Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

SỰ THỰC VỀ KẾT QUẢ CỦA TRẬN MẬU THÂN – Bùi Anh Trinh

Trận tổng công kích năm Mậu Thân là tác phẩm do Nguyễn Chí Thanh biên soạn và Lê Duẫn là đạo diễn. Tuy nhiên kịch tác gia Nguyễn Chí Thanh đã được gợi ý bởi bà Nguyễn Thị Định, một nữ tướng nổi tiếng với chiến dịch nổi dậy tại Bến Tre năm 1960. Chính vì vậy mà tác phẩm được đặt tên là tổng tiến công, tổng nổi dậy.

Tổng nổi dậy: Nguyên tắc căn bản của chiến dịch là dân chúng sẽ nổi dậy cướp chính quyền nếu có sự xuất hiện của lực lượng vũ trang CSVN. Nguyễn Chí Thanh tin tưởng vào nguyên tắc này do bị tác động bởi bà Nguyễn Thị Định và các cán bộ cao cấp hiện diện tại Trung ương Cục Miền Nam.

Vì ở trên cao cho nên con mắt nhìn của Nguyễn Chí Thanh không thể nào thấu hiểu được tình cảnh hay tâm lý thực sự của những dân quân du kích Miền Nam Việt Nam. Trong khi đó bà Nguyễn Thị Định và các ông Mai Chí Thọ, Võ Văn Kiệt, Cao Đăng Chiếm, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Chí Công, Lê Đức Anh, Trần Bạch Đằng… không thể nào sống mãi cuộc đời lẫn trốn ở trên rừng.

Những người này cũng không muốn ra Miền Bắc bởi vì những cán bộ hồi kết đã cho họ biết sự thật tại Miền Bắc khắc nghiệt như thế nào. Vậy họ chỉ còn một nước là thúc Hà Nội đưa quân vào đánh chiếm Miền Nam, và họ sẽ hỗ trợ cho Hà Nội bằng cách vận động quần chúng nổi dây. Theo như sự khẳng định của họ thì thời cơ đã chín muồi.

Về phần Lê Duẩn thì bị tác động bởi khí thế của những chiến dịch nổi tiếng như chiến dịch Đồng Khởi tại Bến Tre, trận Tua Hai ở Tây Ninh, trận Ấp Bắc, trận Bình Giả, trận Ba Gia… và nhất là bức thư cầu hòa của Tổng thống Johnson ngày 8-2-1967. Chính bức thư này là một bằng chứng xác thực nhất về hiệu quả chiến đấu của quân du kích CSVN.

Rõ ràng là quân Mỹ đã thua mặc dầu Liên Xô và Trung Quốc chưa viện trợ vũ khí tối tân cho CSVN. Chỉ có súng AK không thôi mà họ đã buộc Tổng thống Hoa Kỳ phải xuống nước cầu hòa, vậy thì một khi có vũ khí chống tăng và chống máy bay thì chắc chắn quân du kích Miền Nam sẽ chiến thắng. Niềm tin chiến thắng mạnh đến nổi Lê Duẩn đích thân điều binh khiển tướng, gạt tay bợm đời Võ Nguyên Giáp qua một bên. Đối với Lê Duẩn thì VNG thực sự chẳng có tài cán gì cho nên có ông ta tham dự vào càng thêm rối việc.

Nhưng Lê Duẩn quên một điều là ông ta và cả tướng Tổng tham mưu trưởng là Văn Tiến Dũng chưa qua một trường lớp quân sự nào cho nên các ông không đủ kiến thức để thẩm định hay hoạch định chiến tranh. Chiến tranh du kích chỉ cần kinh nghiệm trên địa thế của địa bàn hoạt động của một địa phương nào đó.

Nhưng chiến tranh trên toàn quốc; chống lại máy bay, pháo binh, xe tăng và các đại đơn vị Bộ binh thì không tài nào áp dụng kinh nghiệm hoạt động du kích. Thế mà Lê Duẩn đã quyết định đưa du kích quân ra chọi với đại đơn vị Bộ binh và đại bác, máy bay, xe tăng vào ban ngày thì chẳng khác nào xua chuột đi bắt voi:

Thứ nhất là quân số quá ít so với quân số đối phương. Thứ hai vũ khí quá thô sơ so với vũ khí của đối phương. Thứ ba hệ thống vận chuyển và liên lạc không bì một góc của đối phương. Thứ tư hệ thống tình báo chiến thuật của các cơ sở nằm vùng là con số không bởi vì những người cho tin chẳng hiểu gì về hoạt động quân sự . Thứ năm địa bàn đánh nhau là thành phố, quân CSVN tránh cho khỏi bị đi lạc là may lắm rồi. Cuối cùng là dân chúng thấy quân CSVN ở đâu thì họ đều chỉ cho quân đội.

Ngoại trừ Huế, trong vòng 1 tuần lễ quân đội VNCH đã dẹp xong toàn bộ lực lượng vũ trang của CSVN. Điều này chứng minh được rằng thực lực quân CSVN chẳng có bao nhiêu so với các con số đang nằm trên các bàn giấy tại Ngũ Giác Đài. Hồi ký của Tướng Lê Đức Anh, Đăng Vũ Hiệp và Mai Chí Thọ cho thấy CSVN đã dốc hết toàn lực để tung vào trận đánh bất ngờ này nhưng phản ứng của phía VNCH cho thấy họ đã dập tắt cuộc tổng công kích một cách dễ dàng mà chỉ cần điều động 1/7 lực lượng hiện có, cọng với sự can thiệp của 1/20 lực lượng Hoa Kỳ và Đồng minh.

Sai lầm của chúng ta : Hồi ký của Đại tướng Công an Mai Chí Thọ đã dành một chương nói về hậu quả của trận Mậu Thân với tiêu đề: “Cái giá phải trả do sai lầm chủ quan của chúng ta sau trận Mậu Thân 1968”. Trong đó ông viết : “Sau Mậu Thân, địch phản kích dữ dội khiến lực lượng ta bị tiêu hao nhiều. Lực lượng võ trang mà ta đã bí mật mai phục ở Miền Đông Nam bộ sau Hiệp định Geneve ( Cũng là lực lượng chủ lực đánh trận Tua Hai ), trong chiến tranh chống Mỹ, phát triển thành Trung đoàn chủ lực của Miền Đông Nam bộ, đã bị tiêu hao gần hết trong và sau Mậu Thân. Có thể nói đây là đơn vị chủ lực đầu tiên của Nam bộ trong kháng chiến chống Mỹ…”.

Đoạn này cho thấy thực tế trước Mậu Thân quân CSVN tại chiến trường B.2 (Miền Đông Nam Bộ) chỉ có 2 Trung đoàn ( Khoảng 5.000 người ). Hai trung đoàn này xuất thân từ 225 tay súng đánh trân Tua Hai vào năm 1960 và cả hai trung đoàn đã bị tiêu diệt trong trận Tổng công kích đợt 1.

Thế nhưng theo ghi nhận của CIA và Phòng tình báo của MACV thì quân số của CSVN tại B.2 là 3 sư đoàn, gồm có Sư đoàn 5, Sư đoàn 7, và sư đoàn 9 (khoảng 30.000 người).

Quyển sách lịch sử “Quân Khu 9, 30 Năm Kháng Chiến” do nhà xuất bản Quân đội Nhân dân xuất bản ghi lại tình hình tại riêng Quân khu 9 sau trận Mậu Thận:

“Sau Mậu Thân 1968, Quân khu 9 cũng như toàn chiến trường Miền Nam giành được thắng lợi lớn (sic); song, do ta chuyển hướng không kịp, nhất là các tỉnh vùng trung tâm sông Hậu, nên chủ lực và địa phương tổn thất nặng nề. Mội tiểu đoàn xuất quân chiến đấu đông tới bốn, năm trăm người, đến lúc rút ra củng cố, tổ chức lại chỉ còn không đầy một trăm. Có tiểu đoàn khi đi vào tiến công đô thị trên hai trăm xuồng, khi trở về chỉ còn lẻ tẻ vài chục xuồng, mỗi xuồng vài ba người…

Từ sau đợt 2 Mậu Thân 1968, khi ta không còn yếu tố bí mật bất ngờ, đã bộc lộ hết lực lượng, còn quân địch thì đã trấn tỉnh lại và nó đã chuyển hướng chiến lược, tiến hành phản kích và bình định…Đến cuối năm 1969, địch đã bình định lấn chiếm gần hết vùng giải phóng trước đây, chỉ còn căn cứ U Minh và khu giải phóng Nam Cà Mau…

Cả khu 9 có 50 xã (trong số 250 xã) đảng viên bỏ chạy ra khỏi địa bàn xã; 40 xã mỗi xã chỉ có 1,2 đảng viên, không có chi bộ. Đầu năm 1968 lực lượng du kích xã, ấp toàn Khu có 45.000. Đến cuối 1969 chỉ còn 6.500 người.

Tỉnh Cà Mau có 13 xã giải phóng nhưng chỉ thu được có 7 tân binh bổ sung cho bộ đội chủ lực Khu, 6 người bổ xung cho bộ đội Huyện. Trong khi đó toàn khu (Chưa tính Vĩnh Trà) có 12.000 chiến sĩ bỏ ngũ về nhà. Còn ở Vĩnh Trà tình hình cũng tương tự như vậy…”.

Đây là bằng chứng đáng tin cậy nhất về thực trạng của quân đội CSVN sau trận Mậu Thân. Thế nhưng buồn cười là phía Hoa Kỳ lại cho rằng sau trận Mậu Thân quân đội Cọng sản đã chiến thắng oanh liệt và họ đang lừng lên, sắp sửa giáng cho quân đội Hoa Kỳ một trận Điện Biên Phủ thứ hai tại Khe Sanh (sic).

Nghị quyết 21/Ban chấp hành Trung ương Đảng: Năm năm sau trận Mậu Thân, và sau khi Hiệp định Paris được ký kết, Trung ương Đảng CSVN có đủ bình tâm ngồi đánh giá lại kết quả của cuộc tổng công kích và ghi vào Nghị quyết 21/BCHTU ngày 13-10-1973 :

“Qua đợt tiến công nổi dậy 68, cả thế và lực của ta bị tổn thất nghiêm trọng. Lực lượng vũ trang nói chung, lực lượng đặc công biệt động nói riêng thiệt hại nặng nề.

Lực lượng chính trị quần chúng bị địch phát hiện và thẳng tay đàn áp. Nhiều chi bộ, cấp ủy, đoàn thể quần chúng cách mạng ở vùng tạm chiếm, vùng tranh chấp bị phá vỡ. Các vùng giải phóng rộng lớn ở nông thôn bị thu hẹp dần.

Thế trận chiến tranh nhân dân 3 vùng chiến lược bị suy giảm. Mất dần bàn đạp tấn công, chỗ đứng chân cũng thu hẹp dần, nhiều đơn vị lực lượng vũ trang địa phương cũng như chủ lực, các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy các mặt trận, các địa phương phải cơ động lên biên giới, sang đất bạn tạm trú đóng quân, xốc lại đội hình, bổ sung người, vũ khí tiếp tục chiến đấu.

Nguyên nhân của tình trạng nói trên là do ta “Chủ quan trong đánh giá tình hình, nên đã đề ra yêu cầu chưa sát với tình hình thực tế”.

Và 28 năm sau, tài liệu “Tổng Kết Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước” phát hành tại Hà Nội năm 1996 ghi nhận : “ Sau đợt Tổng tiến công Tết ta không kịp thời rút kinh nghiệm, chậm chuyển hướng và không thấy hết được những âm mưu thủ đoạn mới của địch; trong khi chủ lực ta bị đẩy xa các thành phố, thị xã, các bàn đạp tấn công bị mất, lực lượng, vũ khí, trang bị kỹ thuật, lương thực, thực phẩm và thuốc men bị tiêu hao nhiều chưa được bổ sung, sức chiến đấu của bộ đội giảm sút.

Cho đến những tháng cuối 68, đầu 69, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân ta ở Miền Nam đứng trước một tình thế đầy thử thách phức tạp và chồng chất khó khăn. Trước sự đánh phá khốc liệt của kẻ thù cùng những thủ đoạn nham hiểm trong hoạt động tình báo, gián điệp, một bộ phận cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, cán bộ đảng viên cơ sở ở địa phương lâm vào tình cảnh hoang mang dao động, dẫn đến bỏ ngũ. Một số khác bị mua chuộc ra đầu hàng, đầu thú, chấp nhận làm tay sai cho địch.

Tình hình đó càng làm cho phong trào đấu tranh trên toàn Miền chẳng những không phát triển được mà ngược lại càng sa sút. Tình trạng mất dân, mất đất đã diễn ra ở nhiều nơi, vùng giải phóng và vùng tranh chấp bị thu hẹp. Do mất dân, mất đất nên lực lượng vũ trang không những không duy trì được thế đứng chân mà quân số nhiều đơn vị ngày một giảm dần, việc bổ sung quân số, vũ khí, đảm bảo hậu cần trở nên cực kỳ khó khăn”.

Hồi ký của tướng CSVN Đặng Vũ Hiệp ghi lại : “Quân và dân Tây Nguyên bước vào năm 1969 gặp muôn vàn khó khăn, có lúc tưởng chừng không thể khắc phục được, nhất là lương thực. Trong quyển sổ công tác số 16 của tôi còn ghi lại, toàn chiến trường vào thời điểm tháng 2 năm 1969 số gạo dự trữ chỉ còn khoảng 40 tấn. Nguy cơ thiếu đói là không thể tránh khỏi đối với cán bộ, chiến sĩ Tây Nguyên” (trang 273). Lúc này lực lượng của quân CSVN tại Tây Nguyên là 1 sư đoàn ( khoảng 10.000 người ), 40 tấn gạo chỉ đủ ăn trong 7 ngày.

Và hồi ức của ông Võ Văn Kiệt được nhà báo Huy Đức ghi lại : “Trong Chiến dịch Mậu Thân, ông Võ Văn Kiệt ở Sở chỉ huy Tiền Phương, vào sát cửa ngõ Sài Gòn. Tiền phương của Sài Gòn cũng nhận được những lệnh liên tiếp tập kích vào đô thị để “giành thắng lợi tối đa”. Mậu Thân quả là đã gây được những tiếng vang chính trị trong lòng nước Mỹ, nhưng những người trực tiếp ở chiến trường như ông đã phải chứng kiến sự hy sinh quá lớn. Ông nói: “Lúc đó tôi đau đến mức nhiều lần bật khóc”. Hơn 11 vạn quân giải phóng đã hy sinh trên toàn chiến trường. Phần lớn căn cứ địa Quân Giải phóng ở nông thôn đã trở thành “đất trắng” ( Huy Đức, Hiện tượng Võ Văn Kiệt , chương 1 ).

Theo thống kê của quân đội VNCH căn cứ theo lời khai của các tù binh trên 34 mặt trận xảy ra trên toàn quốc thì toàn bộ quân CSVN trước khi tham gia trận chiến là 85.000 quân, không kể 1 sư đoàn chính quy tại Tây Nguyên và 2 sư đoàn tại Khe Sanh. Như vậy con số hơn 11 vạn của ông Võ Văn Kiệt có nghĩa là quân CSVN đã hoàn toàn chết hết.

Theo hồi ký của Đại tướng Lê Đức Anh thì sau Mậu Thân lực lượng còn lại khoảng 60 người, được ông dẫn chạy lòng vòng khắp các tỉnh Nam Bộ. Trong khi đó 500 ngàn quân HK và 350 ngàn quân VNCH còn y nguyên nhưng lại co về thủ giữ các thành phố và tính chuyện tháo chạy về nước.

BÙI ANH TRINH

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: