Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Quyền lợi – Thượng tọa Abhinyana

3Bạn có thấy chăng ngày nay, người ta nói quá nhiều chuyện lăng nhăng về vấn đề “Nhân Quyền”. Họ nói huênh hoang như điên về vấn đề đó như thể họ là những người khởi xướng vấn đề nầy vậy. Thường thường, những lời nói đó là khoác lác, không thực chất (một ngoại lệ là tổ chức có hoạt động tích cực được biết qua tên Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế, tổ chức nầy làm không biết bao nhiêu việc thiện và đôi khi, vì những việc làm nầy, họ bị những chế độ chuyên chế phản đối. Điều đó chứng tỏ tổ chức nầy đụng tới những vết nhơ mà người ta muốn giấu). Những kẻ (phun ra) diễn thuyết nhiều nhất, dĩ nhiên là những kẻ cảm thấy mất cái, – mà họ cho – là quyền lợi của họ. Nhưng người ta tự hỏi liệu họ có liến thoắng như vậy không, về “quyền lợi”, nếu họ ở địa vị quyền hành nào đó; hay trái lại, về điểm nầy, họ để cho yên chuyện, tựa như mắc chứng lãng trí vậy, hoặc giả đưa ra các lý do loanh quanh cốt giải thích cho sự thay đổi chế độ và ngần ngại chẳng làm gì để thi hành những lời phản kháng mà họ từng công bố trước kia? Lòng yêu nước của họ rỗng như thân tre, và thường là cái mẻ ngoài che đậy những động lực riêng tư bên trong mà thôi.

            Tôi không nói rằng không có những nhà ái quốc chân chính – tôi không hoàn toàn yếm thế – vì, dĩ nhiên, có những người như thánh (Mahatma) Gandhi hay Nathan Hale, nhà cách mạng Mỹ mà khi bị lính An bắt và bị kết án tử hình, đã nói rằng ông tiếc chỉ sống có môt mạng sống để hiến cho quê hương đất nước của mình.

            Quốc gia là một cái gì đó vĩ đại và có ý nghĩa nhiều hơn lá cờ. Lá cờ chỉ là một biểu tượng, mà biểu tượng, không bao giờ là vật được nó biểu tượng hóa. Cái lúc để mà ai đó tỏ lòng ái quốc là lúc người đó ở trong nước mình, trong khi nước còn được tự do. Đó là lúc xứ sở cần đến lòng yêu nước. Sau khi mất nước và đứng ở ngoài, mới tỏ lòng yêu nước thì dễ, nhưng lúc đó đã hơi trễ rồi. (tôi tự in đâm và gạch ở dưới – hlh). Sự thật không ai bác bỏ được là nạn tham nhũng tại Việt Nam đã hoành hành ngay cả trước khi Cộng Sản lấy miền Nam năm 1975 (từ đó nó trở nên trầm trọng hơn). Không ai có thể truy nguyên được cội nguồn của nạn tham nhũng đó, mặc dù ở trường hợp nào đi nữa, chiến tranh cũng làm băng hoại nền luân lý. Không nước nào cần hay muốn nạn tham nhũng cả. Nếu có nó (sẽ) làm hủy diệt nước đó (đi) mà thôi. Tham nhũng cứ lớn lên, có vẻ một cách rất tự nhiên, như cỏ dại mọc trong vườn không chăm sóc, như nấm mọc ở củi mục. Nhưng nếu ai yêu nước mình – một nhà ái quốc chân chính – thì cố gắng tránh tham nhũng, dù người đó, như những người khác thấy rằng tham nhũng là một cơ hội để làm giàu.

            Làm vinh danh tổ tiên mình không phải chỉ bằng cách đốt nhang trên bàn thờ thôi, mà còn bằng cách sống ngay thẳng, đáng kính trọng. Theo thiển ý, một nhà ái quốc chân chính không phải chỉ yêu quê hương nơi mình sinh trưởng mà thôi, nhưng còn tôn trọng các quốc gia khác nữa, bằng cách sống của mình như một con người. Thế Giới đã xích lại gần nhau hơn làm cho chủ nghĩa quốc gia cực đoan hẹp hòi không còn thích hợp nữa. Trong Thời Đại Không Gian nầy, ta cần cấp bách xem Thế Giới là một cái Toàn Thể thay vì bị phân chia bằng quá nhiều kiểu cách, trong số đó có nhiều cái nhân tạo, lỗi thời và nguy hiểm. Nhưng nhờ vào đi đây đó mà tôi đã có cơ hội nhìn Thế Giới dưới khía cạnh nầy, có được quan niệm nầy là một trong những điều may mắn cho tôi, tôi biết vậy.

            Riêng cá nhân tôi, tôi bác bỏ chủ nghĩa quốc gia, và những lá cờ duy nhất mà tôi nhận là lá cờ Phật Giáo và cờ Liên Hợp Quốc, vì tính cách quốc tế của chúng khi suy nghĩ tôi không nói “nước tôi đúng hay sai”, nhưng tôi dùng chữ “Thế Giới tôi”. “Hành động nói lên mạnh hơn lời nói.”  Trong cuốn “Đạo Đức Kinh”, chương 18, 19, Lão Tử nói vài điều thoạt nghe có vẻ chối tai:

                        “Đại Đạo mất mới có nhân nghĩa

                        Trí Huệ sanh, mới có dối trá

                        Lục thân chẳng hòa, mới có hiếu tử

                        Nước nhà rối loạn mới có tôi ngay

                        Dứt Thánh, bỏ Trí, dân lợi trăm phần

                        Dứt Nhân, bỏ Nghĩa, dân lợi thảo lành

                        Dứt Tài, bỏ Lộc, trăm họ được yên”

 

            Dĩ nhiên, Lão Tử không chống lại thực chất nhưng chống lại chủ nghĩa hình thức rỗng tuếch và lối nói dài dòng văn tự. Một cái tên không phải là một vật, mọi chữ đều là tỉnh từ và một tỉnh từ thì không bao giờ là cái vật mà nó diển tả. Chẳng hạn chữ “bánh” trong văn phạm được gọi là “danh từ” không thể ăn được. Chúng ta phải đi sâu hơn chứ không phải chỉ đơn giản với những cái tên, có hoặc ý niệm về nhân nghĩa, đạo đức, trí tuệ, trí thông minh, lòng hiếu thảo, tình thương, sự trung thành, lòng ái quốc, v.v… mà thôi. Chúng ta có quá nhiều ý niệm, quá nhiều triết lý, quá nhiều triết thuyết, quá nhiều hình thức và nghi thức rỗng tuếch, những thứ đã thoái hóa thành mê tín dị đoan, trói buộc tâm trí của những kẻ ngu dốt và cả tin. Ta đã làm đời sống trở thành phiền toái một cách không cần thiết, đã tự trói buộc (bằng những nút) mình lại và rồi ta thấy khó gở ra. Ta cho rằng ta phải có cái gì đó như ma thuật, huyền năng ở mỗi góc đường, hoặc sẽ có Phật, Bồ Tát ngồi trên mỗi đám mây, nhưng ta lại không thấy sự bình dị, vẻ đẹp cùng cái kỳ diệu của sự sống – thực ra là các phép mầu – ở khắp quanh ta.

            Nào, bây giờ các “nhà ái quốc” ạ – các người hãy la to về “cái nhân quyền” – hãy cho phép tôi thử lòng thành thực của các bạn. Các bạn đang làm gì để tỏ lòng yêu nước, tình thương và lòng biết ơn đối với đất nước mà mình đang sống, đất nước đang cưu mang chính đời sống, từng hơi thở của các bạn? Bạn có đem lòng yêu nước của mình áp dụng cho xứ sở nầy không, hay nó vẫn luôn luôn là những gì xa vời, hoặc thuộc về dĩ vãng, hoặc thuộc về tương lai, mà không khi nào thuộc về hiện tại? Nơi nầy là quê hương của các bạn, không phải sao? Hay các bạn không bao giờ xem nó như quê hương của mình? Thế thì bổn phận của các bạn đối với quê hương là gì? Các bạn hưởng những dịch vụ xã hội ở đây chỉ khi nào cần thôi hay chăng, hay cứ lấy bất cứ cái gì bạn có thể lấy, rồi cười to khoái trá vì hệ thống dại khờ đang cho các bạn quá nhiều và quá dễ dãi? Tại xứ sở nầy – Úc Đại Lợi – có rất nhiều cơ hội để theo đuổi chủ nghĩa vật chất và đi theo con đường của “Ngạ Quỷ”. Không ít người lảnh trợ cấp thất nghiệp rồi đi làm lậu, nghĩ rằng mình khôn lắm, đánh lừa được chính phủ và trở nên giàu có bằng mồ hôi nước mắt của những người đóng thuế. Dù ta có nghĩ thế nào đi nữa, thì những người ấy cũng không bao giờ được xem là người yêu nước, đối với nước Úc cũng như nước sinh đẻ của họ. Họ lạm dụng tính hiếu khách của đất nước nầy. Họ lạm dụng tính hiếu khách của đất nước nầy và những thứ quyền lợi mà họ được hưởng ở đây. Tổ tiên của họ sẽ xấu hổ vì họ, còn lâu họ mới hiểu rằng “kẻ trộm lấy mất của mình nhiều hơn là của người bị mất cắp”. Thế giới đang chìm như một chiếc thuyền chở khẳm, dưới sức nặng của những kẻ thiếu suy nghĩ và tham lam như vậy.

            Nếu ta cho rằng mình có những thứ “quyền” nào đó. – “Những quyền” có được do những người chúng ta không biết danh tánh đã đấu tranh đạt được để bạn và tôi có thể hưởng, – thì ta cũng phải công nhận rằng không chỉ có chúng ta thôi mà còn những người khác nữa cũng có “quyền” luôn. Nhưng ta có hiểu vậy để cư xử cho phải lẽ không? Hay ta cư xử như thể cả vũ trụ có mặt chỉ để phục vụ cho ta và để ta tùy nghi xử dụng? Về điểm nầy chưa kể các điểm khác, chúng ta hãy nghiền ngẫm đi, làm thế ta sẽ có lợi, chúng ta may mắn không thể tưởng tượng nỗi khi được ở đây, còn sống và được yên lành.

            Tôi xin nhắc lại, CHÚNG TA MAY MẮN KHÔNG THỂ TƯỞNG TƯỢNG NỖI KHI ĐƯỢC Ở ĐÂY, CÒN SỐNG VÀ ĐƯỢC YÊN LÀNH. Xương của không biết bao nhiêu ngàn người đã chôn thây dưới đáy biển kêu để chúng ta hiểu rằng ta đã được những gì ở đây và ĐỪNG BAO GIỜ QUÊN! Bạn không nghe tiếng kêu đó sao? Có hợp lý chăng nếu chúng ta cứ luôn luôn trông đợi có được “những quyền”, rồi phàn nàn trong khi những quyền đó không được dành cho ta.

            Dĩ nhiên, tôi tin tưởng rất mãnh liệt và việc đứng dậy tranh đấu cho cái gì mình nghĩ là đúng, là hợp lý. Nhưng tranh đấu cho quyền lợi của tôi à? Tại sao tôi dám cả nghĩ rằng tôi có quyền nầy quyền nọ? Cuộc đời thường tàn nhẫn vì tính không thiên vị của nó: Đã sinh ra đời ai có thể khỏi già, khỏi bệnh, khỏi khổ, khỏi chết? Ai đó có lần nói: “Đời là một căn bệnh chết người, không ai không chết cả.” Đối với Luật Thiên Nhiên ta có quyền gì? Luật người làm ra nay còn mai mất, và thường bị uốn cong bẻ quẹo để làm lợi cho những ai có thể mua bán nó hoặc cho những ai dính dáng đến những nơi có quyền cao chức trọng. Nhưng luật Thiên Nhiên, giống như trọng lực, thì kiên định, nó không ưu đãi riêng ai và cũng không thể hối lộ nó được. Một ngưòi giàu đi mưa cũng bị ướt như người nghèo. Của cải không làm anh ta tránh khỏi bị ướt. Hơn nữa, quan niệm “nhân quyền” như được long trọng viết trong Hiến Chương LHQ, tương đối mới mẻ, và rất mỏng manh yếu ớt, bị các chính phủ làm ngơ đi khi nào họ thấy thích hợp. Dĩ nhiên, quan niệm về nhân quyền là điều tuyệt vời, một điều ta phải bảo tồn, phát huy, nhưng đó chỉ là bước đầu và không có gì bảo đảm rằng nhân quyền sẽ được tôn trọng trên thực tế, chứ không phải trên giấy tờ thôi. Chúng ta chưa thoát khỏi những khó khăn đâu.

            Một vấn đề khác xuất hiện gần đây trên sân khấu thời sự quốc tế là phong trào Nữ Quyền. Có những lời kêu gọi “bình quyền với nam giới” và “cùng một việc làm thì  cùng một  mức lương”, mà những ai khác công bằng cũng đồng ý như vậy. Vài người còn đi xa hơn, bàn về việc “bình đẳng giữa hai phái”. Nhưng đó là lập luận vô lý, vì đàn bà không ngang hàng với đàn ông, chẳng khác nào đàn ông ngang hàng với đàn bà, và có ai ngu đến nỗi tưởng tượng họ bằng nhau, giống nhau? Cứ thử để một người đàn ông mang bầu và sanh con và xem chuyện gì xảy ra. Họ không bình đẳng và chưa từng bao giờ như thế, vì họ khác nhau ai cũng thể thấy rõ; bạn chẳng cần có bằng cấp về sinh lý cơ thể học mới biết. Hơn nữa, mỗi bên trông cậy lẫn nhau. Giống người sẽ tiếp tục tồn tại bao lâu đi nữa nếu chỉ gồm toàn phái nam hay toàn phái nữ, hoạc nếu cả hai thôi sinh sản?  Nếu vậy, nhiều lắm là 100 năm nữa, loài người sẽ hoàn toàn tuyệt chủng.

            Nhưng, dù không có sự bình đẳng trong Thiên Nhiên, nơi nào đã tạo ra các vật đa dạng và nhiều vẻ khác nhau, con người có thể cố áp dụng ý niệm bình đẳng vào sự giao tiếp với nhau. Trong quá trình lịch sử, phái nữ đã bị phái nam bạc đãi, đối xử bất công tàn nhẫn, chuyện nầy thường được tôn giáo đồng ý, tuy rằng ta không thể xem câu chuyện Adam-Eva trong Kinh Thánh đạo Do Thái Ki-Tô là hoàn toàn chịu trách nhiệm cho việc bạc đãi đó, bởi vì ngay cả đạo Phật, – mà theo tiêu chuẩn nào đi nữa, dẫu giữ kỷ lục là tôn giáo giác ngộ và khoan dung nhất trong lịch sử – cũng không phải là vô tội trong vấn đề nầy. Tôi chưa bao giờ hiểu được tại sao trong đạo Phật lại có sự kỳ thị đối với đàn bà, tại sao họ bị coi thua kém đàn ông. Tôi không tán thành các chuyện đó. Có lẽ một phần do văn hóa Ấn Độ mà đạo Phật chưa bao giờ thành công trong việc tách rời hoàn toàn khỏi văn hóa nầy. Vài năm trước, ở trại tỵ nạn Bataan bên PhịLuật-Tân, tôi thành công trong việc đoàn kết các Phật Tử Việt, Miên, Lào (ít ra cũng giữ được vậy trong thời gian rất ngắn) ngay trước mắt những nhà giáo tham tàn ở đó.

            Chúng tôi tổ chức một buổi lễ lớn và thành lập ủy ban hổn hợp Phật Giáo mà tôi được bầu làm chủ tịch vì tôi ở trại lâu hơn những người tị nạn, và cũng vì không thuộc vào ba nhóm dân đó. Cuối buổi lễ, các thành phần người Miên của ủy ban đến hỏi tôi là nếu cúng một số tiền nhỏ cho mỗi vị sư Lào, Miên, Việt đã đến dự lễ thì có được không? Tôi đáp được, miễn là quí vị cũng cúng cho các ni cô một số tiền bằng ấy.  (Có 2 ni cô Miên ở đó). “Ồ! Chúng tôi không có truyền thống cúng tiền cho ni-cô”. – “Này!” Tôi nói, “mấy ni cô cũng bỏ nhà bỏ cửa, bỏ gia đình đi tu, khác chi mấy sư? Truyền thống bắt đầu ở đâu đó, vậy chúng ta bắt đầu một truyền thống mới ngày hôm nay vậy.” Họ bèn bỏ đi, thảo luận vài phút, rồi trở lại nói với tôi: “Được rồi! Chúng tôi đồng ý.”

            Chúng ta rất thích ca những bài hát buồn và tình cảm nói về người Mẹ. Này, mẹ tôi là đàn bà, còn mẹ bạn thì sao? Tại sao đàn ông có những ý nghĩ quá lệch lạc về đàn bà? Một mặt, họ mê say đàn bà như điên; mặt khác, họ xem đàn bà như cọp, không thể tin cậy được. (Thật lạ, đây là lời lẽ một kinh Phật nào đó, nói thế về đàn bà). Thái đô của Thánh Paul trong Tân Ước đối với phụ nữ thì ta đã biết quá rồi, không cần bàn). Đôi khi, có một anh chàng phải lòng một cô nàng, anh không ăn ngủ được, cứ nghĩ đến cô ta hoài, và sẽ làm bất cứ điều gì để lấy được cô nàng. Nhưng nếu khi thỏa mãn được sự đòi hỏi của con tim rồi, thì tình của anh có còn dài lâu không? Ít khi! Tình anh sẽ phai lạt, trở thành một cái gì khác, và anh thường xem vợ như một món đồ mà anh sở hữu, nghĩ rằng vợ phải quị lụy, phục tùnh anh.

Tôi hoàn toàn ủng hộ niều điểm của Phong Trào Giải Phóng Phụ Nữ, như bình quyền, lương bằng nhau, công việc bằng nhau, v.v… Tôi muốn thấy có nhiều phụ nữ hơn tham gia chính quyền. Nhưng vốn là đệ tử của Đạo…, tôi không có việc các bà cố làm cho giống đàn ông là đúng, hay ngược lại, vì tôi nghĩ chẳng cần phải làm vậy, mỗi phái có vai trò riêng để chu toàn, bổ túc cho nhau – nên làm vậy vì đàn bà là đàn bà, đàn ông là đàn ông.

            Một trong những vỡ kịch, Shakespeare nói như sau: “Thành thực trước với bạn đi, rồi bạn sẽ thấy mình không thể không thành thực đối với bất cứ ai khác được.” Vậy, theo đó, ai lừa gạt người khác chỉ đang tự lừa gạt, tự dối phỉnh chính mình mà thôi. Vua, và cũng là triết gia Hy Lạp Marcus Ayrelius theo sách chép, có nói: “Ai làm điều gì xấu cho tôi hả? Đó là hắn làm điều xấu cho chính hắn.”

            Như thế, tôi rất ủng hộ Nhân Quyền, nhưng nếu ta có lý do trông đợi hưởng các quyền ấy, trước hết, phải sẵn sàng cho người khác cái quyền đó. Đơn giản, phải vậy không? Nhưng đó là điều chúng ta phải đem ra thực hành.

Đánh máy lại ngày 22 tháng 5/ 2014

hoànglonghải

 

 

Tác giả:

“Thượng Tọa Abhinyana,  quốc tịch Úc, sinh năm 1946 tại Anh, trong một gia đình gốc Tin Lành, bắt đầu tiếp xúc và tín hướng Phật pháp 1970 sau chuyến du lịch Ấn Độ. Ngài xuất gia 1972 tại Mã Lai trong truyền thống PG Thái Lan, và bắt đầu giảng dạy Phật pháp từ 1979. Suốt thập niên 1980, Ngài phát tâm qua ở hẳn để giúp đỡ các trại tỵ nạn Đông Nam Á, mà lâu nhất và nhiều nhất là 2 trại Palawan và Bataan ở Phi luật tân. Ngài sống đồng cam cộng khổ, xây chùa, hướng dẫn tu học, giảng dạy, bênh vực, giúp đỡ và tổ chức nhiều công tác cộng đồng, xã hội, cứu tế cho hàng chục ngàn đồng bào Việt-Miên và hàng trăm Tăng Ni Việt Nam tỵ nạn đến đây.
Trong 9 chuyến trở về ủy lạo nhiều chục ngàn đồng bào mới tỵ nạn đến trại ở khắp các nước Đông Nam Á từ 1985-1993, chúng tôi mấy lần trong các năm 1987, 1989 và 1991, đã được Ngài Abhinyana tiếp đón và tận tình giúp tổ chức các buổi thuyết giảng tại chùa Vạn Đức, tiếp xúc thẩm quyền Phi, UNHCR và các tôn giáo bạn, nhất là giúp tổ chức phân phát quà cứu trợ do Đồng hương Úc châu quyên tặng để Cơ Quan Cứu Tế Phật Giáo Úc châu do Tu Viện Vạn Hạnh điều hành, mang đến biếu tặng bà con tỵ nạn ở Palawan và Bataan, Philippines.
Khi làn sóng tỵ nạn bắt đầu giảm sút và chấm dứt, Ngài Abhinyana đi hoằng pháp khắp nơi trên thế giới, giữ liên lạc và được kính trọng quý mến nơi rất nhiều Tăng Ni Phật tử ở Âu, Mỹ và Úc châu. Ngài thường trở về Mã Lai và nhất là Úc (cha mẹ Ngài ở Adelaide) để thăm viếng và giảng dạy tại các chùa Việt ở Sydney, Canberra, Melbourne, vv…
Thượng Tọa Abhinyana viên tịch lúc 5am Thứ Hai 15/4/2008 tại tư gia của người chị ruột ở vùng Nampour ở Sunshine Coast, QLD, sau mấy tháng lâm bạo bệnh. 

(Tài liệu của Hòa Thượng Thích Quảng Ba, Úc)

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: