Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Thức ăn cho Thân, Trí tuệ cho Tâm – Thượng Tọa Abhinyana

1Ngày nay, cầm lên hầu hết các gói thực phẩm, chúng ta đều thấy bên cạnh danh sách liệt kê các chất liệu, lời tán dương về công dụng của sản phẩm: “Năng lược cao”, “ít calôri”, “nhiều chất xơ”, “ít đường”, “ít muối”, “ít chất béo cholesrterol”, “giàu sinh tố và khoáng chất”, “nguyên chất”, “không thêm chất giữ lâu”,v.v… Danh sách cứ tiếp tục mãi như thế, thường với thành ngữ về kỹ thuật và hóa chất, những thứ mà đôi khi người ta nghĩ là dùng để lừa bịp thường dân. Những nhà sản xuất thực phẩm lớn có thực sự quan tâm đến sức khỏe của giới tiêu thụ hay chăm chú hơn đến lợi nhuận?

            Chúng ta nói về “thực phẩm lành mạnh” và “thực phẩm tạp”, và sẵn sàng trả tiền thêm cho nhiên liệu và do việc ấy thường là bị lừa bịp. Tuy nhiên, trong khi chú trọng đến các loại thức ăn nuốt vào bao tử, chúng ta ít khi nghĩ đến loại thức ăn khác quan trọng hơn. Đó là thức ăn nuôi dưỡng tâm linh – “tâm hồn” bởi vì tôi đang nói cái gì đó không chỉ về tinh thần mà thôi. Theo tôi hiểu, Tâm thì bao la, cởi mở, đa dạng và bao gồm mọi thứ từ ngữ mà con người muốn dùng để diễn tả, chẳng hạn như “tâm linh”, “linh hồn”, “tấm lòng”, “tiềm thức”, “siêu thức”, và v.v… Nhưng để thâu hẹp phạm vi lại phần nào, ngõ hầu truyền đạt những gì tôi diễn bày về phương diện tâm linh của Tâm, tôi sẽ dùng chữ “tâm linh” ở trong bài nầy.

            Tâm linh chúng ta cần chất dinh dưỡng cũng y như thân xác vậy. Nếu thân không có thức ăn, nó yếu đi và cuối cùng thì chết. Vậy tâm linh có khác gì chăng? Nhiều người trong chúng ta chểnh mãng đời sống tâm linh của mình – không nhận thức rằng mình có “đời sống nội tâm” cần phải chăm lo – và thực sự để cho đói khát đến chết về phương diện tâm linh. Chẳng lấy làm lạ tại sao có quá nhiều thất vọng, san thâm, giận dữ, bạo động và khổ đau trên Thế Giới, khi mà nhân của quả như vậy cứ diễn ra không được nhận biết và chữa trị. Thật không đáng ngạc nhiên tí nào cả.

            Có một lần, Giê-su đã nói: “Con ngưòi không nên chỉ sống bằng bánh mì thôi mà bằng lời Chúa”. Tôi không chấp nhận điều nầy, nhưng xin đổi câu nói lại một ít: “Con người không nên chỉ sống bằng bánh mì thôi, nhưng cả bằng Pháp nữa”.  Tất cả chúng ta cần có Pháp hoặc Chánh Đạo, cho cuộc sống nội tâm. Bằng không có nó, chúng ta sẽ khô héo tận gốc rễ, tựa như cây thiếu nước vậy. Điều nầy không có nghĩa là chúng ta phải đi chùa hay đi nhà thờ thường xuyên, hoặc tự xưng là “Phật Tử”, “Ki-Tô Hữu” này hay nọ. Dĩ nhiên, chúng ta có thể làm như vậy, nhưng chỉ làm thế mà thôi không đủ cho chúng ta ngoan đạo, và thường liên quan rất ít đến Đạo (tuy nhiên, hãy cẩn thận, đừng hiểu lầm bởi tôi không nói điều đó không liên quan gì đến Đạo cả, mà thường liên quan rất ít đến Đạo. (Nó) tự (thế những hình thức nầy không đủ). Dĩ nhiên, dùng chữ “bánh mì”, Giê-su muốn nói chung về thực phẩm, chứ không riêng vật thức làm bằng bột mì, men và nước – “cộng thêm sinh tố”.

            Một lần khác, có người lại gần Ngài và nói: “Xin Chúa, trước tiên cho phép con về chôn phụ thân.” Có lẽ người cha đã già và không sống bao lâu nữa, và người đàn ông nầy mong trả cho xong chữ hiếu, bằng cách chờ người cha mãn phần, chôn cất tử tế trước khi rời nhà và gia đình đi theo Giê-su. Nhưng Giê-su nói với ông ta (Math 8:22): “Hãy theo Ta, mặc kẻ chết chôn cất người chết”.

Theo các ghi chép trong Thánh Kinh, không có lời giải thích tiếp nối nào đối với những gì Giê-su muốn nói. Chúng ta cũng không rõ là người nầy có hiểu ý hay không. Điều nầy có vẻ bí mật, đúng vậy không? Phải hiểu như thế nào đây? Ngày nay, qua các phim kinh dị, tất cả chúng ta đều quen thuộc với khái niệm “quỷ nhập tràng”. “Quỷ nhập tràng” là người bị đánh thức dậy bằng cách dùng tà thuật Voo- Doo, nhưng không có ý thức. Nói cách khác: “Người chết đang sống”. Bạn có nghĩ là đây những gì Giê-su nói đến chăng? Không! Ngài nói đến loại người “chết” khác: Những người sống tựa như kẻ đã chết mặc dù trong khi họ vẫn còn sống. Những người chết đói về mặt tâm linh hoặc nội tâm, họ chỉ sống về phương diện thể chất, chưa được sinh ra trong lãnh vực tâm linh. Ngày nay, chúng ta nghe nhiều về việc “được tái sinh”, có nghĩa là được sinh trở lại trong niềm tin tôn giáo. Các Ki-Tô Hữu hay dùng chữ nầy, mặc dù ý niệm nầy kông chỉ han chế cho họ. Phật Tử nói về việc “Thấu triệt thực tại”, một kinh nghiệm cá nhân sâu sắc, và không thể trao truyền, một kinh nghiêm đổi đời, nó có thể ví tương đương với việc “tái sanh”. Sanh trong nhận thức về đời sống mà mãi đến nay chưa từng biết. Nhiều người sống cũng như đã chết vậy, cho đến khi được tái sanh như thế. Trên Thế Giới nầy đầy ắp những loại người nầy. Họ lang thang trong cuộc đời không phương hướng gì cả, không hiểu mình từ đâu đến, hiện đang ở đâu và sẽ đi về đâu. Đa số những người nầy sống – hoặc cố sống – cho riêng chính mình, theo đường lối ích kỷ, không chăm lo, không biết rằng không thể sống như thế, chỉ riêng cho mình bởi chúng ta tùy thuộc rất nhiều đến tha nhân, và sự tùy thuộc nầy mang tinh thần trách nhiệm đối với các chúng sanh khác, nếu không làm tròn, sẽ mang lại sự phản tác, dẫn dắt chúng ta đến sự nghèo khó.

            Khi một người chết đi, người nầy sẽ đối diện với nghiệp của mình – hành động của chính mình – tạo ra khi còn sống, và trong Tân Ước, ta thấy St. Paul nói rằng (Ga-li-ti 6:7): “Chớ hề dối mình, Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu, vì ai giồng chi, lại gặt giống ấy.” Ai có thể làm được cho người chết? Tôi có nghiệp của tôi, bạn có nghiệp của bạn, và giống như vé máy bay, nó “không thể chuyển nhượng”. Đức Phật dạy rằng chúng ta lảnh quả của nghiệp mình tạo ra, mỗi người tự lảnh lấy, không ai có thể cứu giúp người khác. Do đó, nhiệm vụ của người sống – những người nhận biết phương diện tâm linh – là cho những người còn sống, chứ không phải cho kẻ đã chết, bởi người chết đã ra khỏi phạm vi ảnh hưởng của chúng ta. Ta có thể giúp cho một số người còn sống, đang chia xẻ Thế Giới nầy với chúngta, để thức tỉnh họ trước việc hệ trọng là sống cho bây giờ, trong khi còn cơ hội, chứ không phải nán lại khi chúng ta già nua, bệnh tật hoặc gần chết. Như vậy có thể là quá trễ. Do đó, lời rao truyền của Giê-su, cũng tựa như lời của Đức Phật. Người đã sống và giảng dạy 500 năm trước Giê-su, là “Hãy sống bây giờ vì ngày mai không bao giờ đến”. Đức Phật dạy rằng Niết Bàn hoặc Toàn Giác, được tìm thấy trong khi sống nơi Thế Gian nầy, chứ không phải ở mai sau. Thật vậy, thời gian duy nhất còn mãi là Bây Giờ bởi chúng ta không thể sống với quá khứ hoặc tương lai. Giờ nhé! Niết Bàn hoặc Không Ràng Buộc Nữa, không phải là một người hay một nơi nào, nhưng là một trạng thái của Tâm. Thái Tử Tất Đạt Đa, còn được biết là “Thích Ca Mâu Ni”, đạt đến Niết Bàn lúc 35 tuổi, từ đó về sau còn được gọi là Đức Phật, có nghĩa là “Người Tỉnh Thức”. Khi Ngài qua đời ở tuổi 80, Ngài đi vào cảnh giới gọi là “Vô Dư Niết Bàn”, hoặc là tình trạng của Niết Bàn không còn căn bản thể chất nữa. Ngài nói: “Nếu một người nào đó theo ta cả trăm năm, nắm vạt áo cà-sa của ta, chưa rủ sạch Tam Độc của Tham Sân Si, người ấy chẳng bao giờ thấy ta. Nhưng, người mà đã sạch Tam Độc, dẫu họ sống xa Ta, sẽ luôn thấy Ta mãi. Người nào thấy được Pháp là thấy Ta.” Có nghĩa rằng quả vị Phật, hoặc tỉnh thức, không phải là trạng thái vật chất, nhưng là một tình trạng tâm linh hay tinh thần, đạt được bằng nhận thức, thấy Chân Lý hoặc Sự Thật.

            Cái nhận về Sự Thật mà chúng ta sẽ biết đầy đủ sau nầy, sẽ có tác dụng như cái mở đồ hộp: là giải thoát chúng ta khỏi nơi giam hãm chật hẹp của Ngã, làm cho chúng ta rộng mở bao la, bất cứ điều gì làm cho chúng ta trở nên hẹp hòi, thiếu khoan dung và tin tưởng mù quáng, không thể nào là Sự Thật được, mà chỉ là ảo ảnh, một điều gì đó do óc tưởng tượng của chúng ta, hoặc điều vay mượn từ người khác đã qua tay một lần, hai lần hoặc nhiều lần. Bất cứ kinh nghiệm nào có thể nắm bắt được và cho là “của tôi”, làm cho chúng ta trở nên ích kỷ thay vì phải bớt đi, chỉ là một kinh nghiệm tâm thuật, nhưng chắc chắn không phải là một kinh nghiệm tâm linh thuần túy đốt cháy yếu tố Ngã trong ta, làm suy giảm nó đi,. Đây là một đường lối mà ta có thể đánh giá cao kinh nghiệm của mình: Chúng có làm tăng hay giảm lòng kiêm mạn, tánh ích kỷ, hẹp hòi và thiếu khoan dung của chúng ta không?

            Chúng ta đã biết tầm quan trọng về việc có đủ sinh tố A, B, C, v.v… cho thân thể của mình, nhưng cũng phải có đủ lượng sinh tố T cho đời sống tâm linh, cho đời sống nội tâm của chúng ta. Sinh tố T có nghĩa là Trí Tuệ, một đặc tính mà thế giới ngày nay đang cần khủng khiếp. Nó bị gạt ra ngoài lề, xếp sang một bên, lu mờ đi và gần như bị qua mặt bởi kỹ thuật và cái học từ chương ngụy trang làm trí tuệ – chó sói giả cừu. Mặc dù vậy, cũng lý thú và đang khuyến khích bởi dẫu cho cái ngu ngốc to lớn đang nở rộ trên Thế Giới, dẫu cho nhiều người còn ham thích phô trương sự ngu si như một báu vật, như một đức tính tốt – điều gì đó vẫn còn làm cho ta hãnh diện thay vì phải hổ thẹn là – Trí Tuệ vẫn thỉnh thoảng chiếu sáng ngời, và đôi khi lại từ những nơi không mong chờ. Lấy ví dụ phim tập “Star Wars” (Chiến tranh Tinh cầu) và những phim khoa học giả tưởng đã trình chiếu rầm rộ. Đằng sau và xuyên qua các cảnh bạo động, Trí Tuệ được đề cao và kính trọng, giống các thiên hùng ca của thời cổ xưa có lẽ của tất cả các tôn giáo và các nền văn hóa – Mahabharata, Thiên hùng ca Gilgamesh, Odyssey, Ramayana, v.v… thường có một Hiền Triết hoặc một người Trí Tuệ đứng sau cảnh quang vinh Thiện thắng Ác. Bạn có thể nói: “À! Nhưng đấy chỉ là trong ciné hoặc chuyện kể mà thôi.” Không! Không phải vậy! Nó là một phần của tâm thức tập thể, và đó là cái lý do tại sao chúng ta vẫn có thể hiểu giá trị của nó qua câu chuyện Truyện và phim ảnh xuất phát từ Tâm con người – nhưng cũng như Thiện và Ác, Trí Tuệ và Vô Minh – và được thực hiện mục đích vì Tâm – chứ không phải cho thể xác – của những người khác. Do đó, sự thành công và ảnh hưởng của những phim ảnh nầy làm cho chúng ta vững tâm thêm là Trí Tuệ chưa hoàn toàn bị bỏ qua.

            Tuy nhiên, Trí Tuệ không phai là chỉ dành riêng cho những người đầu điểm sương. Nó không có giới hạn như vậy. Thỉnh thoảng chúng ta gặp những người già cả thật là điên khùng, đã dành thì giờ chạy theo các mục tiêu vô dụng, và học hỏi được rất ít trong những năm trôi qua. Mặt khác, đôi khi chúng ta gặp những người trẻ tuổi – ngay cả các cháu bé – có vẻ như thông thái một cách rất tự nhiên. Đây là điều không liên quan đến tuổi tác. Cũng chẳng qua là vấn đề đã trải qua học viên và Đại Học, và rồi ra trường với một dẫy các bằng cấp đề tên mình, bởi vì chúng ta không phải là không thường xuyên gặp qua những người có học thức cao trong lãnh vực chuyên môn và từ chương hạn hẹp nhưng ở các vấn đề khác, họ rất ngây thơ và chẳng biết gì. Vậy, Trí Tuệ là gì? Phải chăng đó là khả năng sẵn sàng nhận thức rõ ràng sự khác biệt giữa đúng sai, phải trái và sống cho phù hợp? Phải chăng đó là khả năng nhận thức những thực tại về cuộc sống-như-nó-là-chứ-không-theo-như-ý mình muốn nó-là?

            Tất cả chúng ta đều biết rằng mình phải được trang bị với các loại kiến thức đa dạng để mưu sinh và sinh tồn trên thế gian nầy, nhưng chẳng lẽ đó là toàn bộ đời sống – chỉ lo kiếm sống và sinh tồn? Phải chăng nó có cái gì còn hơn vậy? Phải chăng có hai loại hiểu biết: hiểu biết để nhờ đó kiếm sống và hiểu biết để chúng ta sống – sống giữa tha nhân như thành viên của xã hội? Trong trường và ở đại học, áp lực phải tranh đua và “thành công” đã trở thành “ai đó” – Số Một, nếu dược – đã quá lớn do đó không lấy gì ngạc nhiên rằng nhiều người trở nên đau thần kinh, và con số tự tử trong giới học sinh quá cao. Loại giáo dục nầy thật quá nguy hiểm và có tính chất hủy diệt – hãy nhìn xem biết bao rắc rối đâm mầm nảy chồi từ đó, gồm cả hình thức, rốt ráo của sự cuồng điên: Chạy Đua Vũ Trang. Tôi biết rằng một số người sẽ cãi lại nếu không có tinh thần tranh đua, chúng ta sẽ không phát triển và tiến bộ. Nhưng điều nầy chỉ là thiển cận. Vẫn có đường lối còn tốt đẹp và ít tàn hại hơn để tiến bộ và phát triển thay vì sự tranh đua, và đó là sự Hợp Tác, hay làm việc chung. Và ai dám nói điều nầy không thể giảng dạy hoặc chỉ bảo ở trường học? Tôi không phủ nhận trong việc tranh đua cũng có cái hứng thú sôi nổi – và đôi khi lại có thật nhiều – nhưng bạn sẽ nhận ra rằng đó là để tăng trưởng cho cái Ngã, điều gì đó cho cái tôi. Điều nầy không thể nào so sánh với niềm hoan lạc rtrong việc hợp tác với người khác vì lợi ích chung. Và sự tốt lành cho xã hội như một toàn thể. Trong việc đấu tranh nơi đâu có người thắng cuộc, nơi đó có kẻ thua và ít khi cảm thấy sung sướng về việc bị thua cuộc, đôi khi còn cảm thấy đắng cay và phẩn uất, trong khi với việc hợp tác không chỉ một ngưòi thắng mà tất cả những ai trong cuộc đều thắng.

            Hiện đang có nhiều quan điểm về Thế Giới khác nhau – đó là những đường lối nhìn thế giới. Thật vậy, đa số có quan điểm về Thế Giới như thế, mặc dù, trong hầu hết các trường hợp, quan điểm nầy được truyền lại từ người khác, chứ không phải là thành quả của sự nghiên cứu và suy ngẫm sâu sắc của cá nhân. Một số quan điểm về Thế Giới chỉ chú trọng đến Con Người mà thôi, và chối bỏ các khía cạnh khác của đời sống. Thật ra, kẻ làm như vậy là còn phân chia Con Người ra từng loại như Những-người-được cứu-rỗi và “Nhhững-kẻ-không-được-cứu-rỗi”; Người-tin và Kẻ-không-tin, và, v.v… Nhưng ngày nay, chúng ta bắt buộc phải công nhận rằng ngoài Con Người ra, còn nhiều dạng khác của sự sống, cũng quan trọng mà bất cứ quan điểm về Thế Giới đang được tôn trọng nào cũng đều phải có trách nhiệm nhìn nhận. Con Người không chỉ sống một mình, hoàn toàn một mình nhưng nhờ vào hệ thống hỗ trợ phức tạp liên quan đến những dạng khác của đời sống. Sự hiểu biết nầy làm trỗi lên trong ta ý thức về sự tùy thuộc “như một thành viên” thay vì “tách rời ra” và nếu theo sát gót việc khám phá nầy, lòng biết ơn, sự kỳ diệu, lòng kính trọng sự sống niềm hoan lạc được sống và Tình Thương sẽ phát sinh từ đó. Và những điều nầy, lần lượt, sẽ tháo khó và mở cách cửa Trí Tuệ trong tâm chúng ta.

Đánh máy lại ngày 20 tháng 5/ 2014

hoànglonghải

 

Tác giả:

“Thượng Tọa Abhinyana,  quốc tịch Úc, sinh năm 1946 tại Anh, trong một gia đình gốc Tin Lành, bắt đầu tiếp xúc và tín hướng Phật pháp 1970 sau chuyến du lịch Ấn Độ. Ngài xuất gia 1972 tại Mã Lai trong truyền thống PG Thái Lan, và bắt đầu giảng dạy Phật pháp từ 1979. Suốt thập niên 1980, Ngài phát tâm qua ở hẳn để giúp đỡ các trại tỵ nạn Đông Nam Á, mà lâu nhất và nhiều nhất là 2 trại Palawan và Bataan ở Phi luật tân. Ngài sống đồng cam cộng khổ, xây chùa, hướng dẫn tu học, giảng dạy, bênh vực, giúp đỡ và tổ chức nhiều công tác cộng đồng, xã hội, cứu tế cho hàng chục ngàn đồng bào Việt-Miên và hàng trăm Tăng Ni Việt Nam tỵ nạn đến đây.
Trong 9 chuyến trở về ủy lạo nhiều chục ngàn đồng bào mới tỵ nạn đến trại ở khắp các nước Đông Nam Á từ 1985-1993, chúng tôi mấy lần trong các năm 1987, 1989 và 1991, đã được Ngài Abhinyana tiếp đón và tận tình giúp tổ chức các buổi thuyết giảng tại chùa Vạn Đức, tiếp xúc thẩm quyền Phi, UNHCR và các tôn giáo bạn, nhất là giúp tổ chức phân phát quà cứu trợ do Đồng hương Úc châu quyên tặng để Cơ Quan Cứu Tế Phật Giáo Úc châu do Tu Viện Vạn Hạnh điều hành, mang đến biếu tặng bà con tỵ nạn ở Palawan và Bataan, Philippines.
Khi làn sóng tỵ nạn bắt đầu giảm sút và chấm dứt, Ngài Abhinyana đi hoằng pháp khắp nơi trên thế giới, giữ liên lạc và được kính trọng quý mến nơi rất nhiều Tăng Ni Phật tử ở Âu, Mỹ và Úc châu. Ngài thường trở về Mã Lai và nhất là Úc (cha mẹ Ngài ở Adelaide) để thăm viếng và giảng dạy tại các chùa Việt ở Sydney, Canberra, Melbourne, vv…
Thượng Tọa Abhinyana viên tịch lúc 5am Thứ Hai 15/4/2008 tại tư gia của người chị ruột ở vùng Nampour ở Sunshine Coast, QLD, sau mấy tháng lâm bạo bệnh. 

(Tài liệu của Hòa Thượng Thích Quảng Ba, Úc)

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

1 Comment on Thức ăn cho Thân, Trí tuệ cho Tâm – Thượng Tọa Abhinyana

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: