Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Chúng ta đã kế thừa những gì? – Thượng Tọa Abhinyana

Có khi nào bạn nghĩ chúng ta đã kế thừa từ những người khác bao nhiêu không? Tôi không muốn nói về nhà cửa, đất đai, tiền bạc hoặc những vật gia truyền, mà muốn nói về những tình trạng hiện nay của nền văn minh ngày nay mà những người thời trước – một số chúng ta biết, đa số chúng ta không biết – đã tạo dựng và làm nên; về mặt trái của vấn đề nầy – vì sự việc gì ít lắm cũng có hai mặt, và nhiều khi có nhiều mặt hơn nữa – là việc làm khô cạn các tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm không khí, đất đai và nước đã tiếp diễn từ lúc Con Người có mặt trên quả Địa Cầu. Chúng ta cũng đã kế thừa luôn cả những điều nầy. Rồi đến văn hóa và ngôn ngữ của loài người mà chúng ta đã được sanh trưởng đó và trở thành “của chúng ta” – không do chúng ta lựa chọn, mà y như bú sữa mẹ vậy – một cách tự động, không hỏi han gì cả.

            Không có một ai trong chúng ta đã sáng tạo ra môt mẫu tự nào, và chúng ta cũng không biết ai đã sáng chế ra. Nhưng chúng ta dùng những chữ do những mẫu tự ấy ráp thành – mẫu tự và chữ của người khác – không suy nghĩ và cứ cho đó là của chúng ta.

            Chúng ta đã mắc nợ đối với những người đi trước chúng ta rất nhiều.

            Có lần tôi đã đọc một câu truyện về một bộ lạc sống không có chữ viết. Tuy không chữ viết, nhưng họ thấy cũng không thiếu sót gì. So với chúng ta thì chúng ta sẽ cảm thấy thiếu nếu bất chợt chữ viết của chúng ta bị tước đoạt đi. Họ rất khéo léo trong xử dụng văn nói, – duy chỉ có một người, khi ra đời ông bị câm và điếc. Ông ta còn bị mất nhiều hơn so với người cùng cảnh ngộ thời nay. Người thời nay được dạy học và “đánh vần với những dấu hiệu chấm nổi bằng đầu ngón tay”. Không nói, nghe được, không có chữ viết, ông không những bị ngăn cách với mọi người trong việc truyền thông, mà còn không học được kiến thức tích tụ vào thời đó – những cái mà ta coi như chuyện đương nhiên.

            Những thứ khác chúng ta thừa hưởng là tín điều Tôn Giáo và ý niệm về cuộc-sống-sau-khi-chết. Thượng Đế, Thiên Đàng, Địa Ngục, v.v… Nếu không ai bảo chúng ta những vấn đề nầy, hoặc nếu chúng ta không học được từ đâu đó, thì liệu chúng ta có được những ý niệm và niềm tin nầy không? Khi thấy con người hay sinh vật chết đi, chúng ta có thể tò mò muốn biết sau khi chết chuyện gì sẽ xảy ra. Nhưng mọi người trong chúng ta đây khó có thể tự đề ra một triết thuyết đầy đủ về các vấn đề trên. Nhưng điểm nầy được hình thành trong một thời gian lâu dài, hoặc kết quả của một số cá nhân có “thiên phú” sau khi thâm ngộ giác sâu. Nhưng đa số, chúng ta chỉ tiếp nhận những niềm tin để lại của gia đình hay văn hóa. Nó là một phần của quá trình uốn nắn điều kiện hóa từ lúc chúng ta chào đời.

            Ngày nay, trên Thế Giới có nhiều Tôn Giáo và triết thuyết khác nhau, một số có quan điểm trùng nhau và môt vài điểm không đồng ý với nhau, như Đạo Do Thái và Đạo Hồi, trong khi lại có những Tôn Giáo so với các tôn giáo khác, có nhiều dị biệt hơn là những điểm tương đồng, nhu Ki-Tô Giáo và Ấn Giáo. Không có tôn giáo nào đã thành công trong việc chứng minh, vượt hẳn mọi nghi ngờ, những gì họ cho là chân lý là đúng. Chính vì thế, xung đột về tôn giáo đã tiếp diễn xưa nay trong lịch sử loài người, từ lúc (hay là trước thời) vua Ai Cập Pharoah Aknaten, người đầu tiên đưa ra Thuyết Nhất Thần vào Thế kỷ 15 trước Tây Lịch cho đến nay, không có ai không bị ảnh hưởng bởi thuyết nầy, cho dù chúng ta tự gán cho mình một cái tên gì đi nữa. Chúng ta không cần phải sống ở Ấn Độ, nơi mà người Sikh giết người Ấn, người Ấn giết người Hồi Giáo, hay ở Li-Băng nơi người Hồi Giáo và người Ky-Tô Giáo chém giết lẫn nhau, hoặc ở Ái Nhĩ Lan, nơi ngưòi Thiên Chúa giáo giết người Tin Lành. Cơn điên tôn giáo có thể đến với chúng ta, dù chúng ta sống ở đâu đi nữa, vì thế giới ngày nay đã thu nhỏ lại và không một ai có thể sống riêng biệt được nữa. Ngày nay, chúng ta cùng chịu cái Nghiệp Chung của Thế Giới nhiều hơn hồi trước. Những trái bom của bọn khủng bố giết hại nhiều người ngoài cuộc vô tội tại những nơi xa xôi không phải là quốc gia của bọn họ. Thật lạ lùng sao nhiều người trong bọn nầy tự xưng là người rất mộ đạo. Sự cuồng tín đã không chết với cuộc chiến tôn giáo Thập Tự Quân nhưng nọc độc của nó vẫn còn đó.

            Không phải kỳ lạ và mâu thuẫn quái gở hay sao, khi ta thấy bao nhiêu người có thể thù hận và giết hại trên danh nghĩa của tôn giáo? Chắc chắn không có một tôn giáo nào dạy bất cứ ai làm việc đó. Ngược lại, tôn giáo nào cũng khuyến khích người ta chung sống hòa bình. Thế tại sao ngày nay, khi khả năng nằm trong tầm tay bất cứ của bất cứ người nào đó giữ vững và thi hành những giáo lý, thì chúng ta lại thấy trên thế giới bao nhiêu tranh chấp tôn giáo. Thật là một điều bí ẩn vĩ đại.

            Đúng, người ta đều có thể học hỏi về tôn giáo của mình – và học hỏi về tôn giáo bạn nữa – dễ hơn so với những thời kỳ trước, vì số người biết đọc biết viết gia tăng, phương tiện truyền thông đa dạng, giao thông dễ dàng hơn, v.v… Nhưng như vậy, không có nghĩa là mọi người chụp lấy cơ hội để học hỏi, đúng không? Một số nhỏ thì có, nhưng đa số không thèm bận tâm tới. Có nhiều người vẫn chấp nhận tôn giáo của mình là – nhất định không sai – chân chính – (và, lắm khi là tôn giáo duy nhất), chỉ vì đó là tôn giáo của họ, và không biết chi cả về tôn giáo nào khác. Thông thường, chúng ta thấy rằng những người nầy rất tự mãn về cái vô minh của mình, và coi đó là một đức tính tốt thay vì là khuyết điểm. Một số lại sẳn sàng giết người – vì tôn giáo của mình. Rõ ràng đây là một dấu hiệu họ đã hiểu sai tôn giáo của họ. Điều nầy xảy ra là bởi họ là Kẻ Tin Theo chứ không phải là Trí Giả.

            Và đây là – Niềm Tin ngược lại với Hiểu Biết – xưa đã là, nay vẫn còn là cái điểm tranh chấp giữa Tôn Giáo và Khoa Học. Hố chia cắt nầy có bao giờ được nối liền không, hay phải còn xa cách mãi mãi. Có thể nối liền được. Nếu tôn giáo không được coi như là cái để mà tin vào, hay để mà đồng nhất, hay là cái gì đó làm cái ngã được bành trướng và thổi phồng. Nhưng có một cái gì đó, (mà chúng ta phải sống với nó) và ứng dụng trong quan hệ giữa chúng ta với mọi người. Nếu tín đồ Ki-Tô Giáo, Hồi Giáo, Ấn Giáo, Phật Giáo, Do Thái Giáo, v.v…thực lòng nổ lực ứng dụng  tôn giáo của mình thì có lẽ sẽ không có – có thể không có – bất cứ tranh chấp tôn giáo nào cả. Mặc dù như thế, với bao nhiêu tranh chấp đang tiếp diễn trên thế giới, có phải việc nầy cho ta biết nhãn hiệu tôn giáo đã mất hẳn ý nghĩa của nó chăng? Do đó, tại sao chúng ta không bỏ đi? Nếu chúng ta nghiêm chỉnh muốn sống cho đúng lẽ đạo, cái tên không là điều cần thiết. Đời Sống không chia rẽ là Tôn Giáo.

            Đánh giá thật kỹ về cuộc sống của một người, sẽ giúp cho chúng ta có thể quyết định được, bao nhiêu là của mình qua sự thừa kế, – và do đó, thật ra không phải là của chúng ta – và bao nhiêu là của chúng ta qua việc kiếm, qua việc lựa chọn, qua kinh nghiệm và qua việc nhận ra được các chứng cớ để tiến đến niềm tin chân xác? Có thể chúng ta sẽ tìm thấy rất ít cái gì thực sự là của mình – đừng buồn – điều nầy sẽ giúp chúng ta tiến bước được nhẹ nhàng hơn, thoát khỏi mớ hành lý gom góp được từ quá khứ mà đa số đều là những thứ đồ cũ không đáng giá. Nói như vậy, tôi không có ý nói chúng ta nên, bỗng nhiên vất đi tất cả những gì quá khứ (trọn bộ), không kiểm soát, nhưng tôi có ý muốn nói là chúng ta nên xem xét sự việc, dùng ánh sáng của lý trí và kinh nghiệm để xem những cái đó còn có giá trị gì nữa không, và có đáng để giữ lại, hay là phải cất vào viện bảo tàng hoặc bỏ vô thùng rác. Cặn bẩn phải bị loại bỏ khỏi vàng ròng.

Khác với mọi người đã nghĩ, các nền văn hóa không chia rẽ chúng ta. Cái mà chia chúng ta ra là tật cố chấp vào văn hóa của mình, với cái tâm ghét bỏ hoặc sợ hãi các nền văn hóa khác.

            Các nền văn hóa gặp gỡ và phủ lấp lên nhau như vẩy cá, hay như ngói trên mái nhà, chứ không cách biệt hay tách rời nhau riêng biệt như trong những phòng khép kín, cho nên không cần ôm chặt văn hóa của mình một cách ta đây số dách, và bài ngoại cùng phỉ báng các văn hóa khác, trong khi chúng tá có thể – và thực sự – hưởng được cái hay của nền văn hóa nầy.

            Xin nêu vài ví dụ: Các nước Ả Rập ở Trung Đông xưa nay vẫn có mỏ dầu dưới lòng đất, đâu phải là cái gì được bỗng nhiên sáng tạo cùng môt lúc với việc phát minh máy nổ; mà vì họ không có kỹ thuật để khoan và lọc các tài nguyên về dầu hỏa. Họ phải nhờ đến những người của các nền văn hóa khác có đầy đủ phương tiện kỹ thuật.

            Làm sao chúng ta có thể sống chia rẽ và tách rời nhau được? Chỉ cần nhìn những thứ như TV, video, xe hơi, đồng hồ, máy ghi âm, tủ lạnh, v.v… để biết những thứ ấy được chế tạo ở đâu thì chúng ta sẽ thấy hầu như chúng được chế tạo bởi các quốc gia, dân tộc khác. Nhưng như vậy thì đã sao? Họ làm việc cho chúng ta phải không? Hãy tỏ lòng biết ơn đối với những ai – dù chúng ta không biết đến họ – đã làm những đồ vật ấy cho chúng ta. Nếu bạn là một triệu phú và không có người phát minh hay làm ra TV, thì làm gì bạn có TV mà xem, dù bạn trả hết số tiền bạn có. Cho nên hãy vui mừng mà đón nhận nền văn minh thế giới, và nhận thức rằng bạn là môt phần tử trong đó, dù bạn muốn hay không, chỉ vì bạn là một phần tử của loài người.

            Một ví dụ khác – mặc dù có vẻ không rõ ràng lắm, – về những lợi ích chúng ta đã hưởng được từ các văn hóa khác, như việc dùng những con số. Qua bao nhiêu thế kỷ, người Châu Âu đã dùng những con số La Mã (I, II. L, C, D, M) trong đó không có con số không. Hãy tưởng tượng sự khó khăn khi nhân số XVI với CLVII chẳng hạn (16 x 157) hay chia LX III cho XIX (63:19). Đổi qua dùng con số Ả Rập, với con số 0, con số nầy bắt nguồn từ Ấn Độ làm cho mọi việc dễ dàng hơn như – xây cất, phát triển khoa học, chưa kể đến việc ghi tiền bạc. Những ai nghĩ con số 0, không là gì cả thì thật là lầm to. Nếu thật nó không là gì cả thì người ta đâu có xài đến nó, phải vậy không?

            Sự ngần ngại, lo sợ, từ chối tìm hiểu tôn giáo và văn hóa khác hơn ngoài cái của mình, không những để lộ nỗi bất an trong thâm tâm mà còn đánh mất đi vô số kho tàng, và tự thu hẹp mình lại, như ếch ngồi đáy giếng. Hơn nữa, sẽ đưa mình tới, hầu như là đương nhiên, sự cuồng tín và những hậu quả bi thảm thường từ đó nảy sinh. Nếu chúng ta nhìn lại mức độ đau khổ và tàn hại gây ra bởi sự cuồng tín về tôn giáo, và nhận thức rằng chủ yếu là do sự vô minh, chúng ta sẽ thấy chúng ta có thể làm được một cái gì đó để giảm bớt, nếu không ngăn ngừa được. Sự tiếp tục nó bằng cách mở rộng tấm lòng đón nhận những thứ như văn hóa và tôn giáo, những thứ mà theo đúng bản chất có tính cách giới hạn và không được hoàn hảo.

            Chúng ta không cần phải là Ki-Tô Hữu  mới linh cảm trước không khí thâm sâu của những tòa giáo đưòng vĩ đại ở Notre Dame hay Rheims, không cần phải là tín đồ Hồi Giáo mới đánh giá được vẻ đẹp không thể tả được của đền Taj Mahai (ở Ấn Độ) hay Blue Mosque (ở Istambul) cũng không cần phải là Phật Tử mới thấy kinh ngạc trước kỳ công tuyệt diệu của những tháp Xá Lợi Borobudur (tại Indonesia), hay là Shwe Dagon (tại Burma) cũng không cần phải là tín đồ Ấn Giáo mới thấy rung động bởi tầm vóc không thể tưởng tượng và hùng vĩ của những đền như Meenakshi hay Kailash tại Ellora, và cũng không cần phải là người Ai Cập, Druid, Inca, Hy Lạp, v.v… mới có thể chiêm ngưỡng trong kinh ngạc khi đứng trước những tòa Kim Tự Tháp, Cổng Tròn bằng đá (tại nước Anh) Macchu Picchu (Peru) Parthenon  (Athen), Vạn Lý Trường Thành, v.v…. Và cũng không phải là ngưòi Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Nhật, Ấn, v.v… để hưởng những lợi ích do những cuộc phát minh, sáng chế, tìm tòi của các nhà khoa học, y học, kỹ thuật và nghệ thuật.

            Chúng ta chỉ cần là người, những con người, một phần tử của LOÀI NGƯỜI.

Đánh máy lại ngày 17 tháng 5/ 2014

hoanglonghải

 

 

Tác giả:

“Thượng Tọa Abhinyana,  quốc tịch Úc, sinh năm 1946 tại Anh, trong một gia đình gốc Tin Lành, bắt đầu tiếp xúc và tín hướng Phật pháp 1970 sau chuyến du lịch Ấn Độ. Ngài xuất gia 1972 tại Mã Lai trong truyền thống PG Thái Lan, và bắt đầu giảng dạy Phật pháp từ 1979. Suốt thập niên 1980, Ngài phát tâm qua ở hẳn để giúp đỡ các trại tỵ nạn Đông Nam Á, mà lâu nhất và nhiều nhất là 2 trại Palawan và Bataan ở Phi luật tân. Ngài sống đồng cam cộng khổ, xây chùa, hướng dẫn tu học, giảng dạy, bênh vực, giúp đỡ và tổ chức nhiều công tác cộng đồng, xã hội, cứu tế cho hàng chục ngàn đồng bào Việt-Miên và hàng trăm Tăng Ni Việt Nam tỵ nạn đến đây.
Trong 9 chuyến trở về ủy lạo nhiều chục ngàn đồng bào mới tỵ nạn đến trại ở khắp các nước Đông Nam Á từ 1985-1993, chúng tôi mấy lần trong các năm 1987, 1989 và 1991, đã được Ngài Abhinyana tiếp đón và tận tình giúp tổ chức các buổi thuyết giảng tại chùa Vạn Đức, tiếp xúc thẩm quyền Phi, UNHCR và các tôn giáo bạn, nhất là giúp tổ chức phân phát quà cứu trợ do Đồng hương Úc châu quyên tặng để Cơ Quan Cứu Tế Phật Giáo Úc châu do Tu Viện Vạn Hạnh điều hành, mang đến biếu tặng bà con tỵ nạn ở Palawan và Bataan, Philippines.
Khi làn sóng tỵ nạn bắt đầu giảm sút và chấm dứt, Ngài Abhinyana đi hoằng pháp khắp nơi trên thế giới, giữ liên lạc và được kính trọng quý mến nơi rất nhiều Tăng Ni Phật tử ở Âu, Mỹ và Úc châu. Ngài thường trở về Mã Lai và nhất là Úc (cha mẹ Ngài ở Adelaide) để thăm viếng và giảng dạy tại các chùa Việt ở Sydney, Canberra, Melbourne, vv…
Thượng Tọa Abhinyana viên tịch lúc 5am Thứ Hai 15/4/2008 tại tư gia của người chị ruột ở vùng Nampour ở Sunshine Coast, QLD, sau mấy tháng lâm bạo bệnh. 

(Tài liệu của Hòa Thượng Thích Quảng Ba, Úc)

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: