Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Những chặng đường – Thượng Tọa Abhinyana

4Đứng trong vị thế ngày hôm nay, nhìn lại cuộc đời và đoạn đường ta đã đi qua, rõ ràng con đường đó không bằng phẳng, thẳng thớm hay nằm gọn trong dự đoán của mình mà cứ cong quẹo, lên xuống, lúc vào ngõ cụt, lúc đụng phải chướng ngại, phiền não, đau đớn, và thỉnh thoảng cũng đem lại niềm vui và hạnh phúc. Nhưng, trải qua tất cả những cái ấy, chúng ta đã đến đây. Cuộc hành trình của bạn – và tôi – quả là một cuộc phiêu lưu kỳ diêu phải không? Làm sao chúng ta đã xoay xở được như thế?

            Chắc chắn trong đời bạn, cũng như đời tôi, có những điểm mốc – những biến cố mà bây giờ ta coi là hệ trọng và dẫn đến những chuyện khác. Một trong điểm mốc của tôi xảy ra năm 1966, khi tôi nhặt được cuốn tiểu thuyết “Người theo Quỷ Sứ” mà ai đó đã vất đi. (Tác giả là Dennis Wheatley đã viết một số sách như vậy về huyền-hoc và tà-thuật và đã hiển nhiên nghiên cứu về vấn đề nầy). Lúc đọc cuốn sách tôi không có hiểu biết rõ rệt gì về Pháp cả (chuyện đó về sau nầy), nhưng một đoạn trong cuốn sách đó đã gây ấn tượng trong tôi đến độ tôi chép và còn giữ lại.

            Tôi cho rằng chuyện ấy là một sự khai mở quan trọng hay nó đã giao ứng và khơi dậy ký ức tiềm ẩn trong tôi, và đến bây giờ tôi vẫn cám ơn cái duyên may đọc được đoạn nầy, vì nó đồng điệu với cách tôi nhìn vạn vật.

            Đoạn ấy như vầy:

            “Theo cái nghĩa tối cao của nó, Ánh Sáng là tượng trưng cho sự phát triển của tâm linh đến mức toàn thiện, toàn mỹ. Ở đó, nó có thể vứt bỏ cái thân xác để thành chính Ánh Sáng mà thôi.

 

            “Nhưng con đường đến Chân-Thiện-Mỹ thì xa xôi và gian truân lắm – khó mà mong đạt được trong một đời người ngắn ngủi. Từ đó, sinh ra niềm tin rất phổ cập và sự tái sinh – rằng chúng ta đầu thai hết đời nầy đến đời kia cho đến khi ta bắt đầu ghê tởm cái thú vui xác thịt.

 

            “Mà thật sự ý niệm trên là chân-lý cốt lõi thâm sâu chung cho mọi tôn giáo ngay từ khởi thủy của chúng. Với điều nầy trong đầu, hãy xem lại Lời Dạy của Đức Chúa, và bạn sẽ ngạc nhiên là trước đây bạn không hiểu được ý nghĩa thực sự thông điệp của Ngài. Có phải Ngài đã nói: “Đất trời chính ở trong các người.”  Và khi đi trên mặt nước, Ngài phán: “Những gì ta đã làm, các ngươi cũng sẽ làm. Và các ngươi sẽ làm những điều lớn lao hơn thế nầy nữa, bởi ta nay về cùng Cha ta ở trên Trời” – gần như chắc chắn lời nầy hàm ý Ngài đã đạt được sự toàn-thiện, toàn-mỹ mà những người khác đều có khả năng bên trong mỗi người để đạt đến đó.

 

            “Đáng buồn thay! Số giờ của ban đêm cũng bằng số giờ của ban ngày. Và cái ma-lực của Bóng Tối vẫn không giảm đi chút nào so với thời kỳ non trẻ của Thế Giới, ngay khi một chân sư vừa xuất hiện để làm hiển hiện Ánh Sáng thì sự u-minh, tham lam, thèm khát quyền hành đã làm đục ngầu cái tâm của những môn đồ.

 

            Thông điệp bị bóp méo, sự đơn giản của Chân Lý bị nhận chìm và quên đi trong lễ lạc rềnh rang long trọng và những nghi thức chi li không còn nghĩa lý gì cả.

 

            “Nhưng Chân Lý thực sự không bao giờ hoàn toàn bị mất đi, và qua các thế kỷ, những chân sư mới lại xuất hiện liên tiếp để hoằng dương nó, hay, nếu thời thế không thuận thì chọn lấy vài người xứng đáng để mật truyền.”

 

            Tôi trích đoạn trên vì muốn nói lên rằng Pháp, – dù có được gọi là Pháp hay bằng gì khác, – không lúc nào ở xa chúng ta cả. Nó không phải là ý niệm độc quyền của Phật Giáo mà còn có thể nhìn thấy ngay cả trong những cuốn tiểu thuyết rẻ tiền hay những tờ nhật trình vất ngoài đường. Quả thật, nếu chúng ta hiểu Pháp là gì, ta sẽ thấy Pháp ở mọi nơi, không có chỗ nào, người nào hay vật nào mà không có Pháp ở trong đó. Thật sự, hơn vậy nữa: Tất cả mọi sự đều là Pháp cả.

            “Nhưng nhiều người không hay không muốn nhìn về Pháp như vậy, vì họ muốn loại trừ người khác ra khỏi Chân Lý “của họ”. Họ muốn chiếm hữu và thu hẹp Chân Lý lại, và không thấy được  rằng làm như thế thì điên rồ, không kém gì chuyện tìm cách “xiềng xích” biển cả. Họ tự cột mình vào kinh điển cũng như những hình thức khác, và gán cho chúng ý nghĩa hạn hẹp. (tôi tự gạch duới –hlh)

            Tôi hãy còn nhớ về một Thiền Đường bên Mã Lai, nơi tôi đã cư ngụ một thời gian, và cái cách những người trong Thiền Đường đó lý luận, chẻ sợi tóc làm đôi với những chuyện không đâu. Họ nghĩ rằng họ đã đạt được những thành quả nào đó. Họ từ chối không dùng chữ “tái đầu thai” (có một cơ thể trở lại) vì họ cho rằng nó là một ý niệm của Ấn Giáo chớ không phải của Phật Giáo, và ý niệm đó ám chỉ sự “di chuyển” của một linh hồn bất diệt từ cơ thể nầy sang cơ thể khác, một điều mà Phật Giáo cho rằng là không đúng.

Thay vào đó, họ thích dùng chữ “tái sinh” (“re-birth”) hơn. Nhưng chỉ suy nghĩ một chút thôi, là ta thấy ngay rằng theo tư tưởng nhà Phật thì chữ nầy cũng sai nốt vì không có gì được sanh trở lại cả. Như vậy, chữ “re-birth” có thích hợp hơn “reincarnation” không? Họ chỉ phí thì giờ bàn cải kiểu đó mà thôi.

            Đời sống là môt tiến trình, một sự chuyển động, như biển cả vậy. Những làn sóng dâng lên hụp xuống là do một dòng năng lượng chạy qua nước, không có làn sóng nào tồn tại độc lập với nước, không có cái gì tỉnh và trường cửu di chuyển từ làn sóng nầy qua làn sóng kia. Như vậy, dù rằng người Phật Tử dùng chữ “tái sanh” để thể hiện suy nghĩ hay trao đổi, không có cái gì thực sự được “tái sanh trở lại” bởi vì không có cái gì trong thâm tâm của ta giữ nguyên được trạng thái qua hai sát-na kế nhau khi ta còn sống, thì còn nói gì đến khi ta chết.

            Chỉ đọc và lập lại sách thì không đủ. Để có hiểu biết thực sự, chúng ta phải áp dụng và kiểm chứng chúng trong cuộc sống của ta. Chúng ta học hỏi rất chậm và rất khổ sở, từ nhiều nguồn khác nhau. Quả thật, trong cuộc hành trình chúng ta chịu ơn sâu của biết bao người về nhiều phương diện không thể kể hết. Điều đó không đủ để chúng ta yêu thương “nhân loại” hay sao?

            Viết đến đây, tôi lại nhớ câu nói của Charlie Brown trong chuyện tranh khôi hài trứ danh “Peanuts”: “Tôi yêu nhân loại, chỉ có người ta là tôi không chịu nỗi.” Có cái gì khá sâu sắc trong đó. Chúng ta không yêu một người nào, nhưng điều nầy không nhất thiết phải ngăn trở không làm cho ta yêu thương người đó, vì thích và yêu thương là hai điều khác xa nhau về bản chất. Chúng ta phải biết điều ấy vì nó rất quan trọng.

            Chúng ta đều là những thành viên của xã hội, mà xã hội thì gồm nhiều loại người khác nhau. Người thì có lòng nhơn ái biết hy sinh, trong khi ở đầu đối nghịch là các tội phạm, bọn du dảng, bụi  đời, và những kẻ mê muội khác, hoặc chẳng cống hiến gì cho xã hội mà chỉ phá hoại và sống bám như ký sinh trùng.

            Nhưng họ cũng là thành viên của xã hội, và chúng ta nên cố gắng cải huấn họ, đưa họ về con đường lương thiện. Đã có nhiều trường hợp trong đó, những người có thái độ tiêu cực, chống lại xã hội đã được chuyển hóa bằng tình thương. Rồi cũng có trường hợp mà sự lên án và hình phạt đã biến người khác trở thành xa lạ và chai đá.

            Biện pháp đối với kẻ có tội phải có tính cách chỉnh huấn, chớ không phải là hình phạt hoặc trả thù.

            Nếu chúng ta làm một điều gì vì lợi ích của toàn xã hội, thì hành động đó phải mở rộng và bao gồm người chúng ta ưa thích lẫn người chúng ta không ưa thích, chứ không thể nói: “Tôi làm việc nầy cho những người nầy chớ không cho những người kia”.

Hành động trong tinh thần tập thể là hành động cho tất cả mọi người, vì nó được thực hiện bằng Tình Thương.

Đánh máy lại ngày 26 tháng 5/ 2014

hoànglonghải

Tác giả:

“Thượng Tọa Abhinyana,  quốc tịch Úc, sinh năm 1946 tại Anh, trong một gia đình gốc Tin Lành, bắt đầu tiếp xúc và tín hướng Phật pháp 1970 sau chuyến du lịch Ấn Độ. Ngài xuất gia 1972 tại Mã Lai trong truyền thống PG Thái Lan, và bắt đầu giảng dạy Phật pháp từ 1979. Suốt thập niên 1980, Ngài phát tâm qua ở hẳn để giúp đỡ các trại tỵ nạn Đông Nam Á, mà lâu nhất và nhiều nhất là 2 trại Palawan và Bataan ở Phi luật tân. Ngài sống đồng cam cộng khổ, xây chùa, hướng dẫn tu học, giảng dạy, bênh vực, giúp đỡ và tổ chức nhiều công tác cộng đồng, xã hội, cứu tế cho hàng chục ngàn đồng bào Việt-Miên và hàng trăm Tăng Ni Việt Nam tỵ nạn đến đây.
Trong 9 chuyến trở về ủy lạo nhiều chục ngàn đồng bào mới tỵ nạn đến trại ở khắp các nước Đông Nam Á từ 1985-1993, chúng tôi mấy lần trong các năm 1987, 1989 và 1991, đã được Ngài Abhinyana tiếp đón và tận tình giúp tổ chức các buổi thuyết giảng tại chùa Vạn Đức, tiếp xúc thẩm quyền Phi, UNHCR và các tôn giáo bạn, nhất là giúp tổ chức phân phát quà cứu trợ do Đồng hương Úc châu quyên tặng để Cơ Quan Cứu Tế Phật Giáo Úc châu do Tu Viện Vạn Hạnh điều hành, mang đến biếu tặng bà con tỵ nạn ở Palawan và Bataan, Philippines.
Khi làn sóng tỵ nạn bắt đầu giảm sút và chấm dứt, Ngài Abhinyana đi hoằng pháp khắp nơi trên thế giới, giữ liên lạc và được kính trọng quý mến nơi rất nhiều Tăng Ni Phật tử ở Âu, Mỹ và Úc châu. Ngài thường trở về Mã Lai và nhất là Úc (cha mẹ Ngài ở Adelaide) để thăm viếng và giảng dạy tại các chùa Việt ở Sydney, Canberra, Melbourne, vv…
Thượng Tọa Abhinyana viên tịch lúc 5am Thứ Hai 15/4/2008 tại tư gia của người chị ruột ở vùng Nampour ở Sunshine Coast, QLD, sau mấy tháng lâm bạo bệnh. 

(Tài liệu của Hòa Thượng Thích Quảng Ba, Úc)

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: