Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Tang lễ – Thượng tọa Abhinyana

2Hàng ngàn năm nay, cả một kỹ nghệ đã có mặt bám sống chung quanh những người sắp chết và đã chết. Đó là việc làm ăn thật phát đạt cho đến các linh mục, sư sãi, người lo việc chôn cất thiêu xác, người làm hòm, chủ nghĩa địa, người bán hoa, v.v… Các việc nầy đòi hỏi qua nhiều phí tổn đến nỗi nhiều người không thể xoay xở để lo cho cái chết của mình, và cả lòng tin của người dốt nát mê tín bị những kẻ trong nghề, có quyền lợi lâu dài khai thác và bóc lột. Người ta sẵn sàng bỏ ra món tiền khổng lồ để tang lễ được cử hành đúng theo kiểu truyền thống.

Trong bài nầy, tôi xin bàn về giá trị và phân tích nguồn gốc của tang lễ và vấn đề xem “người chết có được giúp đỡ gì không?”

            Thật là kinh ngạc! Những điều mê tín dị đoan ngu xuẩn vẫn được tiếp tục đời này qua đời nọ mà không bị tra vấn và nanh vuốt của nó không bao giờ lơi lỏng trong tâm những kẻ dốt nát. Tôi đã thấy người có học, hiểu đời, giàu có – trong số đó có cả những nhà kinh doanh có đầu óc thực tế – đốt những mẫu nhà, tivi, dinh thự có bàn ghế và người hầu hạ – tất cả đều bằng giấy và tốn kém không biết bao nhiêu là tiền, vì họ tin rằng, bằng cách nào đó, ngoài sự giải thích thường tình, những thân nhân chết rồi của họ, dù đang ở đâu, cũng có thể nhận được các thứ đó dưới hình thức dùng được. Con người có thể có học vấn cao và khôn lanh ở một vài mặt, trong khi lại có thể ngây thơ và khờ dại ở những mặt khác.

            Mấy năm trước, khi ở Indonesia, tôi được kể về một ni-cô.  Người ta xin cô làm tang lễ hay cúng kiến giỗ quảy để tưởng nhớ người chết, cô thường cho biết phí tổn phải trả, cô nói: “Nếu ông/ bà muốn tôi làm lễ đầy đủ, tức 3 ngày 3 đêm, thì phải tốn số tiền… Nếu là 1 ngày một đêm thì tốn…”. Đây đúng là khai thác sự đau buồn và dốt nát của người khác và chẳng có gì chắc chắn là người chết đó sẽ được hưởng tí gì từ những nghi lễ bịp bợm trắng trợn kia. Những người có thể giúp người chết hữu hiệu nhất – nếu có thể giúp được – là những người kế cận thân thiết với họ nhất khi còn sống và đã gắn bó với họ bằng tình thương mến sâu đậm.

            Tôi cảm thấy cách hay nhất để may ra giúp được người chết là không phải tiêu những món tiền khổng lồ vào lễ nghi mà chẳng ai hiểu rõ (hay nếu ai có hiểu cũng không thấy họ giải thích), mà là ngồi yên lặng, tỉnh tâm nơi nào đó trước kia có những thời kỳ hạnh phúc bên người quá cố, rồi nghĩ một cách tích cực đến họ với tình thương và thiện ý.

            Mấy năm gần đây, ở phương Tây người ta có thực hiện những cuộc nghiên cứu khách quan có tư liệu dẫn chứng, về rất nhiều trường hợp những người qua khám nghiệm được tuyên bố đã chết – nghĩa là không thấy mạch nhẩy, hơi thở hay não điện đồ – nhưng khi sống lại đã kể những kinh nghiệm “sau khi chết” hay “ra khỏi xác”. Cuộc nghiên cứu ấy có vẻ cho thấy rằng thực sự đời sống có thể, và quả thực vẫn còn tiếp diễn sau cái chết của thân xác.

            Khi được phỏng vấn, hỏi, những người có quá trình văn hóa và tôn giáo khác nhau mà đã trải qua những kinh nghiệm “bên ngoài thân xác của mình” đều trả lời một số điểm căn bản khác nhau, họ nói rằng tâm trí, ý thức, hoặc tâm linh – gọi là thứ nào cũng được – đã tự lìa khỏi cái thân xác, không còn một tí dấu hiệu nào của sự sống, và tựa như lơ lững trên cái xác ấy, trong khi đó, họ vẫn nghe và thấy những gì xảy ra tại đó; tuy có thể nghe thấy như thế, nhưng không ai thấy hay nghe được nó. Về sau, khi xác đã sống lại, – bằng cái gì đó chứ không chỉ do sự cố gắng của những người làm hô hấp nhân tạo – thì các người chết hụt đó có thể thuật lại cái gì đã xảy ra; nếu đã chết ở nhà thương, chẳng hạn, thì họ có thể thuật lại về việc nhân viên nhà thương ra sức làm sống lại cái xác, họ có thể kể ai đã nói gì, ai đã làm gì; họ có thể kể lại việc bà con đang đau đớn đợi chờ bên ngoài, v.v… Tất cả các chuyện kể lại đó có thể kiểm chứng là đúng. Họ cũng nói đến một cảm giác vô cùng an bình ngay khi thoát ra khỏi xác, và nói đến việc gặp một thứ “ánh sáng rực rỡ” mà vài người trong số họ, với quá trình tôn giáo riêng biệt, gọi là “thiên thần”, và họ cảm nhận được tình thương và sự ân cần, nhiệt tình vô cùng lớn đến với họ từ ánh sáng đó. Họ “biết” hay “cảm thấy” rằng họ phải trở về với thân xác và “thức dậy”, rằng họ chưa đến lúc chết. Trong vài trường hợp, có sự ngần ngại không muốn trở về, nhất là cái xác đã bị tan nát vì tai nạn, hay nếu thân xác đau đớn vì bệnh ung thư hay một nan y nào khác. Tuy nhiên, họ trở về. Nhưng kinh nghiệm chết tạo cho họ hai kết quả: Một là nay họ thấy rất rõ sự quan trọng của việc sống, chấp nhận đời dù đời có ra sao. Hai là biết một cách dễ dàng ra sao rồi họ không còn sợ chết lại – vì họ biết chẳng có gì ghê gớm xảy ra cho họ ở phía bên kia cả.

            Tất cả những chuyện đó không đủ là chứng cớ cho khoa học kết luận về sự hiện hữu hay sự nối tiếp của đời sống sau khi chết, nhưng chắc chắn những chuyện đó phải làm cho người ta có đầu óc rộng mở hơn đối với khả năng có thể nếu không nói là việc khả dĩ có đời sau, và làm cho họ không bao giờ còn quyết đoán rằng không thể có đời sau.

            Giả sử – xin chỉ giả sử thôi – rằng sau khi chết, sự sống vẫn tiếp diễn, ít ra như các trường hợp kể trên, thế thì có cách gì giúp đỡ người đã chết không, và giúp như thế nào? Đây, những người trải qua cái chết và trở về để thuật lại, nói họ đã thấy và nghe được những việc đang xảy ra ở “cõi đời nầy”, trong khi người sống ở đây không thể sống hay nghe họ. Điều nầy có tính cách một chiều.

            Ngày nay, như một phần nghi thức trong tang lễ của những nền văn hóa Trung Hoa, người ta cúng cho người chét nhiều món gồm thức ăn, đồ uống, v.v… những món mà người chết không tài nào ăn uống được vì họ không có thân thể bằng xương bằng thịt. Sau buổi lễ, đồ ăn vẫn còn nguyên vẹn.

Cúng như thế có vô ích khong? Không! Ta không thể nói là vô ích. Nếu cái thần thức hay vong linh người chết còn gần đó, chưa đi xa trên con đường của họ, mặc dù vong linh không thể ăn uống các vật phẩm cúng kiếng cho họ, vong linh ấy cũng vui mừng và được an ủi khi thấy các thức cúng đã được dâng cho mình bởi những thân nhân, bè bạn đã từng yêu thương mình và hết lòng với mình. Và niềm vui dấy lên đó biết đâu có thể giúp vong linh ấy vượt ra khỏi hoàn cảnh khốn khó nào đó ở phía bên kia, và khuyến khích vong linh tiêp tục đi. Nếu cách thức như thế mà không thể giúp được vong linh thì việc cũng không vô ích miễn là được cúng với lòng thành. Hành động dâng cúng cái gì đó với ý muốn làm lợi cho kẻ khác, có ảnh hưởng ngay lập tức cho chính tâm của người dâng tặng. Do đó, với cách dâng tặng như vậy là chẳng mất mát bao nhiêu mà còn có thể được lợi rất nhiều.

            Vì vong linh còn phảng phất gần đó một khoảng thời gian sau khi chết, – thuộc cõi trung ẩm, tức còn ngỡ ngàng, chưa biết đi đâu, chưa biêt làm gì – nên việc giảng Pháp rất quan trọng và tang lễ không nên thiếu phần thuyết Pháp. Tiếc rằng phần này thường bị gạt đi, nên chi mục đích chính của tang lễ bị chểnh mảng và thiếu sót. Dù vong linh không còn ở gần đó nữa, đã đi xa rồi nhưng Pháp cũng được nên giảng cho người sống, để họ có thể từ dịp đau buồn nầy học được những điều ích lợi cho chính đời mình.

            Trong vài trường hợp, người ta chết quá nhanh và đột ngột đến nỗi họ không nhận ra mình đã chết rồi và nghĩ rằng mình còn sống, họ đâm ra hoang mang không hiểu tại sao không ai lắng nghe hay thấy mình cả. Họ có thể tiếp tục ở trạng thái ấy bao lâu? Không ai biết! Nhưng đôi khi cũng cần có ai đó nói cho họ biết tình trạng của họ và khuyên họ đừng nên ở đây nữa mà nên tiếp tục đi. Đó là lý do tại sao người Tây Tạng, khi có ai chết, thì khiêng xác đó ra khỏi nhà, và nói, chẳng hạn: “Nhà người chết rồi, vậy hãy đi chỗ khác. Đừng trở về, chúng tôi không muốn nhà người nữa. Hãy tiếp tục cuộc hành trình của mình.” Bị đuổi hả? Phải! Nếu hiểu theo một cách nào đó, thì đúng vậy! Nhưng đó là cách giúp cho vong linh bỏ mọi thèm khát, mọi luyến ái, còn lảng vảng quanh gia đình, bạn bè hay những nơi quen thuộc, và để cho vong linh chóng tới giai đoạn kế tiếp trong cuộc hành hương của mình.

            Một lần nọ, tại trại tỵ nạn Phi Luật Tân, nơi tôi từng ở trước đây, có một gia đình đến tìm tôi, yêu cầu tôi theo họ về nơi trú ngụ của họ. Đến nơi, họ kể rằng, người em gái bị chết đuối hai tuần trước trong một con suối gần đấy. Họ cảm thấy cô ta trở về mỗi đêm, vì căn phòng trở lạnh đột ngột làm cho họ sợ. Tôi khuyên đừng sợ, nói đó là vì cô ta trở về xin họ an ủi và trấn an. Do đó, khi lần sau họ cảm thấy có cô ta về, họ nên giải thích với cô: “Em ơi! Anh chị thương em lắm! Nhưng bây giờ em không còn thuộc về cõi đời nầy nữa, vậy em đừng trở về làm chi. Em phải tiếp tục cuộc hành trình của mình, chẳng khác chi anh chị phải theo cuộc hành trình của anh chị. Thôi! Đi đi!”

Lần sau, họ cảm thấy sự hiện diện của cô, họ nói như thế, và sau đó chẳng bao giờ họ còn cảm thấy cô về nữa.

            Hiện tượng những căn nhà bị lai vãng như thế có thể được giải thích rằng đó là do sự luyến ái thái quá của một số người nào đó khi còn sống với gia đình, bạn bè hay những nơi chốn quen thuộc. Khi chết rồi, sự luyến ái đó tác động thành một nghiệp lực để giữ họ “dính chặt” với người và vật mà họ đã ưa thích. Thấy, nghe, cố giao tiếp mà không ai thấy hay nghe mình thì đó là một tình trạng khốn khổ, và thuật xua ma đuổi tà thường phải được dung để “gỡ” kẻ đã luyến ái, chấp quá chặt như thế.

            Tuy nhiên, người ta gán cho thuật nầy quá nhiều tính cách bí ẩn và mê tín dị đoan cho nên đã bị che kín lấp đi. Do đó, nhiều người đâm ra nghi ngờ, sợ hãi, ghê tởm nó. Nhưng ở các trang trước, tôi vừa nói về thuật đó, về chuyện thực hành theo cách đơn giản, ai cũng làm được, bỏ hết các yếu tố thuộc về ma thuật và những lễ bái lố lăng.

            Về việc đốt nhà và những thứ khác bằng giấy thì kẻ duy nhất có lợi là những nhà suất các thứ ấy. Việc đốt vàng mả nầy có nguồn gốc ra sao, tôi không biết. Nhưng một lần tôi nghe câu chuyện ngắn kể về những người buôn bán giấy, nhân lúc kỹ nghệ giấy bị giao động mạnh do ảnh hưởng nền kinh tế suy thoái, đã họp nhau để bàn luận cách đối phó ra sao, cuối cùng, một người trong bọn họ đưa ra cái ý kiến thật hay. Đó là làm những thứ mẫu giấy như nhà, dinh thự, người, các vật khác, rồi mở một chiến dịch quảng cáo truyền ra cho công chúng cái tư tưởng rằng để có hiếu, thì nên đốt những thứ ấy ngõ hầu thân nhân đã chết của họ ở bên kia có thể hưởng các thứ đó dưới hình thức đồ thực. Dần dà, những kẻ buôn bán giấy đã có thể lén lút đưa được hẳn cái tư tưởng kỳ cục đó vào xã hội của những người hiếu thảo, và kỹ nghệ giấy phát đạt trở lại. Ngày nay, nhiều người theo phong tục nầy không phải vì lòng hiếu thảo, nhưng vì làm y theo truyền thống vì sợ nếu không làm thì người ta sẽ nói cho. Truyền thống không dễ bị tiêu diệt.

            Hãy cứu giúp thân nhân quá cố của bạn. Đừng chỉ kêu kẻ khác tới, trả tiền để họ làm giùm. Dù sao đi nữa, họ không có giây liên hệ chặt chẽ nào với người chết của bạn và có thể hành lễ chẳng mấy thành tâm. Tất cả những gì cần làm thì chính bạn có thể tự làm. Đừng nghĩ rằng sư, thầy cúng được đặc biệt chỉ định làm những việc nầy, hay họ là những thuật sĩ có thể làm được những việc mà bạn không thể làm. Bổn phận của những vị sư là truyền dạy Pháp, không phải là những lễ bái lố lăng, vô nghĩa, gạt gẫm thiên hạ. Nếu giảng dạy Pháp trong buổi tang lễ, như thế là sư đã làm tròn bổn phận của mình. Nhưng nếu ông ta không giảng thì buổi lễ không có giá trị, và cả cái mớ lễ nghi đó chỉ là thuật kiếm chác của thầy cúng mà thôi. Và nếu ta để cho những việc đó kéo dài, mà chẳng làm gì để chận đứng hay làm giảm đà đi xuống của tình trạng đó, thì có thể chẳng bao lâu nữa, ta phải làm ma chay cho chính Phật Giáo.

            Ta có hể làm gì bây giờ?

            Đây, một việc có thể làm là các sư, ni nên được yêu cầu và buộc phải giảng Pháp, chứ không được để cho yên thân, qua mặt với chỉ môt việc tụng kinh và làm những nghi thức mà thôi./

Đánh máy lại xong ngày 24 tháng 5/ 2014

hoànglonghải

 

 

Tác giả:

“Thượng Tọa Abhinyana,  quốc tịch Úc, sinh năm 1946 tại Anh, trong một gia đình gốc Tin Lành, bắt đầu tiếp xúc và tín hướng Phật pháp 1970 sau chuyến du lịch Ấn Độ. Ngài xuất gia 1972 tại Mã Lai trong truyền thống PG Thái Lan, và bắt đầu giảng dạy Phật pháp từ 1979. Suốt thập niên 1980, Ngài phát tâm qua ở hẳn để giúp đỡ các trại tỵ nạn Đông Nam Á, mà lâu nhất và nhiều nhất là 2 trại Palawan và Bataan ở Phi luật tân. Ngài sống đồng cam cộng khổ, xây chùa, hướng dẫn tu học, giảng dạy, bênh vực, giúp đỡ và tổ chức nhiều công tác cộng đồng, xã hội, cứu tế cho hàng chục ngàn đồng bào Việt-Miên và hàng trăm Tăng Ni Việt Nam tỵ nạn đến đây.
Trong 9 chuyến trở về ủy lạo nhiều chục ngàn đồng bào mới tỵ nạn đến trại ở khắp các nước Đông Nam Á từ 1985-1993, chúng tôi mấy lần trong các năm 1987, 1989 và 1991, đã được Ngài Abhinyana tiếp đón và tận tình giúp tổ chức các buổi thuyết giảng tại chùa Vạn Đức, tiếp xúc thẩm quyền Phi, UNHCR và các tôn giáo bạn, nhất là giúp tổ chức phân phát quà cứu trợ do Đồng hương Úc châu quyên tặng để Cơ Quan Cứu Tế Phật Giáo Úc châu do Tu Viện Vạn Hạnh điều hành, mang đến biếu tặng bà con tỵ nạn ở Palawan và Bataan, Philippines.
Khi làn sóng tỵ nạn bắt đầu giảm sút và chấm dứt, Ngài Abhinyana đi hoằng pháp khắp nơi trên thế giới, giữ liên lạc và được kính trọng quý mến nơi rất nhiều Tăng Ni Phật tử ở Âu, Mỹ và Úc châu. Ngài thường trở về Mã Lai và nhất là Úc (cha mẹ Ngài ở Adelaide) để thăm viếng và giảng dạy tại các chùa Việt ở Sydney, Canberra, Melbourne, vv…
Thượng Tọa Abhinyana viên tịch lúc 5am Thứ Hai 15/4/2008 tại tư gia của người chị ruột ở vùng Nampour ở Sunshine Coast, QLD, sau mấy tháng lâm bạo bệnh. 

(Tài liệu của Hòa Thượng Thích Quảng Ba, Úc)

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: