Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

CUỘC HỌP TẠI CAM RANH NGÀY 14-3-1975 – Bùi Anh Trinh

( Trích sách “Giải Mã Những Bí Ẩn của Chiến Tranh Việt Nam” của Bùi Anh Trinh )

Cuộc họp tại Cam Ranh

Năm 1975, ngày 14-3, Tướng Thiệu cùng Tướng Khiêm, Tướng Viên và Tướng Quang đi cùng một chuyến máy bay, bay đi Đà Lạt để đánh lạc hướng theo dõi của CIA rồi mới đáp xuống Cam Ranh. Trong khi đó Tướng Phú cũng đánh lạc hướng theo dõi bằng cách bay từ Pleiku xuống Quy Nhơn rồi mới bay vào Cam Ranh.

Từ 11 giờ 30 sáng đến 1 giờ trưa, 5 ông Tướng họp mật trong một dinh thự bỏ trống giữa Căn cứ quân sự Cam Ranh. Kết quả của cuộc họp là Tướng Phú nhận được lệnh rút quân chủ lực và toàn bộ vũ khí hạng nặng ra khỏi Cao nguyên Pleiku-Kontum. ( Phạm Huấn, Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên ).

* Chú giải : Nội dung cuộc họp

Có 7 quyển sách nổi tiếng đã thuật lại tỉ mỉ cuộc họp tại Cam Ranh với lối văn “Thiệu hỏi, Phú đáp, Viên nói…” :

(1) – Năm 1976, sách Đại Thắng Mùa Xuân của Tướng CSVN Văn Tiến Dũng :

Thiệu lại nói: “Rút bằng đường số 19 được không?”

Viên trả lời: “Trong lịch sử chiến tranh Đông Dương, chưa có lực lượng nào rút theo đường số 19 mà không bị tiêu diệt”.

Thiệu hỏi thêm: “Thế thì đường số 14 ra sao?”

Viên đáp: “Đường số 14 lại càng không thể đi được”.

Mọi người dự họp thấy chỉ còn con đường số 7, từ lâu không dùng đến, tuy xấu nhưng tạo được yếu tố bất ngờ”.

Đây là Tướng Dũng viết theo lời khai của Tướng VNCH Phạm Duy Tất ở trong nhà tù CSVN. Nhưng Tướng Tất thuật lại theo lời kể của Tướng Phú chứ Tất không có mặt tại chỗ.

Dĩ nhiên đây là một đoạn thuật sự giả tưởng, bởi vì Tướng Phú không có lý do gì để kể với bộ tham mưu Quân đoàn 2 về “Tổng thống nói, tôi nói”. Và Tướng Tất cũng không có lý do gì để khai với quản giáo trại tù rằng “Tướng Phú nói Tổng thống Thiệu nói…, Tướng Phú nói ông ta nói…”

(2) – Năm 1977, sách “55 Days, The Fall of South Vietnam” của Alan Dawson :

Dừng hồi lâu, Thiệu quay ra hỏi Cao văn Viên “ Rút theo đường 19 có được không?”

“Thưa Tổng thống, trong lịch sử chiến tranh ở Đông Dương, chưa có lực lượng nào rút theo đường 19 mà không bị tiêu diệt”

Kế hoạch rút lui được Thiệu, Viên, Phú bàn tính kỹ, mọi con đường rút về duyên hải đều bị chận, chỉ còn Đường 7.B.

Rõ ràng Dawson viết theo sách của Tướng Dũng.

(3) – Năm 1978, sách “Decent Interval”của Frank Snepp:

“Thiệu chuyển sang vấn đề đặc biệt quan trọng là dùng đường nào để rút lui? Trong khi Đường 19 đi duyên hải , và Đường 14 đi Vùng 3 đều bị chận. Thiệu hỏi Phú chọn đường nào? Tới đây Tướng Viên chen vào, nhấn mạnh rằng cả hai đường đều không an toàn đối với lực lượng của Tướng Phú. Chỉ còn con đường 7.B, một con đường hư cũ, chạy về miền duyên hải ngang qua tỉnh Phú Bổn” ( Decent Intervault, trang 193 ).

“Dầu sao đi nữa, ý kiến của Tướng Viên cũng đã đưa tới quyết định sau cùng là chọn con đường 7.B để làm lộ trình triệt thoái quân CNVH ra khỏi Cao Nguyên mà không cần biết con đường đó có còn sử dụng được hay không”. ( trang 194).

(4) – Năm 1983 , sách The Final Collapse của Tướng VNCH Cao Văn Viên :

“Sau đó Tổng thống Thiệu hỏi Tướng Phú tái phối trí ra sao, và dùng đường nào để đem quân trở lại Ban Mê Thuột… … Tướng Phú dự định sử dụng liên tỉnh lộ 7.B…”.

Và đến năm 2003, khi tác phẩm The Finl Collapse được dịch ra tiếng Việt, Tướng Viên ghi chú thêm rằng : “Frank Snepp trong tác phẩm Decent Intreval, viết tác giả là người chọn con đường 7.B để triệt thoái là hoàn toàn đoán mò”.

Lời của Tướng Viên có thể tin được bởi vì Tướng Viên không thể nào qua mặt được các Tướng đàn anh của mình. Tướng Thiệu, Tướng Khiêm và Tướng Quang đều tốt nghiệp khóa 1 Sĩ quan Võ bị Quốc gia năm 1948. Trong khi Tướng Viên vào năm 1949 mới tốt nghiệp Trường Hạ sĩ quan Nước Ngọt của quân đội Pháp với cấp bậc Trung sĩ ( Hồi ký của Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, cùng khóa HSQ với Tướng Viên và Tướng Nguyễn Chánh Thi ).

Nếu lúc đó Tướng Viên giở giọng “Thưa Tổng thống, trong lịch sử chiến tranh ở Đông Dương, chưa có lực lượng nào rút theo đường 19 mà không bị tiêu diệt”, thì có lẽ 3 ông tướng đàn anh sẽ nhìn Tướng Viên như nhìn người điên, bởi vì cả ba ông rành chuyện này hơn Viên rất nhiều. Viên không cần phải dạy khôn cho họ. Vả lại Viên chưa bao giờ điều binh tới cấp lữ đoàn và cả đời chưa tham dự một trận đánh lớn nào.

(5) – Năm 1986, sách The Palace File của Nguyễn Tiến Hưng : “Vì Bắc Việt đã phong tỏa các trục lộ chính, Phú đề nghị sử dụng con đường liên tỉnh số 7B để rút khỏi Pleiku như một yếu tố bất ngờ”.

Ông Hưng viết lên điều này sau 24 cuộc nói chuyện và phỏng vấn Tướng Thiệu, coi như đây là tiết lộ của Tướng Thiệu, và là lời chứng xác thực nhất.

(6) – Năm 1991, sách Vietnam War của Trung tướng tình báo Hoa Kỳ Phillip B. Davidson : “Thiệu ra lệnh cho Tướng Phú : 1. Rút quân chủ lực tại Kontum và Pleiku về Duyên hải để tổ chức tái chiếm Ban Mê Thuột. 2. Bỏ rơi lực lượng ĐPQ và dân sự của Kontum, Pleiku. 3. Giữ bí mật và thực hiện càng sớm càng tốt. 4. Sử dụng LTL.7 để rút lui” ( trang 777 ).

Davidson thuật lại lời của một nhân chứng có mặt trong buổi họp nhưng không cho biết là tướng nào. Tuy nhiên xét lại từng câu thì rõ ràng Tướng Thiệu chỉ đưa ra quyết định sau rốt của cuộc họp chứ không phải chính Tướng Thiệu có sáng kiến rút bằng LTL.7.

(7) – Năm 1993, sách Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975 của Phạm Huấn:

Tướng Thiệu quay nhìn Tướng Phú đổi giọng thân mật : “Thế nào Phú, “toi” có ý kiến gì không?”

Tướng Phú : “Để giữ được yếu tố bất ngờ, tôi xin đề nghị chọn Đường số 7 để rút quân…”

Phạm Huấn thú nhận là đoạn này một phần do tướng Phú “tiết lộ”, còn lại do ông tự nghĩ ra, và ông đã viết về đoạn này tới ba lần, lần đầu tháng 2 năm 1987, lần hai tháng 4 năm 1987 và lần ba năm 1993; và mỗi lần mỗi khác. Có lẽ nhờ đọc sách của Nguyễn Tiến Hưng mà Huấn cho rằng chính Phú đề nghị dùng đường 7.B chứ trong thực tế khó có thể tin rằng Phú đã thố lộ với Huấn rằng chính mình đề nghị.

Quyết định rút bằng Liên Tỉnh Lộ 7 là một quyết định rất sáng suốt : Sau này mọi sách vở đều cho rằng quyết định đi bằng Liên tỉnh lộ 7 là đi vào “tử lộ”, cho nên người ta vin vào sách của Frank Snepp mà đổ cho Tướng Viên đã có ý phá hoại khi quyết định chọn LTL 7. Nếu không cố ý phá hoại thì là ông ta quá dốt.

Tuy nhiên so lại với sách của Tướng CSVN Văn Tiến Dũng và sách của Tướng CSVN Đặng Vũ Hiệp thì phía CSVN hoàn toàn không ngờ đến việc quân VNCH di tản bằng LTL.7. Họ chỉ biết được tin di tản vào lúc 9 giờ tối ngày 16-3-1975, khi mà đoàn di tản đã đi được 1 ngày trời, lúc đó con đường 7.B sáng rực ánh đèn như một giòng sông ánh sáng lấp lánh giữa núi rừng Cao Nguyên.

Lúc đó Tướng Dũng mới vội vàng chỉ thị cho 1 tiểu đoàn của Sư đoàn 320 CSVN đang nằm sẵn tại Phú Bổn ngay tức khắc tấn công đoàn di tản nhưng tiểu đoàn này phải đợi tới 2 ngày sau mới dám tấn công quấy rối, còn đại quân 2 trung đoàn của Sư đoàn 320 CSVN phải tới 4 ngày sau mới đuổi kịp đoàn di tản nhưng chỉ vào tiếp thu những nơi mà đoàn di tản đã đi qua.

Cần phải ghi nhận một điều là ngày 14-3-1975 phía VNCH không hề biết quân CSVN hiện diện tại BMT tới 4 Sư đoàn. Trong khi đó chỉ biết là Sư đoàn 10 đang đánh Quảng Đức và Sư đoàn 320 đang đánh BMT cho nên nghĩ rằng phía CSVN sẽ không còn quân dành cho mặt trận LTL.7. Và thực tế Hồi ký của Tướng CSVN Đặng Vũ Hiệp cho thấy Sư đoàn 320 B chỉ được giao nhiệm vụ làm chốt chận tại Phú Nhơn, nhưng cũng theo Tướng Hiệp thì tại Phú Nhơn chỉ có Trung đoàn 9 thuộc Sư đoàn 320 mà thôi. Còn Trung đoàn 64 và 48 của SĐ 320 được ghi nhận là vào tiếp thu quận Buôn Hô ngày 14-3 sau khi Buôn Hô bỏ ngỏ ngày 13-3 .

Và sau đó là tiếp thu Hậu Bổn, Phú Túc, Củng Sơn sau khi các nơi này đã bị bỏ ngỏ. Từ trước tới sau hình ảnh của hai trung đoàn rất mờ nhạt, hoàn toàn không xuất hiện trong bất cứ một trận đánh nào. Cho nên có thể hai Trung đoàn này cũng đã bị tổn thất nặng sau trân Pleime vào tháng 4 năm 1974, không còn khả năng chiến đấu.

Về khía cạnh kỹ thuật quân sự, chuyên gia phân tích tin của CIA là Frank Snepp, cáo buộc Tướng Cao Văn Viên là ông tướng đã đưa ra đề nghị rút bằng LTL.7 mà không biết con đường đó còn sử dụng được hay không, bởi vì đoạn đường từ Phú Túc đi Củng Sơn ( 45 cây số ) đã bị bỏ hoang từ năm 1964.

Tuy nhiên điều này không phải là vấn nạn đối với công binh VNCH, họ dư sức ủi đường, bắt cầu kịp với đà tiến quân, và thực tế cho thấy họ đã hoàn thành 3 cây cầu đúng như dự liệu : Gia cố cầu Ea Nu trong 2 ngày, bắt cầu Lơ Bắc vượt sông Cà Lúi trong 2 ngày và bắt cầu phao vượt sông Ba trong 1 ngày. Riêng đối với Tướng Phú thì ông đã có kinh nghiệm trong việc sử dụng Quốc lộ 9 trong cuộc hành quân Nam Lào năm 1971. Năm đó Sư đoàn 1 BB của ông tiến quân đúng như kế hoạch mặc dù Quốc lộ 9 và Đường số 914 từ A Shao đi Tchepone đã bị bỏ hoang từ năm 1954.

Năm 1975, ngày 14-3, buổi chiều. Tài liệu của CIA : “Chiều ngày 14/3, sau khi Nicol đã đi Nha Trang, Stephens ( phụ tá của Nicol?) đến bộ tư lệnh quân đoàn 2 kiếm tin về cuộc họp giữa Phú và Thiệu. Stephens gặp Lý trước, Lý chưa nói được gì thì Phú bước vào. Stephens thấy Phú có vẻ thất sắc và mất bình tỉnh, nhưng Stephens nghĩ Phú đang lo về tình hình quân sự suy đồi của vùng 2 chứ không liên quan gì đến nội dung chỉ thị của Thiệu trong buối họp buổi sáng tại Cam Ranh” ( CIA và Các Ông Tướng, Bản dịch của Trần Bình Nam ).

Cũng buổi chiều, tại Sài Gòn, theo Frank Snepp : “Tướng Homer Smith, Chỉ huy trưởng quân đội HK tại VN ghé thăm tướng Cao Văn Viên mới từ Cam Ranh trở về. Vẫn tươi cười, Tướng Viên không hé lộ điều gì về cuộc họp ở Cam Ranh”.( Decent Intervault, trang 195 )

BÙI ANH TRINH

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: