Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Giác ngộ gần kề – Edwin Arnold

3Tương tự như sự phân chia nhiệt độ trên một nhiệt kế, giác ngô cũng có nhiều mức độ khác nhau. Có lẽ chẳng sai nếu nói rằng chúng ta nấy đều đã phần nào giác ngộ, dù rằng có thể không ở mức độ cao. Tuy nhiên, Viên Giác, tức là sự giác ngộ hoàn toàn là điều có thể đạt được. Đó là lý do tại sao người ta “tầm Đạo”. – để nhằm đạt đến Viên Giác sau biết bao cố gắng, đau khổ cùng tội lỗi và sai lầm.

Đọc qua câu chuyện về cuộc đời Đức Phât, ta có thể thấy Thái Tử Tất-Đạt-Đa đã có biết bao kinh nghiệm giác ngộ trước khi Ngài đạt đến Viên-Giác, Phật Quả. Tôi kể lại đây hai kinh nghiệm để cho thấy rằng sự Giác Ngộ có thể được phát sinh từ sự quan sát các việc rất tầm thường – không có gì đặc biệt –  về thế giới chung quanh ta.

Khi Thái Tử hãy còn là cậu bé trai, lên sáu hay bảy tuổi gì đó, Phụ Vương dẫn Ngài đi xem Hội Vỡ Đất Mùa Xuân, trong hội nầy có một nghi lễ cầy đất long trọng được cử hành để đánh dấu điểm khởi đầu của một mùa trồng trọt mới. Đối với một xã hội nông nghiệp mà đời sống dân chúng gắn liền với ruộng đất, đây là buổi lễ vô cùng trọng đại. Và chắc chắn dân chúng đã cúng dâng nhiều lễ vật lên các vị thần và thần linh trong thiên nhiên mà họ tin là hiện diện ở khắp mọi nơi, nhằm làm dịu những cơn thịnh nộ và cầu xin được giúp đỡ cùng ban phước lành.

Trong khi Đức Vua dẫn đầu buổi lễ với chiếc cày của Hoàng Gia, Thái Tử được giao cho quân hầu canh giữ ở cạnh cánh đồng. Nhưng khi buổi lễ được cử hành, rộn ràng với tiếng nhạc tiếng ca, các quân hầu thích chen lại gần xem lễ, bỏ Thái Tử lại một mình, nghĩ rằng không ai trông chừng Ngài trong khoảnh khắc cũng không sao.

Dường như xa rời với âm thanh vui nhộn, Thái Tử cảm thấy tỉnh lặng và an lạc, Ngài nhìn thấy quanh Ngài những biểu hiện của một đời sống sung túc:

                        “Nhưng chân lý

                        Và bộ mặt của cuộc đời

                        Không như gì ta nhìn thấy

                                    Mà là

                        Những gì ẩn kín đằng sau kia

                        Mỗi đóa hoa đều phải nở trên gai

                        Những luống đất chỉ dựng sau đường cày

                        với mồ hôi cực nhọc bác nông dân

                        trộn nước mắt con trâu già khổ nhọc

                                    Sự sống nằm trên cái chết

                        Như con tắc kè kiếm ăn bằng xác kiến

                        Đâu biết Loài rắn đang rình chực thân mình

                                    Và ở trên cao

                        Con diều hâu chực chờ bay liệng

                                    Cái chết của loài nầy

                                    Là sự sống của loài kia”

 

Xúc động mạnh mẽ bởi những điều nầy, Thái Tử đến ngồi dưới một gốc cây:

            “Hãy chiêm nghiệm nguồn cội của sự sống

                        Để tìm ra nguyên ủy tâm linh

            Đã biến đời thành cơn đau bệnh hoạn

                        Để lòng từ bi đơm hoa kết trái

                        Hàn gắn những vết thương

                              Con đường đưa vào

                                    Đạo bắt đầu

                                    Bằng quán tưởng

                                    Ngã chấp

                        Và thất tình trong mỗi chúng sanh”

 

Hơn hai mươi năm sau Lễ Vỡ Đất nói trên, khi Ngài hãy còn sống trong cung điện, Thái Tử bị thôi thúc bởi ý muốn phải đi ra thăm thành phố và xem dân chúng sinh hoạt ra sao. (Có sách chép rằng, cho đến lúc ấy, Ngài đã phải sống giam hãm trong cung như một người tù theo lệnh của Đức Vua, để vị Thái Tử thích suy tư khỏi nhìn thấy thực tế đau đớn của đời sống, như bệnh hoạn, già nua và chết chóc. Ngài được cung phụng với tất cả những tiện nghi và thú vui mà người ta có thể nghĩ đến được với hy vọng là định mệnh tiên đoán cho Ngài ngay sau khi mới sanh. – rằng Ngài sẽ rời bỏ hoàng cung đi tìm Chân Lý và sẽ đắc đạo thành Phật – sẽ không hình thành và lời tiên tri khác – cho rằng Ngài sẽ trở nên môt vị Đại Đế – được thành sự thật). Cuối cùng, Phụ Vương cho phép Ngài được đi thăm thành phố, nhưng chỉ sau khi Đức Vua đã nghiêm lệnh rằng thành phố phải được chuẩn bị chu đáo, dân chúng phải ăn mặc đẹp đẽ, phải tỏ ra vui sướng, và tất cả những dấu vết bệnh tật, già nua và chết chóc phải được giấu kín cho đến khi Thái Tử đã đi qua.

Khi mọi sự chuẩn bị xong, Thái Tử được phép xuất hành trong cổ xe ngựa. Ngài rất hài lòng với những gì thấy được lúc ban đầu, vì dân chúng trông có vẻ sung túc, và thật sự vui mừng khi được nhìn thấy vị Thái Tử khôi ngô tuấn tú của họ. Nhưng rồi một điều bất ngờ lại đã xảy ra: Đột nhiên hiện ngay trước cổ xe của Ngài, hình bóng một người tàn tạ, lưng còng, chống mình trên một chiếc gậy. Thái Tử bị chấn động bởi hình ảnh đó, một hình ảnh hoàn toàn trái ngược với cảnh hạnh phúc an vui mà Ngài đã thấy. Ngài ra lệnh dừng xe lại, hỏi xem hình ảnh kia là cái gì? Người đánh xe Xa-Nặc trả lời đó là một ông lão. Ngài không hiểu, hỏi tiếp: “Có người nào khác già nua như thế không, hay đây chỉ là người duy nhất?” (Chúng ta có thể coi đây như là một câu hỏi ngây thơ ngớ ngẩn, phải vậy không? Nhưng nó rất phù hợp với câu chuyện được thuật lại, vì theo đó, Ngài chưa từng bao giờ được cho nhìn thấy những cảnh như thế, do đó, câu hỏi của Ngài là một câu hỏi hợp lý). Xa-Nặc trả lời: “Thưa Thái Tử. Đây chẳng phải là chuyện lạ lùng gì cả. Bất cứ người nào sống lâu rồi cũng đi đến tình trạng già yếu nầy thôi.”

Trong nỗi kinh ngạc, Thái Tử ra lệnh cho Xa-Nặc tiếp tục đánh xe đi, nhưng chưa được bao xa thì Ngài lại thấy một cảnh lạ lùng nữa: Môt người bệnh hoạn nằm bên vệ đường, lăn lộn rên rỉ trong đau đớn. Ngài lập tức ra lệnh cho Xa-Nặc dừng xe lại, và hỏi cảnh thứ hai đó là cảnh gì. Xa Nặc trả lời: “Thưa đó chỉ là một người bị bệnh, chớ không có chuyện gì bất thường cả”. “Không phải là chuyện bất thường?” Thái Tử nói. “Nhưng ta chưa từng thấy chuyện ấy bao giờ. Ta có thể bị như thế không? Và vợ ta nữa?

“Thưa vâng”, Xa Nặc trả lời, “Ngay cả Ngài cũng như Công Nương, và bất cứ ai khác, đều có thể trở thành như vậy, khi sức khỏe bị suy kém đi.” Thái Tử lại càng rối trí. Ngài vẫn chưa nhận ra rằng những cảnh Ngài mục kích là chuyện rất bình thường. Ngài ra lệnh cho Xa-Nặc tiếp tục cuộc du hành. Đi ngang qua những khuôn mặt tươi cười, vui vẻ trên đường phố, nỗi băn khoăn trong lòng ngài vẫn không suy giảm, và dường như Ngài chẳng còn nhìn thấy ai nữa. Rồi ở một khúc quanh, Ngài lại thấy cảnh lạ thứ ba: Một đám tang đi ngang giữa đường, người ta đang khiêng trên cáng xác một người đã chết, với gia quyến và bạn bè theo sau. Thái Tử một lần nữa ra lệnh dừng xe, và hỏi rằng đó là cảnh gì? Xa-Nặc giải thích rằng người ta đang khiêng một người chết – có lẽ thân nhân hay người bạn chi đó – đến giàn hỏa thiêu để thiêu xác. Thái Tử lại hỏi rằng đây chỉ là điều xảy ra cho một số ít hay là cho mọi người. Xa -Nặc trả lời rằng mọi người – hay đúng hơn là mọi vật được sinh ra – không sớm thì muộn đều phải chết. Có người chết lúc còn trẻ còn thơ, có người ở tuổi thanh xuân, có người ở tuổi già, nhưng tất cả đều phải chết. Tất-Đạt-Đa mới tự hỏi: “Như vậy thì sống để làm gì, mọi cố gắng để làm gì, khi mà cuối cùng đều phải chết? Có phải cuộc sống chỉ có thế nầy hay còn gì hơn thế nữa?”

            “Ta đã thấy đủ. Xa Nặc, nào hãy quay trở về.” Ngài nói. Xa-Nặc vâng lệnh vòng xe đi về nhưng trước khi đến cung thành, Thái Tử lại thấy cảnh lạ thứ tư: Một đạo sĩ Yoga, hay một nhà tu khổ hạnh, đang ngồi thiền dưới một gốc cây, gần vệ đường. “Đừng vội, Xa-Nặc” Ngài hỏi: “Ai đang ngồi nơi kia vậy, và ông ta đang làm gì thế? Và dù ông ta có ăn bận nghèo nàn, đơn giản, ta chưa nhìn thấy ai có vẻ mặt an lành như vậy!”. “ Thưa Thái Tử, đó là một vị sadhu”. Xa Nặc trả lời, “một nhà tu khổ hạnh, hay một thánh nhân.” – Đó là một người đã rời bỏ gia đình và nhà cửa để đi tìm Chân Lý. Ông ta sống một đời đơn sơ cô-lặng như là một cách nhằm đạt đến muc đích!”

            Khi nghe như vậy, Tất-Đạt-Đa biết ngay rằng đây chính là điều Ngài cần phải làm ngay khi cơ hội đầu tiên đến: Ngài phải rời cung điện để đi tìm Chân Lý. Ngài thấy rằng đời sống nơi cung điện bất lợi cho việc tìm sự an bình và Chân Lý vì nơi đó đầy thú vui và những thứ nhắm vào giác quan hời hợt, đó là những thứ trói buộc tâm trí của con người, cản ngăn không cho vươn tới những đỉnh cao.

            Và mọi chuyện xảy ra đúng như vậy. Khi cơ hội đầu tiên đến với Ngài, – theo  truyền huyết nó xảy ra đúng vào đêm sau khi Ngài đã chứng kiến Bốn Cảnh Lạ nói trên – khi mọi người đang say ngủ, Ngài lặng lẽ rời cung điện, leo lên lưng con ngựa Kiền Thức cùng với Xa-Nặc, người phò tá trung thành, phóng ngựa nhanh đến biên giới của vương quốc. Ngài qua sông Anoma, tại đó tháo bỏ vàng bạc châu báu, cắt tóc và cắt râu, đổi quần áo sang trọng lấy quần áo của một người ăn xin, và đưa tất cả đồ đạc cho Xa-Nặc, dặn đem về trao lại cho phụ vương, cùng với con ngựa và nhắn rằng Ngài sẽ không trở lại cho đến khi tìm được nguồn gốc của mọi sự đau khổ trên cõi đời nầy. Dù rằng rất đau lòng phải chia tay với Thái Tử mà ông hằng yêu quí, Xa-Nặc vâng lời. Thái Tử Tất-Đạt-Đa một mình đi vào rừng, bắt đầu cuộc đời của một người không nhà, nay đây mai đó để đi tìm Chân Lý.

            Như chúng ta đều biết, sau sáu năm dài khép mình vào nhiều lối tu khổ hạnh,  – đến nỗi có lúc kiệt lực gần chết – Cuối cùng Ngài đã đạt được Giác Ngộ và Giải Thoát, từ đó trở đi, mang danh iệu là “Đức Phật”. Công trình tìm kiếm của Ngài không phải chỉ mất có sáu năm trời. Thực ra, không thể nói được công trình đó bắt đầu từ lúc nào, bởi vì trong suốt câu chuyện về cuộc đời của Ngài, từ những năm đầu tiên, ta có thể thấy được những hiện tượng đang xảy ra rồi mỗi biến cố đều góp phần chuẩn bị cho Ngài đạt đến Viên Giác, sự thành đạt nầy không phải là có được trong phút chốc, mà nó là thành quả của công phu tu tập trong nhiều kiếp để kết trái dưới cọi Bồ Đề ở Gaya năm 588 trước Tây lịch.

            Riêng tôi thì tôi có phần hoài nghi mẫu chuyện cho rằng Thái Tử Tất-Đạt-Đa đã được tách rời khỏi bề mặt khổ đau của cuộc sống đến nỗi việc nhìn thấy Bốn Cảnh Lạ nói trên lần đầu tiên trong 29 năm trời. Tôi cũng nghĩ rằng có lẽ, như bạn và tôi, Ngài đã nhìn thấy trước đó rồi, nhưng trong dịp đặc biệt đó, tâm của Ngài đã ở trong trạng thái hết sức sẵn sàng và bén nhạy nên đã nhìn chúng với một cái nhìn hoàn toàn mới lạ, như thể Ngài nhìn thấy những điều ấy lần đầu trong đời, và đã bị chấn động thấu tâm can.

            Về phần chúng ta, tuy lớn lên với bênh tật, già nua, và – đôi khi – với cái chết, những điều nầy vẫn xảy ra ở quanh mình, nhưng chúng ta đã chấp nhận chúng và không thắc mắc gì cả. Chúng ta trở nên quen chịu đựng, và không còn bị chúng làm xúc động nữa. Điều nầy không có nghĩa là ta đã hiểu tận tường những nỗi khổ hay đã vượt ra khỏi cái cảnh già, bệnh và chết. Nó vẫn là cái gì thực tế, đau đớn ghê sợ mà tất cả chúng ta đều phải đối diện. Nhưng dù rằng chúng ta già đi (nếu chúng ta may mắn không chết sớm), bị đau yếu rồi chết, tất cả không hoàn toàn đen tối và tiêu cực như vậy, bởi vì nhờ đó chúng ta có thể tìm thấy Giác Ngô, bằng cách hiểu biết sâu sắc về những điều nầy, chúng-ta có tư-liệu dồi dào để học hỏi. Giác Ngộ thực sự chẳng nằm xa tầm tay của chúng ta đâu.

(Bản chính ghi:

Trích từ “The Light of Asia” của Edwin Arnold)

Đánh máy lại ngày 25 tháng 5/ 2014

hoànglonghải

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: