy, cho…trăm năm và…chết một ngày.

               Vừa nghe xong khúc nhạc, cũng vừa lúc người bạn trẻ từ Paris về và leo vào quan tài nằm. Chưa nằm nóng chỗ đã ngóc cổ tìm hiến thê…và lão lắng nghe chuyện ra sao:

Tiện nội trang điểm sửa soạn đi về. Tôi muốn nói với tiện nội tôi đôi lời trước khi vĩnh viễn rời bỏ khỏi thế gian này. Thảng như tiêu nhiên nhi lai, tiêu nhiên nhi vãng, kỳ nhập bất cụ, kỳ nhập bất hà. Chung sự thì mọi sự trong cõi nhân gian phù thế này hãy thản nhiên mà đến, thản nhiên mà đi, khi vào không lo lắng, khi ra không ngần ngại. Hay nói theo văn sách thời ai chẳng nhắm mắt buông xuôi về với mười đất chín trời. Thế nhưng tôi…”ngại ngần” vì người chết không nói được.

Bởi vì thiên cổ chi mê tôi không biết tiện nội đưa tôi vào chùa hay ra biển đây. Thế nên y hệt như gã đạo tỳ mặt hoa trâu tháng đẻ…Ha! Lão ngộ chữ nếu không ngộ “mặt hoa trâu” là giống giuộc gì thì hãy hỏi thằng xưng “bố”. Vi nó đã ngoác mồm ra là khi tôi thấy cái hòm, như tôi thấy tiện nội là tôi sợ phát khiếp và co rúm người lại.

Người chết quẩn quanh trong vùng câm nín của mình…Ừ biết nói thế nào đây! Ngay cả người sống cũng vậy, như sư cụ áo vàng, đồng môn đồng tuế với thiên cổ chi mê tôi muốn gửi gấm một chút gì cho mai hậu. Vì vậy tôi gửi cho lão ngộ chữ xấp di cảo, trong đó tôi đã mê muội với rượu làng Vân, tiết canh lòng lợn bên cái hòm. Phu đòn say bí tỉ đánh nhau sặc gạch. Sau đó mấy bác đô tuỳ gánh cái hàng ra gò mả đồng làng Xũ. Ở đấy có con chó đen quen ngõ, có gà mổ gạo lộp bộp như gà mổ mo. Rồi thì như gà mắc tóc, lại vướng mắc đến chuyện được tin Dostoevsky mất, Tostoi bật khóc. Khi Tolstoi chết tại ga xe lửa Moscow, người ta thấy ở giường ông nằm có tập lai cảo Anh em nhà Karamazov. Chuyện tất cả chỉ có vậy và không hơn.

***

Tiện nội về rồi, mai là ngày thiêu, nằm một mình trong hai tấm ngắn bốn tấm dài. Khắc lậu canh tàn, thiên cổ chi mê tôi trằn trọc khắc khoải, nửa đêm về sáng nhìn ra ngoài. Sân nhà quàn hoang lạnh, hiu hắt vắng hiu, đất trời se se lạnh. Ngày Tết không có xác pháo hồng, hoa tàn nguyệt tận, sân cỏ vắng tanh vắng ngắt.

Gió lắt lay, hoa đào Nhật kwansan Nishiky lay lắt rụng rơi. Mưa lâm thâm.

                                                                                              Thạch trúc gia trang

                                                                                            Sau tết Giáp Ngọ 2014

                                                                                        Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

Nguồn:

Phạm Cung Thông, Trần Kiêm Đoàn, Trọng Đạt

Phạm Vĩnh Cư, Dương Leh, Hazel Denning,

Raymond Moody, và truyện Thăm người chết

của một tác giả khuyết danh.

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: