Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Ngưỡng cửa – hoànglonghải

1Tôi bị sạn mật, phải mổ tới ba lần, trong vòng một năm.

            Trước tiên, hôm đó đi làm về, tôi nằm nghỉ trong phòng nghe nhạc. Tôi ít thích nằm trong phòng ngủ, trừ khi đi ngủ. Không khí phòng ngủ “chật hẹp” như thế nào ấy. Ở xứ lạnh nầy, người ta ít khi ra sân, phải ở trong nhà hoài, đã thấy ngột ngạt. Huống chi lại phải chui vào phòng ngủ.

            Tôi thường nằm nghỉ ở family room, lại là phòng nghe nhạc và coi phim chung cả nhà. Phòng có TV, có máy nghe nhạc, có vài kệ sách. Đi nghỉ, tôi nằm ở sofa, nghe nhạc, đọc sách, trong một cái phòng tương đối rộng, thấy thoải mái hơn nhiều.

            Hôm đó, lần đầu tiên, tôi nằm ở sofa, chưa tính nghe nhạc hay xem TV gì cả thì thấy đau ở ngực, đau dữ dội. Nhà tôi liền gọi ambulance đưa tôi vào phòng emergency của Worcester Medical Center. Bệnh viện nầy mới khai trương vài năm nay, hiện đại, tiện nghi.

            Thấy tôi khai đau ở ngực, các bác sĩ sợ tôi đau tim, tôi lại có tuổi nên họ vội chích thuốc giảm đau, đem soi điện, v.v… Họ không tìm ra bệnh gì cả. Tim, phổi tôi vẫn tốt. Đâu có bộ phận nào ở ngực làm cho tôi đau ngực.

            Gần sáng, bệnh viện cho về. Bác sĩ Lê Đức, bác sĩ VN độc nhất đang thực tập ở đây, nói với tôi:

            -“Ai cũng cho là khó hiểu. Không có cái gì ở ngực làm cho chú đau ngực. Chích thuốc bớt đau, bệnh viên phải cho về. Về nhà, nếu chú thấy đau xuống phía bụng, bên phải hay bên trái gì cũng vậy, nên vào bệnh viện ngay.”

            Tôi “ừ” cho xong chuyện mà về.

            Ba ngày sau, tôi lại đau. Xe ambulance tới. Thấy tôi đau dữ dội quá, nhà tôi thiếu đường muốn lạy các nhân viên y tá theo xe xin cứu tôi. Họ biểu an tâm.

            Khi vô tới phòng cấp cứu, tôi khai đau ngực và thêm một chỗ nữa: phía bụng bên mặt. Các bác sĩ thay nhau khám gần như suốt đêm. Sáng ra, họ đưa giấy tờ cho nhà tôi ký, cho biết đang chuẩn bị mổ cho tôi. Tôi bị sạn mật, phải cắt bỏ trái mật đi.

            Một cô bác sĩ gốc Nga, – gọi là cô vì còn trẻ, mới ra trường mấy năm, kể công với nhà tôi: “Chính tôi tìm ra bệnh cho chồng bà. Tôi tìm ra đấy.”

            Nhà tôi nói: “Cám ơn nhiều!”

            Lần mổ thứ nhứt thật dễ chịu. Bác sĩ Angelis xoi ba lỗi ở bụng, gần túi mật, xong thò kéo vào, cắt và đem ra. Thế là xong. Mổ xong, ông ra thăm nhà tôi ở phòng đợi, nói: “Xong rồi. Tôi vất cái túi mật đi. Hôi lắm. Viên sỏi to, chiếm hết cả cái túi mật.”

            Trong khi đó, thuốc mê làm cho tôi ngủ môt giấc dài. Thức dậy, tôi chưa bao giờ thấy sảng khoái sau môt giấc ngủ ngon như vậy.

&

            Chưa đầy hai tháng sau, tôi lại vào bệnh viện. Bác sĩ giải thích: “Túi mật không còn. Mật từ gan tiết ra, đi thẳng vào hạ vị qua một cái ống dẫn. Ống dẫn nầy hiện bị kẹt với khoảng 38 viên sỏi, to thì bằng “hột đậu xanh” – hột đậu xanh là theo tôi diển dịch cỡ lớn của nó. – Viên nhỏ nhất bằng hạt cát thông thường. Bây giờ phải “súc” cái ống ấy.”

            Bác sĩ phải rạch một đường dài, giải phẩu theo cách cũ, không dùng phương pháp mới như lần đầu tiên – Công việc cũng dễ dàng. Nhưng tôi phải đeo bên mình một cái bịch to bằng hai hộp quẹ zippo, có một ống nylon nhỏ, nối vào bên trong. Một tuần lễ sau, nữ bác sĩ Messesmith thọc một cái ống to bằng chiếc đũa, từ ngoài vào lá gan, xuyên thủng qua đó, đi thẳng tới ống dẫn mật từ gan qua ruột. Cái ống thọc ấy rỗng ruột. Bác sĩ sẽ cho một chất thuốc vào ống, đẩy hết tất cả các viên sỏi mật đi hết.

            Lần nầy mổ căng hơn, nên Diễm, con gái thứ ba của tôi nghe nói sắp mổ, rất sợ. Con gái tôi giao công việc ở hãng lại cho viên kỹ sư phụ tá, để vào bệnh viện. Diễm nói: “Trên highway, con đổi lane không biết bao nhiêu lần. Con nóng ruột vì ba mà mấy cái xe trước mặt, xe nào chạy cũng chậm.”

            Sau đó, Diễm gọi cho mẹ nuôi. Bà mẹ nuôi gởi tôi cho Rob, bác sĩ, con trai trưởng của bà.

            Năm 1984, Diễm vượt biên một mình, đến Bidong rồi định cư ở Cali. Thư Diễm gởi về gia đình, than vản về sự cô đơn ở quê người. Thư có đoạn: “Tối qua, lúc 3 giờ, con giật mình thức dậy, cảm thấy mình bơ vơ. Mai đây và dài lâu nữa, con một mình lưu lạc ở xứ người, biết bao giờ mới gặp lại ba má và các em.”

            Đọc thư, thương con quá, tôi hốt hoảng đi tìm người quen để gởi gắm đứa con gái mới tới tuổi thành niên. May mắn, tôi tìm được địa chỉ linh mục Lương Công Đại, một người bạn cũ trước 1975. Linh mục di tản hồi cuối tháng Tư/ 1975, hiện định cư ở thành phố nầy. Tôi gởi thư nhờ cha giúp đỡ. Ông liền gởi cho con gái tôi một cái thư hết sức thương yêu, bảo: “Con về trên nầy, mọi việc có cha lo cho con”

Con gái tôi nghe lời, rời Cali về đây. Nó được cha đưa vào chào Đức Ông. Đức Ông gởi con gái tôi cho bác sĩ Blute. Một gia đình lớn ở đây. Hai ông bà có 11 người con, đều thành đạt cả.

Người con trai lớn là đốc-tờ Robert, thường gọi là Rob, chuyên về thận, cũng đang làm việc tại Medical Center nầy.

            Rob liền vào bệnh viện thăm vợ chồng tôi, rồi gởi gắm cho bác sĩ Rao, người Ấn Độ, là người trách nhiệm đứng mổ cho tôi. Có lẽ nhờ vậy mà đốc-tờ Rao giữ tôi lại bệnh viện hơi lâu để ông chăm sóc, hơn 20 ngày mới cho tôi về. Đốc-tờ Rob mặt giống mẹ, phúc hậu, mặt như mặt phật Adiđà.

&

            Rồi tôi lại vào bệnh viện lần thứ ba. Lần nầy căng hơn nhiều. Cũng tại cái ống dẫn mật, không phải 38 viên sỏi như lần trước; lần nầy chỉ có một viên mà thôi, nhưng lại to hơn nửa phân, kẹt ngang chỗ ống dẫn mật nối với hạ vị. Mật không qua được, và tôi cũng đau dữ dội như hai lần trước.

Ban đầu, các bác-sĩ không tính mổ. Một bác-sĩ người đen, nói với tôi: “Tôi sẽ cho một cái camera, từ miệng vào dạ dày. Camera xuống hạ vị, rẽ vào đường ống dẫn mật, gắp viên sỏi ra là xong.” Tôi yên tâm, ngủ thiếp đi vì thuốc mê. Đến khi tỉnh dậy, hỏi y tá. Y tá nói: “Chưa xong, không lấy ra được.” Ông bác sĩ người đen đi mất tích, không thấy trở lại. Bác sĩ Rao lại phải mổ.

            Bác sị Rao mổ theo đường mổ trước, nhưng dài hơn gấp rưởi, đem hết “bộ đồ lòng” ra ngoài, lấy viên sỏi ra, núng rộng cái ống dẫn mật, chỗ tiếp nối với hạ vị, để sỏi mật, nếu có, sẽ không bị kẹt nữa.

            Tiến trình công việc dài 6giờ đồng hồ. Ấy là do, sau khi mổ xong, tôi nghe bác sĩ Rao kể lại như thế.

            Trước khi mổ, một nữ bác sĩ người Nga cho dựng tôi ngồi dậy, chích thuốc mê vào xương sống. Hình như mổ nửa chừng thì thuốc mê hết hiệu nghiệm, tôi tỉnh dậy, mơ hồ thấy đau ở bụng. Tôi rên nho nhỏ, rồi tôi lại thiếp đi. Có lẽ bác sĩ tiếp thêm thuốc mê cho tôi.

            Trong tiến trình nầy, tôi thấy hai giấc mơ khác nhau:

            -Tôi mơ thấy một buổi chiều toàn thể trời đất không gian đều một màu đỏ. Xe cộ thật náo nhiệt, ồn ào, có cả một chiếc xe lửa vượt qua một cây cầu đúc trước mặt tôi cũng màu đỏ. Thế rồi tôi thiếp đi trong cái màu đỏ ấy…

            Tôi không tin gì về giấc mơ đó cả. Có lẽ tôi bị ám ảnh vì lời giảng của một tu sĩ Phật giáo tôi đã nghe lâu lắm ở trên Đài Phát Thanh Saigon. Câu chuyện ám ảnh tôi hoài. Tu sĩ ấy nói: “May mắn Tạo Hóa đã tạo ra thế giới nầy bằng màu xanh. Màu xanh của cây cối và của sông, biển. Giả thử đó không phải là màu xanh, mà màu đỏ, thì thế giới nầy hẳn sẽ kinh hoàng hơn nhiều, hung dữ hơn nhiều, không có chi đẹp cả.”

&

Mổ xong, tôi được đưa về phòng hồi sức. Phòng nầy ở lầu 3, tại một cái góc như cái kẻ thước thợ.

            Nửa đêm, thức dậy, tôi thấy hai con gái tôi, chị và và em kế, đang dựa lưng vào ghế sofa trong phòng, ngủ ngon lành. Có lẽ chúng mệt và sau một ngày lo lắng cho tôi, bây giờ mới được nghỉ ngơi nên ngủ ngon.

Tôi đi ra cửa, đứng ngay lại đó, nhìn chung quanh. Phía dưới kia, ở tầng trệt là Astrum. Đó là một cái sân, trải thảm. Bên phải là bờ đất cao, như một sườn đồi nhỏ, có trồng cây xanh, có bồn hoa, trên đỉnh đồi có con đường đi dạo, gần vách ngoài. Con đường cong queo khá đẹp.

            Phía bên trái là một dãy quán hàng, có tiệm bán thức ăn, nước uống, một tiệm bán kính đeo mắt, một tiệm bán hoa và đồ lưu niệm.

            Phía bên chân đồi, có nhiều ghế gỗ đẹp, để khách hàng hay bệnh nhân có thể ngồi nghỉ, ăn quà hay uống nước. Đã nửa khuya, cái sân vắng vẻ lạ thường, không một bóng người, không đông đảo, có tiếng chuyện trò như ban ngày. Hai đầu sân là hai cái thang điện. Giờ làm việc, hai cái thang máy nầy chạy lên chạy xuống liên tục, từ lầu 1 đến lầu 6, chỗ có sân tập thể dục. Bây giờ, không có người đi, hai cái thang máy nằm bất động.

            Chỗ tôi đứng là một cái góc. Bên phải là một dãy phòng bệnh nhân, bên trái cũng vậy. Từ cả hai phía, tôi nghe nhiều âm thanh lạ kỳ, vang dội. Đó là những tiếng khóc thống thiết, tiếng rên rỉ đau đớn, tiếng kêu than buồn bã. Tiếng người lớn, tiếng trẻ em, đàn ông, đàn bà, đủ cả… Nó dậy lên, khi ầm ĩ, khi lắng xuống, rồi lại vang dội lên, từ các phòng bệnh nhân đang nằm mà ra. Hình như ai cũng kêu than như vậy. Phòng nào cũng có tiếng người vang dội như thế cả.

            Đứng môt lúc, tôi đưa mắt nhìn quanh, lại nhìn xuống cái sân ở lầu 1. Thấy chẳng có ai, tôi lại di vào phòng.

            Sáng hôm sau, khoảng 10 giờ, tôi thức dậy.

            Thấy tôi đã tỉnh, hai con gái tôi cùng bước đến hỏi thăm tôi có thấy khỏe không. Tôi trả lời khỏe. Rồi tôi trở mình, hơi khó khăn vì ở khủy tay của tôi còn dính lòng thòng ống nylon, nối với bình nước biển và thuốc. Mũi tôi còn gắn ống thông với bình thở oxy để trên đầu giường.

            Tôi nói:

            -“Ba thức dậy từ hồi khuya. Thấy các con ngủ ngon nên ba ra đứng ở ngưỡng cửa chơi một chút.

            Diễm, con gái thứ ba nói:

            -“Ba thức dậy hồi nào? Hồi khuya, tưởng ba chết rồi mà may bác sĩ cứu sống được.”

            Hà, con gái đầu, nói thêm vô:

            -“Trên monitor, đường tim đập của ba gần như nằm ngang. Y tá hốt hoảng, bác sĩ hốt hoảng, cả bác sĩ Rao cũng được gọi tới. Họ làm đủ cách, cả hô hấp nhân tạo, cho điện giật, cả giờ đồng hồ sau tim mới dập lại bình thường.”

            Vậy là tôi “tính chết”. Nhờ bác sĩ cứu kịp nên mới sống lại. Nhưng rõ ràng khuya đêm qua tôi đã tỉnh dậy, tôi đi ra cửa, nghe thấy nhiều sự việc. Tôi không tin đó là giấc mơ. Rõ rang tôi có đi ra ngưỡng cửa, nhìn và nghe mọi thứ như tôi đã kể. Tôi kể lại những việc ấy với các con.

            Diễm nói:

            -“Ba nằm mơ. Dây nhợ lòng thòng mà ba đi đâu được.”

            “Ừ nhỉ?” Nghe con gái nói, tôi nghĩ thầm như vậy. Tôi lại kể tới những âm thanh tôi nghe được. Con gái đầu của tôi nói:

            -“Ba có biết tối qua là gì không? Rằm tháng 7 âm lịch đó.”

            Rằm tháng 7, ngày “xá tội vong nhân”. Vậy thì những âm thanh tôi nghe tối qua là gì? Có phải là tiếng ma quỉ được thoát khỏi âm ti mà về với dương gian. Đó là tiếng kêu than của những âm hồn trong nhà ngục Diêm Vương vừa được mở cửa cho ra ngoài, là tiếng kêu cứu của những người bị thả xuống sông Nại Hà cho cá sấu ăn?

            Vậy là tối qua, tôi đã đứng nơi “Cửa Tử”. Nếu các bác sĩ không cứu kịp, tôi sẽ đi luôn. Nhờ họ mà tôi quay trở lui với chính tôi.

            Con người là “tối linh ư vạn vật”. Con người có linh hồn. Vậy thì muôn loài sinh vật khác, có linh hồn không? Con giun, con dế, con rận, con rệp có linh hồn không. Có cái giới hạn nào giữa những loài sinh vật để biết nó có linh hồn hay không?

            Tôi tin có Tạo Hóa, nhưng không tin Chúa, cũng không tin Phật, nếu họ tự cho rằng chính họ là người thay mặt cho Thượng Đế, cho Tạo Hóa. Tạo Hóa là nhiệm mầu. Tôi nhìn ngay thân thể tôi, tôi thấy không có nơi nào, cái gì ở con người tôi mà không có sự nhiệm mầu của Tạo Hóa, ngay cả cái dấu chỉ tay, chắc chắn hơn 4 tỷ người trên thế gian nầy, không ai có chỉ tay giống tôi. Không ai có chỉ tay giống ai.

            Nhưng Tạo Hóa sinh ra con người rồi để đó, tự mỗi sinh vật, do cái bản năng của mình để tự kiếm sống. Sinh vật nào “khôn sống”, sinh vật nào “bống chết”, như câu tục ngữ “Khôn sống, bống chết vậy.” Hoặc như câu Khổng Tử nói: “Khôn chết, dại chết, biết sống”. Ai cho người ta cái biết để sống còn? Không ai cho hết. Con người tự “biết để mà sống”. Tạo Hóa cũng không cho ai cái “biết” để người đó sống. Tạo Hóa vô tình nhưng không bất công, không cho ai cái nầy mà không cho người kia. Đó là sự đau khổ của sinh vật, của con người. “Nếu Chúa biết bao nhiêu hồn ly tán, khi đã nâng bình sữa ấp lên môi” là câu thơ Huy Cận vừa trách oán, vửa phủ nhận Thượng Đế.

            Người ta không thể phủ nhận, nếu nghĩ rằng Thượng Đế là Tạo Hóa. Không thể không có Tạo Hóa được, mà Tạo Hóa thì “chơi những trò rất tréo cẳng ngỗng” nên ông bà ta từng gọi Tạo Hóa là Hóa Nhi. “Trẻ Tạo Hóa đành hanh quá ngán, Chết đuối người trên cạn mà chơi”. Ấy là trò chơi “lục trầm” đấy.

            Nhưng tôi có linh hồn của tôi không nhỉ? Khuya hôm qua, cái hồn tôi thoát ra khỏi thân xác tôi để ra đứng ở ngưỡng cửa. Đó là “Cửa Tử”, ngăn cách giữa cõi sống và cõi chết. Nếu các ông bác sĩ không cứu kịp, chậm trễ hay lơ đảng… có lẽ tim tôi không đập trở lại, và tôi đã rời khỏi dương gian nầy. Nhưng tôi không tin các ông bác sĩ đã đem lại sự sống cho tôi, nếu không có sự nhiệm mầu của Tạo Hóa, bởi vì Tạo Hóa làm ra trái tim tôi chứ không phải các ông bác sĩ. Người thợ sửa xe làm cho cái máy xe hơi chạy lại, chứ người thợ không phải là người chế tạo ra cái máy xe hơi.

            Nhưng khi chết rồi, linh hồn tôi sẽ đi đâu. “Người đi trên dương gian. Thở hơi gió từ ngàn năm. Gió lung lay Hoành Sơn. Gió dâng cao Biển Đông”. Tôi là người Việt Nam, tôi đã sống như vậy đấy, với Trường Sơn, với Biển Đông, với ruộng rẫy đồng ruộng và sông ngòi Việt Nam, như Phạm Duy vừa nói vậy. Tôi còn quyến luyến ở cõi trần nầy vì còn thương vợ, thương con, thương yêu đồng loại; hay tôi sẽ đi mãi mãi, về cuối Thiên Nhai hay tới cuối vũ trụ nầy. Làm sao người ta có thể biết được? Nếu biết được, nhân loại đã giải quyết vấn đề tôn giáo một cách dễ dàng từ lâu rồi. Vấn đề đó là nguồn gốc và phần kết thúc của đời người, người ta từ đâu tới và sẽ đi về đâu sai khi quá vãng. Chỉ đơn giản có vậy thôi.

            Có thể tôi sẽ quay lại cõi trần nầy. Tôi không hy vọng và cũng không muốn như vậy. Nhưng các ông Lạt Ma đã qua đời và tái sinh ở một người nào đó thì sao? Chúng ta không tin điều ấy, nhưng vẫn có người tin. Điều đó không bàn cãi được.

            Có điều, sau khi bình phục, nhà tôi nói: “Qua khỏi đại hạn, anh sẽ sống tới 90 tuổi”.

            Hồi còn trẻ, tôi làm precepteur ở nhà một ông chú họ. Ông học trò của cụ Phan Bội Châu khi cụ bị giam lỏng ở Bến Ngự.

Không biết ông chú họ tôi học được ở cụ Phan điều gì, nhưng mỗi khi không bằng lòng lắm về con cháu, ông thường mai mỉa: “Sống làm chi cho chật đất.”

            Tôi đã “sống chật đất” gần bảy chục năm rồi, sống thêm nữa để làm chi hè?

hoànglonghải

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

2 Comments on Ngưỡng cửa – hoànglonghải

  1. Hoàng Long Hải: suy nghĩ viễn vông, Phật, Chúa, Tạo Hoá…tạp bí lù! Không tin có Chúa, Phật nhưng tin có Tạo Hoá, mà Tạo Hoá lại như một đứa trẻ nghịch ngợm! Hay thật! Thảo nào mà cậu lại tuyên truyền cho ý tưởng “Thiên Chúa Giáo là một lực phản động trong lịch sử văn minh của nhân loại”!

    Số lượt thích

  2. Ông nầy Viết nhãm ông viết không tin Phật là ông muốn Viết để vừa lòng ai đó. Chứ ông là tín đồ Phật giáo ,còn Thượng đế và Tạo hoá. Chỉ là một danh từ trừu tượng. Số ông chưa Chết bác sĩ là Thượng đế đã cứu ông ! Tại sao người bịnh không tìm Thượng đế mà tim bác sĩ ? Quan niệm về Thượng đế đã bị khai tử khi con người thụ tinh nhân tạo ,Hồi xưa tôi đọc,lọt cuốn sách Địa ngục ký. Trong sách nầy có nói Chỉ một sợi lông cũng tạo ra Thai noãn ,bây giờ nghĩ lại thấy rùng mình cuốn sách nầy tôi đọc khá lâu năm 1966 thì phải .như vậy Tôn giáo đã đi trước khoa học và Thượng Đế không Tồn tại ./

    Số lượt thích

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: