Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Phải chỉ vẽ mọi thứ sao? – Thượng tọa Abhinyana

2Có một dạo sau khi giảng đạo vài lần ở nơi nào đó tại Mã Lai, tôi được mời thuyết pháp thêm, và được yêu cầu nói về đề tài lòng Bi Mẫn, bởi những người ở đó đã tham dự nhiều buổi thuyết pháp trước kia. Họ muốn nghe cái gì đó khác biệt.

            Điều nầy làm tôi hơi sửng sốt, bởi vì mặc dầu thực sự đã không nhắc rõ, trong các buổi thuyết pháp trước, tôi đã nói nhiều về lòng Bi Mẫn vì nhận thấy điều nầy là phần chính của viêc tu theo Đạo. Việc nầy cho tôi thấy rằng một số người sau khi tham dự các buổi pháp thoại, đã không thực sự nghe tí nào cả. Có lẽ trước khi nghe, tâm trí của họ đã đầy nghet rồi, do đó họ không thể chứa thêm được nữa. Tôi còn nhớ là tôi đã bắt đầu một trong các bài nói chuyện bằng cách giải thích tầm quan trọng của việc nghe pháp ra sao: Nghe bằng cách hoàn toàn không chú trọng đến bề ngoài và cá tính của diễn giả mà chú ý kỹ lưỡng vào những gì người ấy đang nói, ngõ hầu thính giả có thể tìm ra điều mà người ấy nói có đúng và thích đáng hay không! Hiển nhiên là họ đã không nghe điều nầy, cũng như những gì tôi đã nói về thuyết Ăn Chay. Phải chăng họ là những người chỉ muốn có nhiều từ ngữ, lý thuyết và ý niệm để rồi có thể lặp lại và làm cho người khác.

            Pháp có phải chỉ là cái gì đó để mà bàn suông một món đồ chơi trí thức không? Đối với nhiều người, đó là điều hiển nhiên. Nhưng bằng cách đi theo lối đó, chúng ta sẽ không bao giờ khám phá ra Pháp là gì. Pháp là một lối sống, để biểu lộ Phật tính chúng ta ra, biểu lộ nguyên lý Giác Ngô. Nó không là – hoặc không nên là – cái gì đó ngoài cách sống hằng ngày. Nhưng chúng ta có thể nghe quá nhiều buổi Pháp Thoại và đọc quá nhiều sách, do đó, hình như trở nên ù lì và bị táo bón rồi bị kẹt ở mức độ từ ngữ và ý niệm, không thể thoát ra khỏi bãi cát của khái niệm. Tình trạng nầy có thể tiếp diễn một thời gian dài,

            Trước tiên, nghe Pháp mà không cảm hứng – cái thời điểm quan trọng nhất – người ta sẽ dễ rơi vào tập quán nghe để mà nghe tựa như đã từng nghe nhiều giống trước đây, hoặc với lòng mong được nghe gì điều gì dó tuyệt diệu và thần bí, phi thường mà cho đến nay chưa hề được nghe qua. Lẽ dĩ nhiên, nghe Pháp Thoại như vậy không đúng cách, và không tránh khỏi thất vọng, cũng giống như Heralitus đã nói: “Bạn không dừng chân hai lần tại cùng một dòng sông”. Do đó, mọi vật, mọi lúc, đều mới mẻ, không có cái gì giữ nguyên như trước, và cũng không có điều gì là lập lại cả. Cho dù chúng ta có nghe những chữ giống nhau, hoặc đọc tới đọc lui một cuốn sách đi nữa, vẫn không giống nhau, bởi vì chúng ta – tâm trí hơn là thân xác – đã thay đổi, vì thế thấy vạn vật khác đi, vì thế, có thể đã nghe điều gì trước kia, thực ra chúng ta chưa từng nghe qua, vì mỗi thời gian – mỗi lúc, mỗi vật – đều mới mẻ, kẻ luôn cả bạn. Do đó, tại sao việc đọc đi đọc lại một cuốn sách sẽ khơi dậy những thứ mà chúng ta không để ý khi đọc lần đầu hoặc lần thứ nhì. Vì vậy, nghe với tâm trí cố chấp bảo đảm là sẽ thiếu sót nhiều điều.

            Thực ra Pháp Thoại thành công hay thất bại tùy thuộc vào thính giả hơn là diễn giả, bởi vì diễn giả có ù lì hay nhàm chán, không có gì để nói bao nhiêu, nhưng một thính giả nhanh nhẹn và nhạy cảm vẫn có thể thu lượm vài điều có giá trị từ đó. Không chỉ vậy thôi, chẳng khác khi hộp diêm lẫn que diêm không có cái nào chứa lửa cả, mà lửa chỉ có được bằng cách quẹt que diêm vào vỏ diêm. Do đó, sự tiếp xúc giữa tâm người nghe và người nói, qua ngôn từ, có thể bật lên ngọn lửa của hiểu biết, cũng không cần điều gì đó điều gì đó phải khác biệt, mang ý nghĩa triết lý sâu xa gì cả, nhưng chỉ là sự gặp gỡ của tâm người nghe và diễn giả vào một thời điểm nhỏ như đầu kim, và – bùng! “Vâng! Tôi hiểu.”

            Có một dịp, trong khi tôi ở trại tỵ nạn Bataan, Phi Luật Tân, một nhiếp ảnh gia cho xem một lô những bức hình ông ta đã chụp quanh Trại, gồm vài cảnh mặt trời lặn, và tôi còn nhớ đã nghe những câu tán tụng sững sốt “Đẹp quá!”, “Thật dễ thương”, “Ở đâu vậy?” từ miệng những người tỵ nạn. Các cảnh chụp chung quanh họ, nhưng họ nào thấy chúng có lạ kỳ chăng khi chúng ta thấy và nói: “Ồ! Đẹp làm sao!” nhưng chỉ khi nào được người khác chỉ cho mình thôi sao?! Mắt chúng ta đâu rồi? Ít khi ở hiện tại, để nhìn xem cái gì chung quanh, đó là điều chắc chắn!

            Vẫn trong cùng một trại, một hôm tôi gặp một thanh niên ở trại chuyển tiếp chờ định cư. Anh ta nói: “Con đã ở đây được bảy tháng, mơ ngày lên đường. Nhưng bây giờ ngày ấy đã đến, con buồn và không muốn đi, bởi vì con thấy, – lần đầu tiên, hình như – rằng các ngọn đồi quanh Trại màu xanh hơn.”

            Vincent Van Gogh đã tự tử trong nghèo khó, nhưng các bức tranh ngày nay được bán ra với giá kỷ lục, kinh tâm. Phải chăng người mua đánh giá đúng nghệ thuật của ông, hay họ mua các họa phẩm chẳng ngoài lòng kiêu hãnh mong sở hữu chúng, và một cách đầu tư kinh doanh? Tôi tự hỏi, họ có bao giờ nhìn kỹ một bông hướng dương hoặc một bông diên vi – như ông đã vẽ – để khám phá cái tuyệt diệu của cuộc đời? Chúng ta chẳng phải cần đi cho xa để tìm cái đẹp, hoặc phải tiêu pha bất cứ cái gì để được nó. Nó chan chứa chung quanh ta, và không cần mua bảo hiểm phòng cháy hay cướp bóc gì cả. Toàn thế giới là một nơi triển lãm nghệ thuật công cộng dành cho những ai có mắt để ngắm nhìn. Sự chuyển mùa và thời tiết đổi thay là tác phẩm triển lãm luôn mới không ngừng nghỉ để chúng ta thưởng thức. Những thưởng lãm, trước tiên trong chúng ta phải có căn bản ở bên trong đẹp. Thật đúng khi nói rằng: “Vẻ đẹp ở ngay trước mắt người chứng kiến”. Nếu không có vẻ đẹp từ bên trong thật sẽ khó cho ta nhìn thấy và thưởng thức vẻ đẹp ở ngoài và chung quanh ta. Do đó, tại sao việc cố gắng truyền dẫn hay gợi lên ý thức thưởng lãm cái đẹp, tinh thần sáng tạo và nghệ thuật trong con cháu chúng ta là điều rất quan trọng. Nếu tinh thần như vậy được khơi dậy trong con cháu chúng ta thì chúng sẽ khó xoay qua việc gây bạo động, phá hoại và tạo tội ác.

            Tôi chắc là chúng ta có thể được hướng dẫn để biết sự kỳ diệu của đời sống, một số có được từ bản chất, không cần phải chỉ bảo hoặc hướng dẫn bởi người khac. Nhưng so ra số nầy tương đối ít. Tuy nhiên, thiểu số nầy có thể giúp người khác hiểu được môt ít gì đó về sự kỳ diệu nầy. Từ đó, người khác có thể đi đến việc tự khám phá hoặc khai mở các điều tương tự trong chính họ. Nhưng ta phải thử, bằng mọi cách có thể được, thức tỉnh khả năng cốt lõi nầy trong con người. Ngày nay, chúng ta rất cần loại Tình Thương nầy để nhìn Cuộc Đời.

            Có môt lần trong một bữa ăn trưa tại môt ngôi chùa ở Tích Lan, một vị sư ngồi kế bên thấy tôi không đụng vào món cá trên bàn ăn, và hỏi tôi bộ tôi không thích cá hay sao? “Ồ! Tôi thích lắm!” tôi trả lời, “nhưng khi nó còn sống kia chứ không phải lúc đã chết!”

            Phải hiểu rằng ăn chay không phải là tất cả dâu, còn xa lắm! Nhưng nếu là người từng ăn thịt, muốn từng bước trở thành người ăn chay, – ban đầu có thể hơi khó, bởi vì phải mất một thời gian cho thân và tâm điều chỉnh theo cách ăn uống. – đó là thước đo thiện nguyện của người đó muốn hy sinh vài cái riêng tư cho Đạo. Có nhiều quá chăng? Nhiều nggười sẽ mĩm cười, bẻn lẻn và thì thầm: “Tôi không làm đuơc.” Dĩ nhiên, họ sẽ không làm, Do đó, họ tiếp tục quay Bánh Xe Sát Sanh thay vì nỗ lực để làm chậm nó lại.

            Để giải thích việc ăn thịt, các lời sau đây Kinh Amaganda: “Sát sanh, giết ngưòi, gây thương tích, trộm cắp, làm chứng láo, gian dối và lừa bịp – điều nầy, và không chỉ việc ăn thịt, là không trong sạch.” Vâng, đúng vậy, nhưng chúng ta phải hiểu rõ nghĩa các chữ đó dùng với nội dung nào. Những lời nầy dành cho những người cho rằng họ bị ô uế bởi ăn thịt, và nhu Jesus (Giê-Su) sau nầy có nói, những gì từ trong con người làm ra người ấy ô uế, nhơ bẩn, chứ không phải là những thứ tư bên ngoài vào. Nhưng chúng ta không đang nói về sự ô uế của con người mà là sự giết chóc súc vật. Chúng ta đừng lẫn tránh vấn đề. Thú vật bị giết để cung cấp thịt cho con người. Điều nầy rất rõ ràng. Phải vậy không? Nếu không ai ăn thịt, súc vật sẽ không bị giết vì mục đích như vậy. Tại sao chúng ta vẫn cứ miễn cưỡng nhìn vào vấn đề nầy? Tại sao người ta không chịu ngưng thói quen ghê tởm ăn thịt xác chết đi? Tại sao người ta lại quá bám chặt vào mùi vị của thịt thà? Nếu mùi vị là điều quá quan trong, họ nên nhớ là rau cải có thể được nêm nếm theo nhiều kiểu hấp dẫn khẩu vị. Thực sự, thức ăn chay có thể đươc nấu nướng trông thật giống và mùi vị ngon như thịt nhiều khi khó phân biệt được. Nhưng đây chỉ là sự dễ dãi dành cho những người thấy khó bỏ được thói quen ăn thịt mà thôi.

            Nhưng làm bất cứ điều gì, là phải làm với hiểu biết, chứ không phải vì ép buộc, hoặc cưỡng bách. Nếu dùng trí thông minh, ta sẽ bết nên làm gì, không cần biết nhiều luật lệ hay giới răn – Do đó, không có việc gì xảy ra – người ta hỏi tôi: “Xin chỉ dùm xem con phải làm gì?” Tôi từ chối và nói rằng: “Nếu tôi bảo bạn phải làm những việc như – đừng hút thuốc, uống rượu, v.v… bạn sẽ không làm. Vì thế, tôi sẽ không bảo bạn nên làm gì cả. Thay vào đó, tôi muốn nỗ lực giúp bạn tự tìm xem mình phải làm gì.” Điều nầy cón khó hơn là được môt người khác chỉ bảo phải làm những gì. Nhưng nếu bạn có thể làm được, bạn sẽ không cần dựa vào sự hiểu biết (của người nhai lại khác) hoặc giới có thẩm quyền từ bên ngoài. Những gì tôi đang nói thật ra chẳng ngài ý:

NGHĨ CHO CHÍNH MÌNH.

Thượng tọa Abhinyana

Đánh máy lại ngày 19 tháng 5 / 2014

hoanglonghải

 

 

Tác giả:

“Thượng Tọa Abhinyana,  quốc tịch Úc, sinh năm 1946 tại Anh, trong một gia đình gốc Tin Lành, bắt đầu tiếp xúc và tín hướng Phật pháp 1970 sau chuyến du lịch Ấn Độ. Ngài xuất gia 1972 tại Mã Lai trong truyền thống PG Thái Lan, và bắt đầu giảng dạy Phật pháp từ 1979. Suốt thập niên 1980, Ngài phát tâm qua ở hẳn để giúp đỡ các trại tỵ nạn Đông Nam Á, mà lâu nhất và nhiều nhất là 2 trại Palawan và Bataan ở Phi luật tân. Ngài sống đồng cam cộng khổ, xây chùa, hướng dẫn tu học, giảng dạy, bênh vực, giúp đỡ và tổ chức nhiều công tác cộng đồng, xã hội, cứu tế cho hàng chục ngàn đồng bào Việt-Miên và hàng trăm Tăng Ni Việt Nam tỵ nạn đến đây.
Trong 9 chuyến trở về ủy lạo nhiều chục ngàn đồng bào mới tỵ nạn đến trại ở khắp các nước Đông Nam Á từ 1985-1993, chúng tôi mấy lần trong các năm 1987, 1989 và 1991, đã được Ngài Abhinyana tiếp đón và tận tình giúp tổ chức các buổi thuyết giảng tại chùa Vạn Đức, tiếp xúc thẩm quyền Phi, UNHCR và các tôn giáo bạn, nhất là giúp tổ chức phân phát quà cứu trợ do Đồng hương Úc châu quyên tặng để Cơ Quan Cứu Tế Phật Giáo Úc châu do Tu Viện Vạn Hạnh điều hành, mang đến biếu tặng bà con tỵ nạn ở Palawan và Bataan, Philippines.
Khi làn sóng tỵ nạn bắt đầu giảm sút và chấm dứt, Ngài Abhinyana đi hoằng pháp khắp nơi trên thế giới, giữ liên lạc và được kính trọng quý mến nơi rất nhiều Tăng Ni Phật tử ở Âu, Mỹ và Úc châu. Ngài thường trở về Mã Lai và nhất là Úc (cha mẹ Ngài ở Adelaide) để thăm viếng và giảng dạy tại các chùa Việt ở Sydney, Canberra, Melbourne, vv…
Thượng Tọa Abhinyana viên tịch lúc 5am Thứ Hai 15/4/2008 tại tư gia của người chị ruột ở vùng Nampour ở Sunshine Coast, QLD, sau mấy tháng lâm bạo bệnh. 

(Tài liệu của Hòa Thượng Thích Quảng Ba, Úc)

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: