Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

CHUYỆN HỒ CHÍ MINH CƯỚI NGUYỄN THỊ MINH KHAI – Bùi Anh Trinh

1Giải mã những bí ẩn của Nguyễn Tất Thành

Bài 13: CHUYỆN HỒ CHÍ MINH CƯỚI NGUYỄN THỊ MINH KHAI

Trích sách “Chuyện nước non đau lòng tới nghìn năm” của Bùi Anh Trinh do Làng Văn phát hành năm 2008 :

Sự thật về chuyện Hồ Chí Minh cưới Nguyễn Thị Minh Khai

Tất cả mọi tin đồn về chuyện ông Hồ Chí Minh có thời sống chung với bà Nguyễn Thị Minh Khai đều khởi đầu từ bài viết của bà Quin Judge đăng trên Website của trường Đại học Yale Hoa Kỳ năm 1994. Sau đó ông Bùi Tín xin phép dịch lại một đoạn nói về chuyện bà NTMK và xuất bản thành cuốn sách “Về Ba Ông Thánh” năm 1995. Sau đó các nhà nghiên cứu sử Việt Nam cứ căn cứ vào “Về Ba Ông Thánh” để làm tài liệu dẫn chứng mỗi khi nhắc tới chuyện tình ái của ông Hồ Chí Minh.

Năm 1992, sử gia Quinn Judge đang làm việc tại Mạc Tư Khoa. Năm đó các tài liệu mật của tổ chức Đệ Tam Quốc Tế Cọng sản (CSQT) được đưa ra công chúng. Sở dĩ bà Quinn Judge chú ý tới tài liệu nói về CSVN vì trước năm 1975 bà và chồng phục vụ trong ngành báo chí quốc tế tại Sài Gòn. Khi đọc hồ sơ lưu trữ về ĐCSVN, có 3 tài liệu đề cập tới một người phụ nữ khiến cho Quinn Judge quan tâm:

(1) – Hồ sơ RC 495,154,569: Một lá thư đề ngày 12-1-1931 của Cục Viễn Đông/ CSQT ở Thượng Hải, yêu cầu ông Nguyễn Ái Kvak báo trước 2 tháng ngày làm đám cưới của ông. Để tìm hiểu thêm về lá thư này, bà Quinn Judge đối chiếu với một bức thư khác của ông NAQ được lưu trữ tại Văn khố Quốc gia Pháp, hồ sơ mang số AOM.SPCE 367, đây là thư của ông Nguyễn Ái Kvak gửi cho Cục Viễn Đông vào ngày 12-2-1931, trong thư có nói vợ ông đang bận đón tết Nguyên Đán và đón khách từ Sài Gòn, Hà Nội.

(2) – Hồ sơ RC 495,154,688: Một bức điện của Hà Huy Tập tại Hồng Kông, ngày 31-3-1935, báo cáo cho Mạc Tư Khoa danh sách 6 đại biểu tham dự đại hội 7 Cọng Sản Quốc tế, gồm có Litvanop, Quốc, Cao Bang, vợ Quốc, một cán bộ đến từ Nam kỳ và một cán bộ đến từ Lào

(3) – Hồ sơ RC 495,201,35: Một phiếu khai lý lịch của Nguyễn Thị Minh Khai, cô viết tên “Lin” trong dấu ngoặc, gần cột chữ “Đã lập gia đình”. Phiếu này được điền vào ngày 14-12-1934, lúc cô vừa mới tới Mạc Tư Khoa để tham dự đại hội 7 CSQT vào cuối năm 1934.

Về hồ sơ RC 495,154,569:

Sau khi thấy có dấu hiệu có một đám cưới giữa Nguyễn Ái Kvak và một người phụ nữ vào đầu năm 1931, bà Quinn Judge truy tìm tài liệu nói về những người cùng hoạt động xung quanh ông Nguyễn Tất Thành thời bấy giờ, nhưng bà chỉ tìm được một quyển tiểu thuyết nhan đề là “Chị Minh Khai” của nhà văn nữ Nguyệt Tú, do Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội, phát hành năm 1976. Nguyệt Tú tưởng tượng Minh Khai gặp ông Hồ tại Hồng Kông, cùng làm việc với ông vào khoảng đầu năm 1931 và được ông hướng dẫn về tư tưởng chính trị. Tuy nhiên Nguyệt Tú không ngờ rằng đầu năm 1931 Nguyễn Thị Minh Khai đang còn ở Việt Nam và nằm trong tù.

Bộ Việt Sử Tân Biên của Phạm Văn Sơn, xuất bản tại Sài Gòn năm 1972, quyển 7, trang 161 cho thấy: Ngày 30 tháng 5 năm 1929 Bí thư Tỉnh ủy Hải Phòng của VNTNCMĐCH là Nguyễn Đức Cảnh hội cùng 2 tỉnh ủy viên là Nguyễn Thị Vịnh (Minh Khai), Nguyễn Tường Loan quyết định đưa hai cô gái tên Uyển và Nhu sang Trung Hoa để khỏi phải làm chỉ điểm cho mật thám Pháp. Hai cô này được chánh mật thám Pháp tại Hà Nội bảo phải tìm những người hoạt động cách mạng mà đưa thư dụ hàng Nguyễn Thái Học. Nếu hai cô hoàn thành nhiệm vụ thì sẽ tha anh của hai cô là Trịnh Đình Chiêm đang bị giam vì tội tham gia hội kín. Tuy nhiên hai cô không tìm được Cô Giang nên mới hỏi thăm lần hồi thì được chỉ tới Cả Sâm tức Mai Ngọc Thiệu là bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ của TNCMĐCH.

Khi biết được công tác của 2 cô, Mai Ngọc Thiệu sợ mật thám Pháp phăng ra tổ chức của các ông nên mới tính chuyện nhẹm đường giây bằng cách thuyết phục hai cô sang Tàu hoạt động cách mạng để bảo toàn bí mật của tổ chức và không mang tội phản quốc. Hai cô chấp thuận theo Đỗ Ngọc Du xuống Hải Phòng để được chi bộ Hải Phòng đưa sang Trung Hoa. Nhưng không ngờ cũng đêm đó thì đám đại biểu Bắc Kỳ đi dự hội nghị Hồng Kông bất mãn trở về, đó là Ngô Gia Tự, Trần Văn Cung, Kim Tôn. Vì vừa cải nhau với Lâm Đức Thụ và Lê Tán Anh mà các ông bỏ về và quyết định ly khai với Bộ chỉ huy Đảng tại Trung Hoa nên cho biết chuyện gởi gắm người qua đó thì không xong.

Để khỏi bị lộ tổ chức, Đổ Ngọc Du đề nghị thủ tiêu hai cô, giao cho Hồ Ngọc Lân thi hành. Tuy nhiên cô Uyển chết, cô Nhu chỉ bị gẩy chân. Cảnh sát Pháp điều tra, bắt Nguyễn Đức Cảnh tháng 4 năm 1931. Tháng 6 năm 1931 bắt Dương Hạc Đính và Đỗ Ngọc Du, còn Nguyễn Thị Vịnh và Lê Thị Chắt là vợ Đỗ Ngọc Du cũng bị bắt ( Không nói rõ là lúc nào nhưng trong phiếu khai lý lịch của Nguyễn Thị Minh Khai còn lưu trữ tại Mạc Tư Khoa thì bà có 1 lần ở tù và thời gian là 1 năm. Suy ra ngày bị bắt là cuối năm 1930 ).

Tháng 12 năm 1931, hội đồng đề hình do Bouchet chủ tọa tuyên án Nguyễn Đức Cảnh, Hồ Ngọc Lân tử hình; Đỗ Ngọc Du, Dương Hạc Đính khổ sai chung thân; Nguyễn Thị Vịnh và Lê Thị Chắt phát lưu chung thân ( Bị chỉ định cư trú tại địa phương vắng vẻ, thường là vùng biên giới ) .

Như vậy hồ sơ RC.495 và hồ sơ AOM, SPCE 367 nói về cuộc hôn nhân của ông Nguyễn Tất Thành vào đầu năm 1931 là nói về Lý Ứng Thuận chứ không phải Minh Khai. Chỉ cần xem lại hồ sơ vụ xử án Dương Hạc Đính, Nguyễn Đức Cảnh và Đỗ Ngọc Du còn lư trữ tại Văn khố Pháp thì xác nhận được rằng lúc đó Minh Khai đang ở trong tù.

Vì không rõ các chi tiết hoạt động của Minh Khai nên bà Quinn Judge đành dựa theo tiểu thuyết của bà Nguyệt Tú mà tưởng tượng ra người vợ của ông Hồ là Minh Khai, Quinn Judge viết :

“Vào năm 1930 bà được cử đi công tác tại cảng Hải Phòng và sau đó được gởi đi Hồng Kông để phụ tá cho ông Hồ. Một tiểu sử bán hư cấu xuất bản tại Hà Nội lại nhấn mạnh đến sự kiện bà đã được ông Hồ tự tay huấn luyện về chủ nghĩa Cọng sản trong khi bà đang sống tại bộ chỉ huy của Đảng. Đồng chí Lý Thụy, mà các đồng chí Việt Nam lúc bấy giờ đều biết, thường xuyên đến văn phòng Bộ chỉ Huy lúc 6 giờ sáng. Lúc nào không bận lắm, ông Hồ thường bỏ ra 1 tiếng đồng hồ để thảo luận với hai học viên trẻ tuổi, bà Minh Khai và một phụ nữ trẻ từ Thái Lan đến”. (Nhật Nam dịch).

Đây là đoạn Nguyệt Tú gới thiệu sơ về khung cảnh mà ông Hồ gặp cô Nguyễn. Một khung cảnh tưởng tượng 100% lại được bà Quinn Judge ghi nhận là một “tiểu sử bán hư cấu”, tức là chuyện có thật 50%. Theo nguyên tắc cơ bản của ngành điều tra thì “Một nửa ổ bánh mì là bánh mì. Nhưng một nửa sự thật không phải là sự thật”.

Tài liệu sưu tầm của chính Quinn Judge cho thấy bộ chỉ huy Đảng chỉ có sau khi Trần Phú thành lập vào tháng 10 năm 1930. Đại hội thành lập Đảng và bầu ban chấp hành nhưng không có Nguyễn Tất Thành mặc dầu lúc đó ông ta có mặt tại Hồng Kông. Chứng tỏ ông không có trong bộ chỉ huy Đảng và sau đó thì ông cũng không làm việc trong BCH Đảng của Trần Phú.

Từ đầu truyện bà Nguyệt Tú đã thận trọng bàn với người đọc rằng mặc dầu Bác Hồ lớn tuổi hơn Minh Khai rất nhiều nhưng lúc đó Bác mới 40 tuổi nên theo lẽ thường thì Minh Khai chỉ gọi bằng anh. Rồi bà xin phép cho nhân vật Minh Khai trong truyện được kêu “Bác” bằng “anh Lý Thụy”.

Và rồi nếu cứ tiếp tục theo cái đà “tiểu sử bán hư cấu” của Nguyệt Tú thì người ta sẽ có được một ông Hồ già đáng bậc cha (hơn NTMK 20 tuổi) tận tình chỉ bảo cho 2 cô con gái về con đường cách mạng và đạo đức cách mạng. Sau đó cô gái Minh Khai gặp chàng trai lý tưởng Lê Hồng Phong, hai người tỏ tình với nhau trên chuyến tàu cùng nhau sang Nga năm 1934 và họ làm lễ kết hôn tại Mạc Tư Khoa, v.v…

Thế nhưng bà Quinn Judge lại không chấp nhận tiếp cái đoạn sau như thế. Bà lại lái “tiểu sử bán hư cấu” của Nguyệt Tú thành ra “toàn hư cấu” theo ý bà. Bà viết tiếp:

“Trước cuối năm, ông Hồ giao nhiệm vụ cho bà Minh Khai làm liên lạc giữa ông và đảng Cọng sản Trung Quốc. Loại công tác này hiển nhiên là rất bí mật, và ta có thể phỏng đoán rằng ông Hồ đã chỉ chọn những đồng chí trẻ tuổi và trung thành với riêng ông”.

Đây là đoạn do bà Quinn Judge nghĩ ra chứ trong truyện của Nguyệt Tú không có. Trên thực tế có rất nhiều liên lạc viên làm việc trên đường giây giao liên từ Hồng Kông tỏa đi các nơi. Trong số đó có 3 liên lạc viên có liên quan đến ĐCSĐD và bị bắt là Trương Văn Lệnh, Nguyễn Thái và Hồ Lan Sơn. Còn về phần Minh Khai thì năm 1930 đang còn ở Việt Nam và cuối năm đó bị bắt giam tại Hải Phòng cho tới khi ra tòa vào tháng 12-1931, nên không thể nào làm giao liên cho ông Hồ được bởi vì ông Hồ đã bị bắt từ tháng 6 năm 1931 và sau khi ra khỏi tù thì về Nga.

Rồi tiếp theo, bà Quinn Judge viết phần kết thúc: “Liền sau đó, hình như ông Hồ bắt đầu có những tình cảm lãng mạn…”(!?). Sử gia đã tự viết tiếp một đoạn văn tưởng tượng của người khác bằng chính tưởng tượng của mình. Nhưng bà lại trình nó ra trước công chúng như là một công trình khám phá lịch sử của một nhà nghiên cứu sử học(!).

Các đoạn văn trên đây của bà Quinn Judge được trích trong bài viết “Ho Chi Minh : New Perpective From The Comintern Files”, đăng trên “The Viet Nam Forum 14” của trường Đại học Yale năm 1994.

Quinn Judge đoan quyết rằng trong cả hai bức thư vào tháng 1 và tháng 2 người ta đều dùng bạch văn chứ không phải là văn mật mã cho nên chắc chắn thực sự ông HCM có lấy vợ vào khoảng tháng 1-1931 và rồi đến tháng 2-1931 thì vợ của ông bận dọn dẹp nhà cửa để đón tết và đón khách từ Việt Nam.

Tuy nhiên, nếu đối chiếu lại với các tài liệu được sưu tập vào thời kỳ sau tết 1931 thì không có một tài liệu nào khác có liên quan đến người vợ cùng đón tết với ông Quốc. Rồi sau tết 3 tháng thì ông Quốc bị bắt tại nhà riêng vào ban đêm, trong nhà lúc đó chỉ có cô Lý Ứng Thuận, cô khai là cháu của ông Tống Văn Sơ (NTT).

Trong biên bản của Cảnh sát Hồng Kông còn lưu giữ tại Văn Khố Quốc gia Hoa Kỳ thì sau khi ông Tống Văn Sơ và cô Lý Ứng Thuận bị bắt thì nhà ông Sơ bị niêm phong, chứng tỏ vợ của ông không sinh sống tại đó. Hoặc nếu quả thực ông đang sống với vợ thì người vợ đó phải là Ứng Thuận chứ không còn ai khác.

Biên bản của cảnh sát Hồng Kông hiện nay được lưu trữ tại văn khố Quốc gia Hoa Kỳ. Sử gia William Duiker là người phát hiện ra hồ sơ này năm 1990, sau đó ông đối chiếu với tài liệu của CSQT tại Mạc Tư Khoa (1992), rồi đối chiếu với bài viết của bà Quin Judge trên website của Đại học Yale (1994). Nhưng cuối cùng ông vẫn viết trong tác phẩm của ông rằng Nguyễn Ái Kvak có làm đơn xin cưới Nguyễn Thị Minh Khai vào đầu năm 1931 nhưng chưa kịp cưới thì bị bắt, sau đó Minh Khai lấy Lê Hồng Phong. Điều này chứng tỏ Duiker không chấp nhận lập thuyết của bà Quinn Judge về chuyện Minh Khai đã có cưới Nguyễn Ái Kvak.

Về hồ sơ RC 495,154,668:

Về bức điện Hà Huy Tập báo danh sách tham dự đại hội 7. Bà Qiunn Judge viết: “Một lá thư của Cục Hải Ngoại tại Hồng Kông ( Hà Huy Tập), lá thư xác nhận rằng đại biểu được chọn để tham dự Đai hội khoáng đại CSQT lần 7 gồm có: Livinop (Lê Hồng Phong), Quốc, Cao Bang (Hoàng Văn Nọn), Vợ Quốc và 2 cán bộ từ Nam Kỳ và Lào. Vì bà Minh Khai là đại biểu phái nữ duy nhất của Việt Nam tham dự đại hội, hẵn bà là người được nói đến như “Vợ Quốc”.

Lá thư được viết vào ngày 31-3-1935 là ngày bế mạc Đại hội toàn quốc lần thứ 1 của ĐCSĐD tại Ma Cao. Theo như tinh thần của bức thư thì Hà Huy Tập và Mạc Tư Khoa đều biết rõ “vợ Quốc” là ai. Thế nhưng trong bản khai lý lịch của Nguyễn Ái Kvak trước đó 5 tháng thì ông ghi rằng ông không có vợ, và 3 năm sau, trước khi rời Mạc Tư Khoa, ông cũng khai trong tờ khai lý lịch là không có vợ. Vậy thì những người từng biết vợ Quốc là ai sẽ nghĩ sao về các lời khai của ông ta? Cơ quan an ninh của Stalin thời đó đâu có phải là một cơ quan tồi đến nổi ông Quốc có thể đùa với họ?

Hơn nữa, khi Hà Huy Tập gửi bức điện thì Nguyễn Tất Thành, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai và Hoàng Văn Nọn, tức Cao Bang, đang ở tại Mạc Tư Khoa. Cả 4 người đã chính thức là đại biểu của ĐCSĐD chờ tham dự đại hội, không cần Hà Huy Tập đánh điện đề cử. Và sau đó thì chỉ có 3 người tham dự đại hội, riêng ông Thành bị loại vì một bức thư tố cáo sau đó của Hà Huy Tập, chứng tỏ danh sách tham dự đại hội mà Hà Huy Tập nêu trong bức điện hoàn toàn không có ứng dụng.

Rất có thể đây chỉ là một bức thư của Hà Huy Tập chuyển riêng cho Lê Hồng Phong đang ở tại Mạc Tư Khoa bằng hệ thống chuyển điện của CSQT mà chỉ có hai ông hiểu với nhau. Rồi vô tình bản sao của thư này được xếp vào trong đống hồ sơ lưu trữ của CSQT.

Đáng tiếc là sử gia Quinn Judge khẳng định ngay đó là một bức điện thật và “vợ Quốc” phải là một nhân vật có thật rồi bà đi kiếm người mà điền vào cho nó vừa với cái sự thật đó. Đặt giả dụ rằng việc đó có thật đi nữa thì thời đó có hằng triệu người tại Trung Hoa có thể là vợ của Quốc, vợ thật cũng như vợ giả; nhưng không hiểu vì sao Quinn Judge cứ chọn Nguyễn Thị Minh Khai (?!)

Về hồ sơ RC 495,201,35 :

Năm 1992 bà Quinn Judge tìm thấy một phiếu kê khai lý lịch của NTMK khi mới đến Mạc Tư Khoa, để tham dự đại hội 7, có ghi chữ (Lin) bên cạnh cột chữ “đã lập gia đình” (Married). Bà Quinn Judge đánh dấu hỏi về chữ (Lin) này; sau khi “tham khảo” với một số các ông “thầy bàn” Việt Nam, bà đã ghi vào website của Đại học Yale vào năm 1994: “…bà Minh Khai cũng đến được Mạc Tư Khoa vào cuối năm 1934 với tên chồng là “Lin”. Khi điền đơn, ở mục “Tình trạng gia cảnh”, bà viết tên “Lin” gần với chữ “Có chồng”.

Bà Quinn Judge tin ngay là chữ “Lin” là nói tới ông chồng Nguyễn Ái Kvak. Thay vì lẽ ra bà nên tìm hiểu xem tại sao Minh Khai lại ghi như vậy, tại sao không ghi hẵn vào mục có chồng mà lại ghi bên cạnh? Tại sao không ghi hẵn tên họ của chồng trong mục “đã lập gia đình” mà lại ghi chữ Lin trong dấu ngoặc và để gần bên mục “đã lập gia đình”? Nếu chữ Lin là bí danh thì tại sao lại phải ghi bí danh ? Nếu Lin là chồng thì tại sao Minh Khai không để hẳn tên Lin vào trong mục “có chồng”?

Cũng trong thời gian cuối năm 1934, ông Nguyễn Ái Kvak khai trong phiếu lý lịch khi vào học trường Lénin là ông không có vợ. Rồi 3 năm sau cũng trong mẫu khai lý lịch tại Mạc Tư Khoa Nguyễn Ái Kvak vẫn ghi là không có vợ ?

Và cuối cùng thì mẫu phiếu này có thể tin tưởng được không? Biết đâu có ai đó sau này thêm chữ Lin để ghi nhận một sự kiện nào đó chăng? Thí dụ như người có bổn phận xác minh lý lịch của bà NTMK ghi chú bên lề tên của ông Lin để đi hỏi lại ông Lin xem đồng chí này khai có đúng không? Hoặc là sau khi đã hỏi ông Lin rồi, người ta ghi vào để nhớ rằng đã có xác minh lại với ông Lin? Hoặc là NTMK ghi một cái ghi chú bên lề như vậy để đi hỏi lại ông Lin là bà phải điền vào mục này như thế nào vì bà cưới Lê Hồng Phong rồi nhưng chưa có hôn thú ?…

Thay vì làm các thủ tục truy tìm như vậy, bà Quin Judge lại làm ngược lại. Bà tin ngay “Lin” phải là một nhân vật đang là chồng của Minh Khai, rồi bà đi tìm người tên Lin mà điền vào cho vừa cái nhân vật Lin đó. Tại Nga thời đó có cả triệu người tên Lin nhưng bà Quinn Judge chỉ lựa ra một người có bí danh là Lin mà bà cho là có thể dùng được. Nhưng như vậy lại nảy ra câu hỏi là việc gì mà bà NTMK phải ghi tên chồng bằng bí danh? Bà sợ gì khi không dám ghi tên thật? Rồi ghi như vậy thì liệu có giấu được tên thật của ông ta không?

Đúng nhất thì bà Quinn Judge nên đi kiếm người tên Lin mà điền vào thì hợp lý hơn. Nhưng người tên Lin không thể có bí danh là Lin. Trong khi ông NTT lại có bí danh là Lin !

Đâu là sự thật : Sau khi nắm được 3 bằng chứng nêu trên, bà Quinn Juge mạnh dạn công bố trên Website “Việt Nam Forum 14” của đại học Yale vào năm 1994: “Về đời sống riêng tư của ông Hồ, tôi kiếm được bằng chứng là đã có lần ông cưới một người nữ đồng chí cách mạng tên là Nguyễn Thị Minh Khai”.

Quinn Judge kết luận: “Những người viết tiểu sử chính thức của bà Minh Khai viết rằng trước khi đi dự hội nghị Cọng sản Quốc tế, bà Minh Khai và ông Lê Hồng Phong đã bắt đầu yêu nhau…Như vậy có phải ông Hồ vừa mất địa vị lãnh đạo Đảng vừa mất vợ vào tay Lê Hồng Phong không? Vậy thì sự thất sủng chính trị của ông (bị kỷ luật năm 1935) càng thêm bội phần nhục nhã” (Nhật Nam dịch).

Khám phá của bà Quinn Judge được ông Bùi Tín phụ họa thêm khi ông phỏng dịch bài viết của Quinn Judge rồi đăng trong cuốn sách “Về ba ông thánh” của ông. Ngoài phần trích dịch bài viết của Quinn Judge, ông Bùi Tín còn thêm một số chi tiết mà ông nói rằng bà Quinn Judge đã nói riêng với ông :

(1) “…hai vợ chồng Minh Khai và Lin cũng chung phòng, chung giường, chung đồ dùng…Có tài liệu ghi rõ hai vợ chồng cùng chung sống ở Hồng Kông một thời gian…”

(2) “Khi đến Moscow vào cuối năm 1934, cô Nguyễn Thị Minh Khai tuyên bố ngay với bạn bè rằng chồng cô là “đồng chí Lin”, bí danh của ông Hồ lúc ấy.

(3) “Theo Chị Sophia (Quinn Judge), có người kể với chị là ông Hồ cón có lúc yêu cả vợ ông Chu Ân Lai là bà Đặng Dĩnh Siêu… ông cũng có lúc có tình cảm mặn nồng với cả chính bà Véra Vasiliéva…”.

Không hiểu vì sao bà Quinn Judge không tự mình công bố những chi tiết này mà lại chỉ nói riêng với ông Bùi Tín. Và cũng không hiểu vì sao ông Bùi Tín lại công bố những điều mà bà Quinn Judge chỉ nói riêng với ông (?).

Ngoài ra ông Bùi Tín còn đưa thêm suy đoán riêng của mình: “Tên Hồ Chí Minh, biết đâu chữ Minh là tên người vợ trẻ; để giữ lại kỷ niệm riêng? Chí Minh và Minh Khai. Ông từng lấy tên T.Lan khi viết cuốn sách “Vừa đi đường vừa kể chuyện” năm 1950, biết đâu chữ Lan cũng là lấy từ Phan Lan, bí danh của Minh Khai khi ở Moscow”.

Khi viết lên điều này, 1996, ông Bùi Tín không ngờ rằng cái tên Hồ Chí Minh là tên hiệu của ông Hồ Học Lãm. Tên này không dính dáng gì đến Minh Khai. Và ông cũng không ngờ rằng Nguyễn Tất Thành đã có một người vợ tên là Tăng Tuyết Minh. Vì vậy nếu ông Thành có dùng chữ Minh để đặt tên cho mình thì chữ Minh đó phải là Tăng Tuyết Minh.

Năm 2003 cuốn sách “Ho Chi Minh, The Missing Years” của bà Quinn Judge được phát hành. Nhưng bà không nêu thêm bằng chứng nào ngoài 3 bằng chứng bà đã công bố vào năm 1994. Ngoài ra giọng văn cho thấy bà không chắc về những điều bà đã từng viết trên website của Trường Yale :

(1) – Hình như Hồ đã báo cho Cục Viễn Đông về dự tính cưới vợ của ông ta vào khoảng mùa Đông. Vì thế cục Viễn Đông viết thư thông báo cho ông vào ngày 12 -1 rằng ông phải cho họ biết ngày làm đám cưới trước 2 tháng…”, “Tháng Hai ông báo rằng vợ của ông đang bận đón Tết và tiếp rước bạn bè từ Sài Gòn và Bắc Kỳ, điều này chứng tỏ hình nhưnhững lời khuyến cáo về việc báo trước ngày cưới của Cục Viễn Đông đã đến với ông quá trễ.

(2) – “Trong những tài liệu khác vào năm 1934 và 1935 (phiếu khai lý lịch có tên Lin và danh sách 6 người tham dự đại hội CSQT), chúng ta được biết rằng người vợ này có vẻ như là Nguyễn Thị Minh Khai… Tuy nhiên cô ta và Hồ có tiếp tục duy trì cuộc sống vợ chồng sau khi sau khi họ bị bắt vào tháng Tư và tháng Sáu hay không thì không được biết. Tài liệu của Pháp về Nguyễn Thị Minh Khai đã khiến người ta tin rằng cô đã có hàng loạt quan hệ với những nam đồng chí vào khoảng giữa 1930 và 1940… Cho tới cuối năm 1934 khi cô đến Mạc Tư Khoa, cô viết rằng cô đã cưới “Lin”, bí danh của Hồ lúc bấy giờ”.

(3) – “Tài liệu của CSVN ghi tiểu sử của cô là đã cưới Lê Hồng Phong tại Mạc Tư Khoa vào năm 1935, nhưng không có tài liệu nào vào thời bấy giờ nói tới cuộc hôn nhân này”. Ngoài 3 bằng chứng trên, sách của bà Quinn Judge không hề xác nhận những chi tiết mà ông Bùi Tín cho rằng bà đã nói riêng với ông.

Sau khi cuốn sách được phát hành thì đài phát thanh BBC đã phỏng vấn bà Quinn Judge về chuyện tình duyên của ông Hồ :

“…Theo nguồn tài liệu mà bà đã có thì Tăng Tuyết Minh là ai ?”. Đáp: “…theo tài liệu mà tôi tìm thấy ở Pháp. Tăng Tuyết Minh khi ấy là một phụ nữ trẻ ở Quảng Đông. Và có lẽ bà ấy với ông Hồ đã kết hôn vào tháng 10 năm 1926…” Hỏi : “Từ mà bà dùng – “có lẽ”- ở đây được hiểu như thế nào ?”. Đáp: “Tôi không chắc vào thời kỳ đó, một cuộc hôn nhân được định nghĩa như thế nào. Ta bắt gặp những ví dụ khác nhau trong các văn bản về phong trào Cọng sản. Đôi khi một cuộc hôn nhân diễn ra đơn thuần vì lý do chính trị. Hai người sống chung với nhau như một cách ngụy trang về hoạt động chính trị của họ”.

Bà Quinn Judge cố tình phủ nhận bằng chứng về cuộc hôn nhân của Lý Thụy và Tăng Tuyết Minh mặc dầu bà tìm thấy trong Văn khố Pháp một báo cáo của Lâm Đức Thụ cho biết vợ ông ta đã làm mai cho Lý Thụy cưới Tăng Tuyết Minh. Liên quan giữa Thụy và Tuyết Minh không dính dáng gì đến hoạt động chính trị. Trái lại, Thụy lấy Tuyết Minh chỉ vì muốn học tiếng Hoa.

BBC hỏi: “…theo bà thì có cuộc hôn nhân giữa Minh Khai và ông Hồ hay không?” Đáp: “Tôi không chắc đó có phải là một cuộc hôn nhân thật sự hay không… Vào tháng Hai năm 1931, ông Hồ có nhắc việc vợ của ông đang bận đón Tết… Ông Hồ cũng viết thư cho Quốc tế Cọng sản, có vẻ như trong đó ông đề cập tới một đám cưới sắp diễn ra… Tôi sẽngần ngừ khi nói liệu ông Hồ có phải đang nói về một đám cưới thật sự hay không, bởi vì trong các loại thư từ họ thường sử dụng nhiều loại mật mã. Nhưng trong trường hợp này, có vẻ như lá thư nói những chuyện thật sự đang diễn ra… Khi Minh Khai tới Moscow, bà ấy có viết trong lý lịch nói mình đã kết hôn với Lin, bí danh của ông Hồ thời bấy giờ(Thực ra chỉ có một chữ “Lin” để bên cạnh cột chữ “Married”). Vì vậy người ta có thể ngờ rằng giữa hai người có một mối quan hệ vào năm 1931”.

BBC hỏi: “Bà nói mình không chắc có thể dùng chữ “hôn nhân” ở đây. Nhưng nếu người ta hỏi liệu đã có một mối quan hệ tình cảm giữa ông Hồ Chí Minh và bà Nguyễn Thị Minh Khai thì bà trả lời như thế nào?” Đáp: “ Tôi nghĩ câu trả lời là có, đặc biệt nếu chúng ta dựa vào một số chứng liệu khác. Ví dụ vào năm 1945, trong cuộc nói chuyện với một phóng viên Mỹ, ông Hồ Chí Minh có nhắc ông đã từng có một người vợ nhưng bà đã qua đời. Hoặc có những đề cập nói rằng vào cuối thập niên 1930, khi Nguyễn Thị Minh Khai quay về Việt Nam, bà đã chia cắt với người chồng là một nhà cách mạng lớn tuổi đang ở nước ngoài. Điều này nghe giống như một sự miêu tả ông Hồ Chí Minh”.

Năm 1945 ông Hồ đã nói với nhà báo Mỹ Harol Issac rằng: “Tôi không còn gì nữa cả…đã có thời tôi có vợ đấy…”! Tại sao người vợ này lại không phải là Tăng Tuyết Minh? Mặc dầu ở phần đầu phỏng vấn bà Quinn Judge đã xác nhận là ông Hồ từng cưới Tăng Tuyết Minh?

Còn về “ông chồng lớn tuổi” của bà Minh Khai thì đâu có gì chứng tỏ hễ lớn tuổi thì bắt buộc phải là ông Hồ Chí Minh, ông Lê Hồng Phong cũng lớn tuổi vậy. Ông Phong hơn bà Minh Khai 16 tuổi. Và khi Minh Khai từ Trung Hoa về Việt Nam vào tháng 8 năm 1938 thì bà chỉ chia tay với chồng của bà là Lê Hồng Phong tại Trung Hoa, còn ông Hồ thì đang bị kỷ luật tại Nga.

BÙI ANH TRINH

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

2 Comments on CHUYỆN HỒ CHÍ MINH CƯỚI NGUYỄN THỊ MINH KHAI – Bùi Anh Trinh

  1. sao tôi cảm thấy khó tin

    Số lượt thích

  2. Tháng 11 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu đổi tên thành Lý Thụy. Vào một ngày cuối năm 1925, Tăng Tuyết Minh đến trụ sở “Hội Phụ nữ Vận động Diễn tập” tìm gặp Thái
    Sướng, lúc xuống lầu, bất ngờ gặp Lý Thụy ở chỗ rẽ cầu thang. Khi ấy, hai người chẳng để ý gì đến lễ tiết mà cùng đối mặt nhìn nhau.
    ………..
    Tăng Tuyết Minh có người anh thứ hai Tăng Cẩm Tương là bạn cũ của Tôn Trung Sơn, tinh thông năm ngoại ngữ, văn bút tinh xảo, là giảng viên đại học. Tăng giáo thụ mời Lý Thụy đến nhà. Trong khi nói chuyện, thấy Lý Thụy khiêm nhường, tự tin, thiết thực, nhiệt tình, có viễn kiến, lịch duyệt và biết nhiều ngoại ngữ, ông đã thay mặt gia đình tác thành cho đôi lứa. Ngày 18 tháng Mười năm 1926, hôn lễ được cử hành long trọng tại nhà hàng Thái Bình Dương trước sự chứng kiến của đông đảo quan khách do Đặng Dĩnh Siêu, Thái Sướng chứng kiến và chủ trì. Cố vấn Nga Xô Mikhail Borodin, trợ thủ đắc lực của Trương Thái Lôi cũng đến chúc mừng.Cuối năm 1926, Tăng Tuyết Minh mang thai. Lý Thụy khấp khởi mừng thầm vì sắp được hưởng niềm vui làm bố. Có điều, mẹ Tăng Tuyết Minh là Lương Thị, sau khi biết việc nầy, sợ con gái sinh cháu bé sẽ theo chồng đi mất nên đã tìm mọi cách ép nàng phá thai.Từ khi kết hôn đến lúc hai người chia tay chưa đầy một năm.
    Năm 1929, Lý Thụy đến Hương Cảng đổi tên thành Tống Văn Sơ, tháng 2 năm 1930, theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Cửu Long, Hương Cảng. Tháng 6 năm 1931, Tống Văn Sơ bị nhà cầm quyền Hương Cảng bắt giam tại nhà lao Victoria. Tống Văn Sơ tìm cách báo tin cho Tăng Tuyết Minh biết việc mình bị câu lưu. Được tin, các chị gái Tăng Tuyết Minh nhiệt tình giúp đỡ bằng cách mời luật sự biện hộ để em rể thắng kiện trước tòa. Năm 1958, Viện Vệ sinh Y vụ Quảng Châu tiến hành chỉnh phong với phương châm “đại minh, đại phóng”. Trong đám đồng sự có người tố cáo, trước đây Tăng Tuyết Minh và Nguyễn Ái Quốc có quan hệ hôn nhân mờ ám làm kinh động cả giới lãnh đạo ngành y tế.
    ……….
    Tháng 10 năm 1930, tại nhà trọ “Nhất Đống”, phố Khai Di, Cửu Long, Hương Cảng, khai mạc Hội nghị Trung ương, Nguyễn Ái Quốc là đại biểu Quốc tế Cộng sản được cử làm Chủ tịch Đảng Cộng sản Việt Nam. Cùng dự còn có một nữ đảng viên trẻ tuổi, mắt sáng, da ngăm ngăm, được ủy nhiệm làm trợ lý cho Nguyễn Ái Quốc là Nguyễn Thị Minh Khai .
    Từ khi Nguyễn Thị Minh Khai làm trợ lý cho Nguyễn Ái Quốc, hai người đã nảy sinh tình cảm. Tình yêu của Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai đến khá nhanh chóng. Vào mùa xuân năm 1932, hai người đã báo cáo với Cục Viễn Đông đề nghị được kết hôn. Đại biểu Quốc tế Cộng sản là Hilaire Noulens đã gởi thư thông báo cho Nguyễn Ái Quốc vào tháng Tư. Tuy nhiên, không lâu sau, Nguyễn Thị Minh Khai, vì bị tình nghi có liên can đến hoạt động phiến loạn, bị cảnh sát Hương Cảng bắt chuyển về Quảng Châu tống giam vào nhà tù Quốc dân Đảng.
    Mùa đông năm 1930, Nguyễn Ái Quốc báo cáo với Cục Viễn Đông kế hoạch kết hôn. Ngày 12 tháng 1, Cục Viễn Đông gởi văn bản trả lời, nội dung là Nguyễn Ái Quốc phải thông báo thời gian chính xác trước hai tháng.
    Cuốn sách “Chị Minh Khai” của Nguyệt Tú luôn luôn dấu mối quan hệ hôn nhân của Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai, đồng thời tô vẽ mối tình giữa Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai. Tuy nhiên sự thực lịch sử không giống như lời kể trên. Chuyện rắc rối ở đây là, từ Nguyễn Ái Quốc (P.C.Lin), Lê Hồng Phong đến Nguyễn Thị Minh Khai, ba người lại có đến bốn thân phận công khai hoạt động. Nguyễn Thị Minh Khai và Lê Hồng Phong biểu hiện mối tình nồng thắm, với Nguyễn Ái Quốc (P.C.Lin), hai người kính trọng như khách, xem ra rất hợp lý. Rốt cuộc, P.C.Lin nầy chính là Hồ Tập Chương cùng Nguyễn Thị Minh Khai đến Mạc Tư Khoa xem như mới quen biết nhau nên tỏ thái độ kính trọng là hợp lẽ. Với Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Thị Minh Khai ngoài tình đồng chí còn là tình nghĩa vợ chồng cao đẹp, một người Cộng sản như Nguyễn Thị Minh Khai không thể cầm tay Lê Hồng Phong cùng vui vẻ song
    ca ngay trước mặt ông chồng đáng kính, bởi hành vi ấy chính là làm nhục Nguyễn Ái Quốc
    ………………………
    LÝ ỨNG THUẬN là ai ? Có phải LÂM Y LAN ?

    Số lượt thích

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: