Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

The Red Pony – hoànglonghải

1Cách nay khoảng 25 năm, khi còn ở trong trại cải tạo, anh Trần Nguyên Bình đưa cho tôi mượn cuốn “English For Today”, tập 5, giảng về các nhà văn lớn của Mỹ. Tôi đọc bài nói về John Steinbeck, giới thiệu một cuốn tiểu thuyết hay của ông ta, cuốn “The Red Pony”.

            John Steinbeck sinh năm 1902, qua đời năm 1968. Năm 1962, ông được giả Nobel về văn chương.

            Nhân vật chính trong cuốn truyện nói trên là một thằng bé, tên Jody. Thằng bé sống với cha mẹ trong một nông trại nhỏ. Trại nằm bên cạnh dãy núi đá cao. Mỗi ngày, thằng bé nằm trong bãi cỏ sau nhà, nhìn lên dãy núi, những ngọn núi phản chiếu ánh sáng mỗi sáng mỗi chiều thay đổi màu sắc khá đẹp. Tuy nhiên, điều quan trọng mà thằng bé thắc mắc là trong những ngọn núi đá cao ngất đó có những cái gì.

            “Tò mò về những điều bí mật của những ngọn núi ấy, nó nghĩ rằng nó cần biết chút ít về những ngọn núi ấy.

– “Bên kia núi là gì vậy ba?” – Một hôm nó hỏi bố.

– “Ba nghĩ cũng là núi. Mà sao?”

-“Rồi bên kia nữa những núi ấy là gì?”

– “Lại núi nữa. Sao?”

– “Cứ núi tiếp núi?”

– “Không. Cuối cùng chúng ta tới biển.”

– “Nhưng trong núi ấy có gì?”

– “Chỉ là những vách đá, bụi cây và đá và khô hạn.”

– “Có khi nào ba tới đó chưa?”

– “Không.”

– “Có người nào ở trên đó không?”

– “Chỉ có vài người thôi, ba đoán vậy. Ở đó rất nguy hiểm, vách đá cao. Mà sao? Theo ba biết, quận Monterey, hơn bất cứ nơi nào khác ở Mỹ, có nhiều ngọn núi chưa từng được thám hiểm.” – Bố thằng bé có vẻ tự hào về những điều ấy.

 

            – “Và cuối cùng là biển? Nhưng!” – Thằng bé nài nỉ “giữa núi ấy, không ai biết gì cả sao?”

– “Ồ! Có vài người biết. Ba đoán vậy. Nhưng chẳng được cái gì hết. Nước chẳng có nhiều. Chỉ có đá và vách núi và gỗ láng. Sao?”

– “Chẳng có gì mà đi lên đó?”

– “Để làm gì? Chẳng có gì trên đó cả.”

 

Jody nghĩ có gì trên đó. Có gì đó rất kỳ diệu bởi vì những cái ấy chưa được người ta biết tới. Có cái gì đó bí mật và huyền diệu. Thằng bé tự nó cảm nhận rằng điều đó là có thật. Thằng bé nói với mẹ: “Mẹ có biết có gì trên những ngọn núi lớn ấy không?” – Mẹ nó nhìn nó rồi quay lên ngó những ngọn núi lởm chởm đó. Bà nói: “Mẹ nghĩ chỉ có gấu mà thôi.”

– “Gấu gì?” – Thằng bé hỏi.

– “Sao? Người ta có đi lên núi mới thấy những gì có thể thấy mà thôi.”

(The Red Pony, trang 40, 41)

Điều thắc mắc đó đeo đuổi thằng bé. Nó hỏi Bill Buck, người giúp việc của bố nó. Ông nầy chẳng giúp gì thêm. Một hôm, nó gặp một ông già từ hướng núi đi ra. Ông già xin nghỉ lại nhà nó một đêm. Tối lại, nó lẻn xuống phòng ông già để hỏi những gì nó thắc mắc. Ông già chỉ là người sống trong thung lũng Salinas, chẳng cho thằng bé biết thêm được gì.

Một hôm, ông ngoại thằng bé đến thăm. Nó khoái ông ngoại hơn ba nó vì ông có rất nhiều chuyện để kể cho nó nghe, thỏa chí tò mò. Ông ta là một “Leader of the people”, nghĩa là một người từng lãnh đạo đoàn người di dân đi về Miền Viễn Tây Hoa Kỳ, từng chống chỏi với thiên nhiên khắc nghiệt và những cuộc tấn công của mọi da đỏ. Ông là người tìm ra chiến thuật chống lại những cuộc tấn công của chúng.

“Vâng, khi bọn da đỏ tấn công, chúng tôi thường cho xe ngựa quây thành vòng tròn và núp phía sau bánh xe để chống lại. Ông nghĩ ra rằng nếu mỗi chiếc xe ngựa mang theo một tấm sắt có lỗ châu mai để chỉa súng ra ngoài, người ta có thể đứng ngoài bánh xe quây vòng tròn, phía sau những tấm sắt đó…

(Sđd –trang 93)

 

“Và khi chúng tôi tới biển thì công cuộc đi về miền viễn tây coi như chấm dứt.”

“Ông già ngừng nói và đưa tay chụi mắt đến nỗi làm cho khóe mắt đỏ lên.”

“Ấy là điều ông kể với cháu thay vì ông kể chuyện.”

“Khi Jody nói, ông nội nhìn nó chằm chằm. Jody nói: “Có thể một ngày nào đó, cháu sẽ lãnh đạo dân chúng

đi nữa.”

“Ông già cười: “Chẳng còn nơi nào để mà đi. Biển sẽ ngăn cháu lại. Nhiều người tới biển rồi thấy tức vì biển đã ngăn họ lại.”

“Ông ơi! Cháu sẽ dùng thuyền mà đi nữa.”

(Sđd trang 100)

 

            Hồi ấy, vì là đọc một bài viết trong sách, lại đọc lén cán bộ việt Cộng, nên tôi không nhớ tên cuốn tiểu thuyết đó là gì. Tôi muốn đọc lại, toàn bộ cuốn sách và phải mất mấy năm tôi mới tìm được tại thư viện thành phố tôi ở sau khi nhờ một giáo sư dạy môn văn chương Anh Mỹ làm việc thiện nguyện ở đây.

            Một cuốn sách nhỏ bàn tới ba thế hệ người Mỹ: Thế hệ thứ nhứt (Ông ngoại thằng bé Jody) là thế hệ quay về với dĩ vãng, tự hào về con đường viễn tây, chống chỏi thiên nhiên khắc nghiệt, chiến đấu chống lại người da đỏ, giành đất của họ và chỉ dừng lại khi đã tới bờ biển Thái Bình Dương.

            Thế hệ thứ hai thỏa mãn với lãnh thổ hiện có, chăm chỉ xây dựng nông nghiệp, công nghiệp, giao thông… Đó là thế hệ cha mẹ thằng bé Jody, ít khi muốn như ông nội thằng bé, quay lại dĩ vãng.

            Thế hệ thứ ba là thế hệ thằng Jody. Nó vẫn chưa thỏa mãn tò mò, trên núi đó có gì, sau núi đó có gì? Nếu sau núi đó là biển, cha ông nó dừng lại ở đó thì nó muốn đi nữa, không đi được bằng ngựa bằng xe như cha ông nó thì nó sẽ đóng thuyền vượt biển, tiếp nối sự nghiệp Kha Luân Bố, để, nói như Nguyễn Bá Học “đấu sức với ba đào, thi gan cùng sương tuyết để tìm những đất mới những báu lạ…” Người Mỹ vẫn chưa hết tinh thần mạo hiểm của họ sau khi họ đã tới bờ biển Thái Bình Dương.

            Ý chí của thằng bé là muốn tiếp nối con đường đi về miền viễn tây Hoa Kỳ mà tổ tiên nó từng thực hiện hàng trăm năm trước. Biển cũng không ngăn cản ý chí nó được. Thay vì người xưa vượt qua lục địa thì nó sẽ vượt đại dương bằng thuyền.

            Ở Mỹ, biên giới giữa Mỹ và Cananda hay Mexico thì gọi là boundary còn vùng “biên giới” miền viễn tây thì gọi là frontier. Cái frontier đó, tới bờ biển Thái Bình Dương thì chấm dứt nhưng thằng bé còn muốn đóng thuyền đi nữa, qua bên kia đại dương.

            Trước khi làm tổng thống, anh em tổng thống Kennedy cùng bạn bè thành lập ra nhóm “New Frontier” (nhà Dziên Hồng dịch là “Tân Biên Cương”). Tân Biên Cương nầy là ở đâu, có phải là đi xa hơn frontier cũ, tức là tiếp nối những gì cậu bé Jody nghĩ ra, mong muốn? Khi ông Kennedy làm tổng thống, các phòng thông tin Hoa Kỳ ở Việt Nam – Có lẽ phòng thông tin Hoa Kỳ ở các nước khác cũng vậy, – quảng bá rầm rộ về chương trình của nhóm “Tân Biên Cương”. Đã có lúc họ gọi Thái Bình Dương là “Biển Nội Địa” của Mỹ. Tôi không nghĩ anh em nhà Kennedy chết rồi thì chương trình nầy cũng chấm dứt. Việc hình thành Khối Châu Á Thái Bình Dương hiện nay có phải là tiếp nối công trình của nhóm Tân Biên Cương, chỉ khác là người ta không dùng lại danh từ của nhóm Kennedy mà thôi.

            Nhìn lại lịch sử, việc hình thành nhóm Tân Biên Cương cũng không phải là điều mới lạ. Tại sao sau hội nghị Yalta tháng 2-1945, thủ tướng Anh, Sir Winston thề không bao giờ nhìn vào tượng Nữ Thần Tự Do ở cảng New-York. Tại vì, trong hội nghị đó, Staline “đi đêm” với tổng thống Mỹ Roosevelt. Mỹ sẽ làm ngơ để Liên Xô chiếm Đông Âu, ngược lại Liên Xô làm ngơ để Mỹ có ảnh hưởng ở Châu Á. Hai bên lén lút làm ăn với nhau, không cho Churchill biết, gây nên một mối hận cho thủ tướng Anh.

            Nhìn chung, những biến cố lớn kéo dài từ hội nghị Yalta cho tới nhóm “Tân Biên Cương” và việc hình thành khối Châu Á – Thái Bình Dương như hiện nay là tiếp nối công việc đóng thuyền ra biển của thằng bé Jody. Jody là nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết The Red Pony, nó là biểu tượng của thế hệ trẻ, lớn lên sau Thế Giới Đại Chiến Thứ Nhứt. Có thể tính các thế hệ đó bằng năm sinh: John Steinbeck sinh năm 1902, Kennedy sinh năm 1917, sau Steinbeck 15 năm. Những gì Steinbeck “gởi gắm” vào thằng bé Jody là điều sau nầy Roosevelt chuẩn bị để thế hệ Kennedy thực hiện.

            Có thể như thế là tại vì sao?

            Trong cuốn “English For Today”, tập 5 nói trên, các tác giả giới thiệu những nhà văn Mỹ được giải Nobel. Khi giới thiệu về William Faulkner, tác giả trích dẫn bài diễn văn ông ta đọc khi nhận giải thưởng ấy. Khi giới thiệu về tác giả đoạt giải Nobel Steinbeck, tác giả lại trích dẫn “The Red Pony”. Đó chỉ là một cuốn tiểu thuyết dày hơn một trăm trang, một câu chuyện về một thằng bé tò mò, nhưng nó là tượng trưng cho sức sống nước Mỹ, cho ý chí thế hệ trẻ của Mỹ. Người Mỹ đã không dừng lại ở bờ biển phía tây, với những mỏ vàng khổng lồ ở California, mà họ còn muốn đi nữa, để biến Thái Bình Dương thành “biển nội địa” của Mỹ. Những nhà chấm giải Nobel ở Stockhom thấy được những gì đặc sắc trong cuốn sách đó, về tác giả, về người Mỹ mới trao giải Nobel văn chương cho ông ta. Thế giới đổi thay quá nhiều, nước Mỹ cũng vậy. Chủ thuyết của Monroe đã lỗi thời. (1)

            “Tân Biên Cương” là một danh từ được Kennedy trình bày trong diễn văn của ông khi ông được đảng Dân Chủ đề cử ứng cử chức vụ tổng thống Mỹ năm 1960. Theo ông Robert D. Marcus thì “Kennedy đã đảm nhiện chức vụ tổng thống với tham vọng nhằm loại bỏ sự nghèo đói và nâng cao tầm nhìn của người Mỹ tới các vì sao xuyên qua chương trình không gian

            Theo một số sách báo ghi nhận, “Tân biên Cương” là một chương trình tiến bộ nhằm cách tân và phát triển kinh tế, lao động, giáo dục, văn hóa, xã hội, quốc phòng… Các chương trình nầy, không chỉ nhắm mục tiêu trong nước Mỹ mà còn phát triển trong mối quan hệ với Châu Âu và toàn thế giới.

            Vì vậy, nhiều chuyên gia cho rằng cái tham vọng của “Tân Biên Cương” là nhằm vượt ra ngoài “biên cương” nước Mỹ, vói tay tới Châu Á và biến Thái Bình Dương thành “biển nội địa” của nước Mỹ.

            Có thể là như thế. Trong cách xử dụng danh từ, biên cương vùng Viễn Tây Hoa Kỳ là Frontier. Frontier, trong ý nghĩa của người Mỹ, nó không cố định ở một miền nào, Trung Tây, hay Viễn Tây. Nó (frontier) càng đi xa về phía Tây, thì nước Mỹ càng bành truớng, càng tốt hơn cho Hoa Kỳ.

            Có thể không phải ngẫu nhiên mà John Steibeck được giải thưởng Nobel về văn chương năm 1962. Ông là hậu duệ một giòng máu pha trộn Đức và Ái Nhĩ Lan, gặp nhiều khó khăn trong quãng đời trẻ trung vì tình hình đại suy thoái kinh tế hồi thập niên 1930, trờ thành một nhà văn nổi tiếng với nhiều tác phẩm như “Of Mice and Men”, “The Grapes of Wrath”.

            Chính vì những suy nghĩ như thế mà thằng bé Jody cứ ở mãi trong tâm hồn tôi đã một phần tư thế kỷ nay.

            Đứa bé Mỹ thì như thế, còn đứa bé Việt Nam cùng thời gian ấy thì sao? Xin độc giả đọc bài thơ sau đây:

Ngắm Non Hồng

 

                        Non hồng chín mươi chín ngọn

                        Ngọn cao thứ nhất trước nhà tôi

                        Năm tuổi tôi đã biết yêu núi

                        Cách nay năm chục ngoại năm rồi

 

                        Thuở nhỏ vì sao tôi yêu núi

                        Yêu vì có cái dáng sợ hãi

                        Lần lần tôi biết cái đáng yêu

                        Nghe gió tung reo lòng mát rợi

 

                        Năm mười hai tuổi lên chùa Hương

                        Mây xô suối dắt dốc đưa đường

                        Một cảnh thanh u trên cao rộng

                        Lòng thơ lay động giữa mênh mang

 

                        Hái hoa ăn quả uống nước suối

                        Nước mát lòng tôi càng đắm đuối

                        Nguyện đời ở lại với non Hồng

                        Trong đám chăn bò cùng đốn củi

 

                        Ông thầy áo thụng ngồi giường cao

                        Sân Trình cửa Khổng đã ra vào

                        Bảo tôi trong những đống sách cổ,

                        Thiếu gì non nước để tiêu dao

 

                        Non Hồng từ đó càng xa cách

                        Tôi ngày chôn đầu trong đống sách

                        Bức tranh sơn thủy trong đầu tôi

                        Khuyên điểm ông đồ đà xóa sạch

 

                        Đường đời kế đó vạch tung ra

                        Thách tôi nếm thử bước sơn hà

                        Non Hồng ở lại không thay đổi

                        Tôi cứ đi đi mãi đến già

 

                        Phen nầy trở về vì việc nước

                        Ngắm lại non Hồng không khác trước

                        Ngổn ngang trăm mối chất bên lòng

                        Muốn tỏ cùng non không tỏ được

 

                        Đầu non mây bạc bóng tờ mờ

                        Đầu tôi tóc bạc dáng bơ phờ

                        Ngọn gì cao ngất bên non dó

                        Có phải mồ tôi đang đọi chờ

 

                        Chờ có một ngày tôi trở bước

                        Sang cõi vô sinh như kiếm trước

                        Linh hồn dù với xác trầm tang

                        Vẫn cứ đinh ninh lời nguyện ước

 

                        Bên mồ có mọc một cây thông

                        Để cho xương thịt máu vun trồng

                        Theo gió reo lên một khúc nhạc

                        Kêu vang chín chín ngọn non Hồng

 

                        Võ Liêm Sơn (1949)

 

            Đứa bé trong bài thơ “Ngắm Non Hồng” ở tuổi ấu thơ cũng là một đứa bé bình thường như bao nhiêu đứa khác. Nó yêu cảnh thiên nhiên đẹp, yêu núi, yêu sông và muốn sống trọn đời trong quanh cảnh đẹp đẽ nơi quê hương mình.

            Rồi nó phải cắp sách đi học. Cái lối học từ chương của người Việt (Cho tới bây giờ vẫn còn hiện hữu một cách nặng nề), làm cho đứa bé xa dần khung cảnh đẹp đẽ nơi quê hương. Người Việt học theo cách người Tàu cứ cho rằng cái chi cũng có trong sách cả, “Thư trung hữu nữ nhan như ngọc” nên không cần tìm cái gì ở ngoài đời thực. Tuy nhiên cái học đó đã nung nấu cho cậu bé lòng yêu nước. “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” huống gì với giới có học đã được người đời gọi một cách kính trọng là “Sĩ Phu”. Rồi đứa bé trở thành một nhà cách mạng, dĩ nhiên là phải chịu tù đầy. Đến khi nước nhà có cái gọi là “độc lập” rồi, tác giả bỗng sinh ra bi quan. Có phải có một cái bóng đen to lớn ghê rợn nào đó đang đe dọa tương lai của người Việt Nam.

            Tác giả bài thơ: Ông Võ Liêm Sơn. Ông đã dùng bài thơ để gởi gắm tâm sự của ông vào đó. Võ Liêm Sơn đã tham gia cách mạng chống Pháp, bị tù, bị đày ra Côn Đảo. Sau khi từ Côn Đảo về, ông làm giáo sư Văn Chương Việt Nam tại trường Khải Định Huế (Nay là trường Quốc Học). Khi chiến tranh Việt Nam bùng nổ, ông về lại quê hương của ông, Hà Tĩnh. Sau một thời gian ngắn tham gia chính quyền mới (mệnh danh là cách mạng), ông xin cáo lui về sống ẩn ở nhà và qua đời năm 1949, sau khi sáng tác bài thơ nầy.

            Đứa bé Việt Nam không có cái ước vọng gì lớn, chỉ muốn được lên chơi trên núi, trên 99 ngọn núi Hồng Lĩnh. Có lẽ trong tất cả 99 ngọn núi ấy, không có ngọn núi nào là không in dấu chân Nguyễn Du sau khi triều đình vua Lê chúa Trịnh sụp đổ, ông cũng về ở ẩn nơi quê hương của ông mà cũng là quê hương tác giả Võ Liêm Sơn.

            Thằng bé Mỹ nằm ở bãi cỏ sau nhà, nhìn lên những ngọn núi trong rặng Rocky Mountain hùng vĩ mà thắc mắc: Có gì trong những ngọn núi cao ngất ấy? Tại sao con đường Tây Tiến của người Mỹ khi gặp bờ biển Thái Bình Dương thì ngừng lại? Tại sao không đóng thuyền đi tiếp như nó đã nghĩ ra? Thằng bé, như đã nói, nó là một biểu tượng cho tinh thần người Mỹ, tuổi trẻ của Mỹ.

            Đứa bé Việt Nam có khác đi. Nó không thắc mắc có gì trong 99 ngọn Hồng Lĩnh, nó không nghĩ tới việc mở rộng biên giới về phía Tây, phía Trấn Ninh như cha ông nó đã từng mở rộng biên giới về phía ấy sau khi đánh bại Bồn Man và Lão Qua (2). Nó chỉ muốn sống bình thường cùng với “đám chăn bò và đốn củi”.

            Đứa bé Mỹ khi chưa đi học, nó đã có tinh thần “viễn Tây”, muốn thám hiểm những ngọn núi hùng vĩ và bí mật, và muốn tiếp nối con đường Viễn Tây của cha ông. Chưa đi học mà đã có cái tinh thần ấy, có phải đó là tính truyền thống, là tinh thần di truyền từ những thế hệ trước. Đứa bé Việt Nam không có cái tinh thần ấy, nó chỉ muốn “trọn đời ở lại với non Hồng” để ngao du sơn thủy. Nó yêu quê hương nó nhưng cái ý thức về dân tộc, về chủ quyền đất nước chỉ có được sau khi “Sân Trình cửa Khổng đã ra vào”. Có phải đó là sự khác biệt căn bản từ trong cá tính của mỗi dân tộc?

            Tiếc là cuốn truyện “The Red Pony” của Steinbeck chỉ nói đến đứa bé khi nó còn bé. Còn về sau, khi nó đã lớn thì sao? Cuộc đời nó sau nhiều nỗi đoạn trường thì sao? Nó suy nghĩ như thế nào, ước muốn gì sau nhiều “bầm dập”? Không biết nó có bi quan như đứa bé Việt Nam khi tuổi đã về già? Tại sao bi quan khi về già, không tìm ra hạnh phúc của dân tộc dưới chế độ của Hồ Chí Minh hay sao?

            Chịu ảnh hưởng triết lý đạo Phật và Lão, người Việt khi về già thường nhận chân rằng đời là hư vô, chết là đi vào cõi vô sinh. Không sinh thì không diệt, không có sự sống và cái chết, không có sướng, không có khổ. Những bi quan đó thường do thất vọng trong đời sống mà sinh ra. Nhưng linh hồn thì vẫn còn đó, trong cái mênh mông của vũ trụ cũng như trong cái nhỏ bé của ngọn cỏ lá cây.

            Đứa bé Việt Nam rất yêu nước. Nó hy sinh cuộc đời cho tổ quốc, không ngại gian khổ, không sợ tù đầy. Và ngay khi đã đi vào cõi vô sinh, nó vẫn ước muốn có một cái gì đó tồn tại với quê hương. Đó là máu xương vun trồng cây thông, để cho thông cao lớn rườm rà, để thông đón ngọn gió trời, để “Theo gió reo lên một khúc nhạc, Kêu vang chín mưoi chín ngọn núi Hồng (Lĩnh).

            Trong khi Nguyễn Công Trứ thì chán nản, than thở, từ chối làm người:

                        Kiếp sau xin chớ làm người

                        Làm cây thông đứng giữa trời mà reo

                        Giữa trời vách đá cheo leo

                        Ai mà chịu rét thì trèo với thông

 

            Đúng là tiếng thông reo của Nguyễn Công Trứ (mà reo) xem ra lạnh lẽo và buồn tẻ hơn tiếng “Kêu vang chín chín ngọn non Hồng” của Võ Liêm Sơn. Tuy vậy, xem ra cuộc đời của một đứa bé Việt Nam không có gì vui vẻ tươi sáng so với một đứa bé Mỹ.

            Những thế hệ trẻ Việt Nam, từ khi Pháp xâm lăng Việt Nam, thiếu nhiều may mắn. Nếu như đứa bé Mỹ thừa hưởng một gia tài giàu có và vững mạnh, nó chỉ có việc tiếp nối tinh thần mở mang bờ cõi, mạo hiểm tìm ra của cải đất đai mới làm giàu cho đất nước nó, thì xem ra đứa bé Việt Nam không có cái may mắn ấy.

            Đứa bé Việt Nam thừa hưởng cái gì?

            Ngay từ nửa đầu thế kỷ 20, Tản Đà đã nói tới cái gia tài cha ông ấy:

                        Nọ bức dư đồ đứng thử coi

                        Sông sông núi núi khéo bia cười

                        Biết bao lúc mới công vờn vẽ

                        Sao đến bây giờ rach tả tơi!

                        Ấy trước ông cha mua để lại

                        Mà sau con cháu lấy làm chơi

                        Thôi thôi chớ trách chi đàn trẻ

                        Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi!

                                                (Bức Dư Đồ Rách – Tản Đà)

            Không bàn tới những chữ đúng ở nghĩa đen mà không đúng ở nghĩa bóng, như chữ “mua” (Ấy trước ông cha mua để lại). Trong nghĩa bóng, không phải mua mà chiến đấu và xây dựng với nhiều máu và nước mắt. Tản Đà biểu “thôi để rồi ta sẽ liệu bồi”. Bồi là dán lại hay tài bồi (vun xén). Nghĩa nào cũng có thể được nhưng xem ra sức thư sinh trói gà không chặt như Tản Đà thì ông chẳng tài nào làm được gì hết! Bao nhiêu thế hệ rồi, bao nhiêu đấu tranh và xương máu rồi, nào ai làm được gì dâu! Dân tộc vẫn điêu linh, vẫn sống trong vòng nô lệ, vẫn dựa dẫm và tuân lệnh các cường quốc… để người Việt cai trị người Việt, đàn áp và bóc lột người Việt.

            Một bên nước Mỹ với một tinh thần trẻ, tháo vát, mạo hiểm, xây dựng và mở mang, họ đang nắm vai trò hàng đầu thế giới còn Việt Nam với tinh thần như Võ Liêm Sơn, Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Lý Tống, Nguyễn Lô, Phan Nhật Nam, v.v… lại đang cầm đèn đỏ. Lỗi tại ai?!

Biết bao nhiêu hy sinh, bao nhiêu xương máu thành núi thành sông! Đáng thương nhất vẫn là những người trẻ. Họ đã chôn vùi tuổi trẻ đâu đó, trong rặng Trường Sơn, ngoài biển rộng, trên đồng hoang, trên những thành thị điêu tàn vì chiến tranh.

Càng nghĩ tới tuổi xuân của bao nhiêu người chôn vùi trong lửa đạn, dĩ nhiên trong đó có cả tuổi xuân anh em tôi nữa, (3), để ngày nay tổ quốc, dân tộc ta được gì! Chắc chắn đó là những nỗi ngậm ngùi của ông cha ta ngày trước, của chúng ta ngày hôm nay và cả con cháu chúng ta ngày sau nữa!

            Nhìn lại bây giờ:

            Tinh thần mở mang bờ cõi của dân tộc Mỹ, khởi phát từ những cuộc Tây Tiến (Westward), tiếp nối với tinh thần Tân Biên Cương (New Frontier) của anh em nhà Kennedy, muốn biến Thái Bỉnh Dương thành “biển nội địa” của Mỹ, ngày nay có còn chăng, khi người Tầu tỉnh thức sau giấc ngủ ngàn năm.

            Có phải cái tinh thần ấy vẫn còn đó, trong TPP? (Hiệp định Đối tác Kinh Tế Chiến Lược xuyên Thái Bình Dương, tiếng Anh là Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement – viết tắt TPP.

            Thật ra, TPP lúc ban đầu không phải là do sáng kiến của Mỹ mà do các nước Brunei, Chile, New ZealandSingapore đồng thỏa thuận mở ra vào tháng 5/ 2006. Hai năm sau (2008) Mỹ mới gia nhập, hiện có 11 quốc gia tham gia hiệp hội nầy, không có Nhựt và Tầu.

            Vắng mặt hai nước có nền kinh tế thứ nhì và thứ ba của thế giới, TPP chưa phải là khối mạnh. Trong khi đó, với tiềm năng kinh tế của mình, không hẵn Tàu và Nhựt muốn sát cánh cùng các nước khác trong TPP.

            Có thể người ta thấy thất vọng khi những âm mưu của Roosevelt muốn thực hiện tinh thần Viễn Tây của người Mỹ, muốn biến Thái Bình Dương thành biển nội địa của Mỹ đã thất bại, nhất là khi người Tàu, không những chỉ tranh giành Biển Đông của Viêt Nam, tranh giành “Đông Hải” với Nhựt mà còn muốn giành cả Thái Bình Dương cho họ nữa.

            Chỉ mới 50 năm, kể từ khi Tổng thống Kennedy bị ám sát, sức mạnh của Mỹ không những yếu đi nhiều mà cái tinh thần Tân Biên Cương (New Frontier) càng ngày càng xẹp đi như quả bóng bị xì hơi.

            Có phải vì vậy mà chính phủ Obama “quay trục” về Châu Á, để cứu vãn tình trạng “bỏ quên” của tổng thống Bush trong suốt hai nhiệm kỳ của ông, chỉ lo nhắm vào Trung Đông?

Giữa mùa tuyết

hoànglonghải (tuệ chương)

            (1) Monroe, tổng thống Hoa Kỳ. Đế quốc Tây Ban Nha tan rã khiến nhiều nước Mỹ Châu La Tinh giành được độc lập. Hoa Kỳ thương thuyết để mua lại vùng Florida. Tổng thống James Monroe của Mỹ công nhận những quốc gia Mỹ Châu La Tinh vừa giành độc lập.

            Từ cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19, tình hình châu Âu diễn biến rất phức tạp vì những mâu thuẫn giữa các nước lớn châu Âu như Pháp, Anh và Nga khiến người Mỹ không muốn can thiệp vào những vấn đề rắc rối ở cựu lục địa. Thông điệp của tổng thống James Monroe gởi quốc hội hôm 2 tháng 12/ 1823, đặc biệt đề cập đến thái độ bất can thiệp nầy. Đó là điều sau nầy người ta gọi là “Học thuyết Monroe”.

            Sau thế giới chiến tranh lần thứ nhất (1914-1918), chính quyền Hoa Kỳ quay trở lại với “học thuyết Monroe”, không muốn can thiệp vào các vấn đề quốc tế, đặc biệt là ở Châu Âu. Học thuyết nầy ngày nay đã lỗi thời.

            (2) Năm 1479, Lê Thánh Tôn cho quân đi đánh Bồn Man và Lão Qua, thu nhận lãnh thổ hai nước nầy vào lãnh thổ Việt Nam.

(3) Mẹ tôi sinh bốn người con trai: Anh cả tôi bị Pháp thủ tiêu ở Huế năm 1950, khi anh ấy làm chủ tờ báo Ý Dân, chống Pháp. Em út tôi là Hoàng Ngọc Hùng (Hùng móm) hy sinh ngày 14-7-1972 khi chỉ huy đại đội 112 Dù về chiếm lại cổ thành Quảng Tri. Người anh kế tôi qua đời sau khi đi “tù cải tạo” về. Nay chỉ còn lại một mình tôi đang tỵ nạn Cộng Sản ở Mỹ.

Võ Liêm Sơn (tiểu sử)

Võ Liêm Sơn (1888-1949): Hiệu Ngạc Am sinh năm Mậu tý (1888) tại xã Hữu Ngoại nay là xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh trong một gia đình nho học có truyền thống yêu nước lâu đời.

Từ nhỏ Võ Liêm Sơn đã theo đuổi Hán học, rồi học tiếp chữ Pháp, năm 1911 ông đỗ Thành Chung ở trường Quốc học Huế được bổ làm giáo học ở đạo Ninh Thuận, năm 1912 ông đỗ cử nhân Hán học khoa Nhâm Tý ở trường thi Quy Nhơn. Sau một thời gian học hậu bổ, ông được bổ tri huyện Duy Xuyên – Quảng Nam nhưng không đầy một năm ông bị huyền chức chuyển về Huế làm Thừa Biện. Trong thời gian này ông bắt đầu đọc sách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, từ năm 1915-1918 ông lại được bổ làm giáo thụ rồi Kiểm học ở Phú Yên, năm 1919 chế độ học quan của Nam Triều bị bỏ, ông lại được điều ra Huế dạy Hán văn và Việt văn ở trường Quốc học.

Khi Tân Việt Cách Mạng Đảng thành lập ông được kết nạp và ông trở thành nơi đi lại và hội họp của các đảng viên. Năm 1930 ông và người con trai đầu là Võ Bỉnh Sơn bị bắt và đưa về giam ở nhà lao Hà Tĩnh gần một năm, sau khi được tha ông lại vào Huế, tại đây Khâm sứ Trung Kỳ Yve Châtel đã nhiều lần mua chuộc ông nhưng ông không chịu ra làm quan. Năm 1934, ông sáng lập Tân Văn Nghệ Tùng Thư nhưng mới xuất bản được 2 cuốn sách thì bị khám nhà tịch thu sách vở và bị bắt giam mấy ngày. Sau “Cách mạng Tháng Tám”, năm 1947 Võ Liêm Sơn được chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bổ nhiệm làm Trưởng ban tuyên truyền kháng chiến, Uỷ viên Uỷ ban Kháng chiến Hành chính đồng thời được cử làm Chủ tịch Mặt trận Liên việt Hà Tĩnh. Năm 1948, ông lại được bổ nhiệm làm Uỷ viên Ủy ban Kháng chiến Hành chính liên khu IV và trong Đại hội Mặt trận Liên Việt Liên khu ông được bầu làm Chủ tịch. Trong năm này ông được cử đi dự Hội nghị Văn hoá Toàn quốc tổ chức ở Việt Bắc, nhưng cuối năm đó ông bị bệnh và mất vào đầu năm 1949.

Võ Liêm Sơn là một nhà khoa cử Hán học đồng thời là một trí thức Tân học, ông đã từng làm quan làm nhà giáo nhà văn nhưng bao trùm hơn cả là một nhà nho xứ Nghệ một chiến sĩ yêu nước, trên mọi cương vị tính cách ông đồ Nghệ và khí tiết nhà ái quốc đều bộc lộ rõ nét. Dạy học không chỉ là truyền thụ kiến thức cho học trò mà quan trọng hơn là tấm gương của mình truyền thụ cho học trò lòng yêu nước thiết tha và nhân cách cao đẹp.

NGẮM NON HỒNG

Non Hồng chín mươi chín nhỏn

Nhỏn cao thứ nhất trước nhà tôi

Năm tuổi tôi đà biết đứng ngắm

Cách đây năm chục ngoại năm rồi.

Thuở bé vì sao tôi yêu núi?

Yêu vì có cái đáng sợ hãi,

Lần lần đã biết cái đáng yêu

Nghe gió thông reo lòng mát rượi

Năm mười hai tuổi lên chùa Hương

Mây xô, suối dắt, giác đem đường

Một cảnh thanh u trên cao rộng,

Hồn thơ lay động giữa mênh mang,

Hái hoa, ăn quả, uống nước suối

Nước mắt lòng tôi càng đắm đuối,

Nguyện đời ở lại với non Hồng

Trong đám chăn bò và đốn củi,

Ông đồ áo thụng ngồi giường cao

Sân Trình cửa Khổng đã ra vào

Bảo tôi trong những đống sách cũ

Thiếu gì non nước để tiêu dao.

Từ đó non Hồng càng xa cách

Tối ngày chôn đầu trong đống sách

Bức tranh sơn thủy trong đầu tôi

Khuyên điểm ông đồ đà xóa sạch

Đường đời kế đó vạch tung ra

Bắt tôi nếm thử bước quan hà

Non Hồng ở lại không thay đổi

Tôi cứ đi, đi mãi đến già

Phen này trở về vì việc nước

Ngẩm lại non Hồng không khác trước

Ngổn ngang trăm mối chất bên lòng

Muốn tỏ cùng non khôn tỏ được.

Đầu non mây trạc bóng tờ mờ

Đầu tôi tóc bạc dáng bơ phờ

Nhỏn gì cao ngất trên non đó

Có phải mồ tôi đương đợi chờ ?

Chờ một ngày kia tôi trở bước

Sang cõi vô sinh như kiếp trước

Tinh hồn dù với xác trầm tang

Vẫn cứ đinh ninh lời nguyện ước

Trên đồi có mọc một cây thông

Để cho xương thịt máu vun trồng

Nghe gió reo lên một khúc nhạc

Kêu vang chín chín nhỏn non Hồng.

1948

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: