Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Cái lưỡi lê – Phi Ngọc Hùng

1Chuyện gã kể không phải dễ viết, bởi lẽ đã có nhiều người viết rồi. Như một nhà văn nào đó ai oán: “Vào cái lúc tôi bắt đầu viết, những điều tôi cho rằng cần được viết ra đều đã được viết ra bởi những người đi trước. Những mất mát đau thương, những tủi hờn vong quốc, những đất khách bơ vơ, những qua sông nín thở. Và còn nữa, những máu lệ ngục tù, những hồn oan ngọn sóng, những đáy biển vùi thây”.

      Nhưng may quá là may, nghe qua chuyện kể,…những máu lệ ngục tù,…những tủi hờn vong quốc cũng đều có cả đấy. Chỉ khác một nhẽ chuyện của gã là gã bị bắt làm tù binh. Nhưng chẳng may gì! Bởi nhẽ thiên hạ sự đi nhẩy dù, thủy quân lục chiến, đánh đấm từ trên trời xuống, từ dưới nước lên thì gã trên răng dưới lựu đạn được tạm coi như là “hình nhân thế mạng” cho lính…địa phương quân! Với địa là đất, suốt ngày đào đất ngồi dưới hố cá nhân thì văn dĩ tải đạo cái khổ nào. Khó khăn thật chứ đâu có đùa!

       Khó hơn nữa với một nhà văn ngoại quốc: ‘’Không việc gì phải lo tìm bằng được những cốt truyện thật lắt léo, chi tiết vô bổ, không có thật’’. Nói cho ngay…cốt truyện đã có sẵn rồi đây, và không…lắt léo cho mấy, như: Gã, trung úy bộ binh Sư đoàn 1, bị bắt làm tù binh, bị đưa ra Bắc. Vào lại Nam rồi vào trại cải tạo như bất cứ ai.

      Còn…chi tiết vô bổ! ư? Bung bét ra như thế này: Vào trại cải tạo, gã đi chặt tre rừng. Đang lom khom chém tre, đẵn gỗ trên ngàn, hữu thân hữu khổ, chưa biết phàn nàn cùng ai thì bị cái gai đâm bu nó vào mắt, phúc bẩy mươi đời chưa mù. Chưa kể đi H.O. với bút sa gà chết trong giấy ra trại bị ông cán ngố phóng bút: “31 tháng hai”. Thế là thằng Mỹ nó bác, gã phải mại căn nhà để lo thủ tục ”đầu tiên”. Để lại mò ra Bắc nữa vào Bộ nội vụ nắn no lại cho đúng niên kỷ, niên lịch: “28 tháng hai” tây.

 

       Tiếp đến với…không có thật, nếu như ra Bắc cũng nên gặp nhà văn Nguyễn Công Hoan, vì tôi đã học mót ông, học như gà đá vách ấy mà qua câu: “Viết là bịa, nhưng phải dựa trên chuyện có thật, viết thật quá lại không thật. Vì vậy phải bịa. Nhưng phải bịa như thật”. Nói cho ngay, tôi đâu cần phải…bịa, vì chuyện có…thật: với hiện thực: “Gã”là đương kim anh vợ tôi. Đèo bòng thêm nữa, nói xa nói gần chẳng bằng nói thật, chẳng phải vì gần chùa gọi Bụt bằng anh, thấy Bụt hiền lành bế Bụt đi chơi. Tôi không gọi “anh” mà khuân hình tượng, hình dung từ “gã” vào đây để bài viết có khí phách, có hồn vía một chút nên tôi nghĩ ông anh vợ tôi chẳng nề hà gì. Vì đi lính, gã cũng uống bia trái thơm, hút thuốc lá quân tiếp vụ như bất cứ ai. Ấy là tôi đoán chừng vậy, chẳng biết có đúng chăng.

       ***

       Tất cả chỉ là ngẫu nhiên, cả năm anh em mới gặp nhau trong dịp Tết, đang nói chuyện nhà Phật với…Tứ diệu đế. Khi không, tôi bắt qua chuyện bắn “ba-zô-ca” trong trại cải tạo với câu thơ “Nhớ bạn như đang nhớ thuốc lào – Đường gần nhưng cách trở biết bao” và đường gần nhưng cách trở biết bao đây là hai láng với hàng rào kẽm gai.

       Thế là gã vào chuyện…

       Theo gã kể trại cải tạo vùng Quảng Trị tên là “Trại tàn binh”, tạm hiểu đây là trại tù kiểu du kích địa phương “tự biên tự diễn” nên tương đối còn lỏng lẻo. Vì là trại chuyển tiếp, chưa có nội quy chặt chẽ nên ít khắc nghiệt hơn những trại cải tạo trong Nam hay ngoài Bắc. Như mới chỉ ba tháng, thỉnh thoảng có người được tha về, thường là những công chức nhỏ hay sĩ quan cấp thấp, như thiếu úy, trung úy chẳng hạn.

       Một ngày gã và 5 ông bạn qua một thửa vườn, nhìn thấy lá như lá đu đủ non, gã biết ngay chóc đây là những cây khoai mì. Thế là gã nhẩy bổ vào. Nhưng gã không ngờ khi nhổ củ khoai mì, lá cây ở trên lay động, thằng du kích đứng ở chòi cao dòm thấy. Vừa lúc lụi đụi buộc ống quần để nhét mấy củ khoai mì thì gã bị thằng du kích lấy báng súng đánh ngược lên, gã bật ngửa ra đằng sau. Vẫn không tha, thằng du kích tiếp tục lấy báng súng dọng vào mặt gã. Gã lấy tay che mặt mới biết mặt mày đầy máu

       Và mới biết mất bu nó nguyên hàm răng cửa.

       Gã lóng nhóng tiếp sau này qua đây, gã thửa được nguyên…bộ răng giả. Ngỡ yên thân, một bữa đứng trước cầu tiêu, gã ho. Gã…ho thế quái nào mà văng hàm răng vào bồn cầu, thế là lại phải trồng một hàm răng nữa cho sướng cái thân.

       Bị thằng du kích đánh tận tình, đục gã tới nơi tới chốn. Nhưng gã không thèm mở miệng van xin thằng oắt tì một câu vì dẫu chết thì chết, gia dĩ gã là sĩ quan quân lực VNCH cơ mà. Đến đâu thì đến, đó là “triết lý củ khoai” của gã. Quần gã tơi bời khói lửa xong, thay vì dẫn về trại, thằng du kích trói giật khủy tay đưa gã đến trụ sở xã gần đấy.

       Vừa lúc lão xã trưởng đi về. Lão đi qua gã liếc xéo gã một cái rồi định ngồi xuống làm một bi thuốc lào. Không hiểu nghĩ sao lão khẽ khọt quay trở lại nhìn gã rõ hơn, dễ hiểu là gã đang ôm mặt đầy máu nên lão nhìn không ra. Bỗng lão bật ra hai chữ:

       – Ô Ba.

       Gã cũng muốn bật ngửa người ra đằng sau như hồi nãy. Vì “03” là tên hiệu truyền tin của gã. Nhưng gã vẫn nín khe, vì trại cải tạo kia, trụ sở xã này nằm trên đất đóng quân một thời một thưở của gã. Bởi nhẽ nào có biết lão xã trưởng này là ai, là nẫu nằm vùng thì còn…nẫu hơn nữa. Lão nâng mặt gã lên nhìn. Và búng thêm một câu:

       – Đủ má! Trung úy Nghĩa!!!

       Lúc này gã mới ve vé mắt nhìn lão xã trưởng. Bố mẹ ơi, hóa ra lão là thượng sĩ nhất tên “Nàng”, là thường vụ đại đội trước kia của gã. “Nàng” vội cởi trói cho gã…

       Từ đó gã tịnh khẩu bằng cách ăn chay và nói chuyện tứ diệu đế. Riêng cái khoản chay tịnh, chay chùa với giống giuộc nào có chữ củ như củ khoai mì, củ khoai lang…và cả…“củ cải”, tuyệt nhiên không có gã…Tuyệt tự không! Thà ngỏm củ tỉ sướng hơn!

       Nhưng ấy là chuyện sau…

       ***

       Làm như được…cởi trói là an nhiên tự tại lắm với trời đất hương hoa, người ta cơm rượu, nên gã thảnh thơi vào nhà đổng đểnh xách ra nguyên một chai Henessy. Là ngày Tết, cũng vừa xong ngày thất thất lai tuần của ông cụ gã, và cũng là ông nhạc tôi.

       Hơ! Ô túy cương tửu, diễn Nôm “ô” là ghét, ghét say sưa nhưng lại thích uống rượu. Vì vậy tôi đành ực một cối, nhưng vẫn còn tỉnh táo, để tam toạng với gã là ngay từ đầu nhìn thấy mặt, nghe giọng nói, gã không nhận ra lão thượng sĩ già ư? Nghi quá thể! Gã ngay đơ là đang hồn vía lên mây vì hồi nãy thằng du kích còn hú họa mang về trại quại thêm một chập nữa. Đồng thời trong cái lúc đầu óc đang lùng bùng, mặt mày sưng vếu, máu me tùm lum, mắt híp lại, nên còn hơi sức đâu nhòm ngó ai với ai nữa.

       Nghe được, được thể tôi lùi xùi tiếp cởi trói rồi sao nữa? Gã nói sao trăng gì! Vì ngay cái lúc hỗn quân hỗn quan ấy,  gã nghe một tràng “ra-phan” khạc đạn 7.5 ly…

       – Đủ má thằng nào đánh ôn.

       – Tui,  vì nó ăn cắp khoai mì.

       – Mả cha mày, mày biết ôn là ai không.

       – Tui đâu có hay.

       – Đủ má, hồi nhỏ mày đái lên đầu ôn. Mày không hay à.

       Bấy giờ gã mới lớ quớ ra thằng du kích là con lão thượng sĩ già, vì có lần gã cõng nó theo lão đi nhậu và nó đái lên đầu gã. Vừa lúc nó quỳ mọp xuống, lạy gã như tế sao:

      – Con xin lỗi ôn, ôn tha cho con.

      Sau đấy, gã dàng dênh là lão thượng già quát tháo thằng con luộc khoai mì cho gã ăn. Đang ngon trớn “hoài cố nhân” với “hoài niệm”, khi không gã…“tắc bọp”:

      – Đủ…

      Mới được nửa chữ nhất tự thiên kim, biết lỡ miệng, gã quề quà:

      – Còn răng lợi đâu mà ăn nữa!

      Cũng từ đó, gã ăn khoai mì thấy…ê răng. Nghe chuyện khoai lang, khoai mì dai nhanh nhách, tôi bèn hỏi gã chuyện Sư đoàn 1, để nghe bắn nhau đùng đùng đã hơn.

      Ngỡ được nghe gã góp nhóp sư đoàn tuyến đầu hỏa tuyến, gã lại…“cắc cù” nữa:

      – Đủ má…

      Lại biết mình lỡ miệng nữa, gã khỏa lấp ngay:

      – Sui tận mạng!

      Sau đó gã à ê, đại thể hôm đó gã và 5 ông bạn tù được trưởng trại chuyển qua trại khác gần sịt ngay đó nên đi bộ cho phẻ. Thấy vườn khoai mì là nhào xuống kiếm chút “bồi dưỡng” nên bị thằng con lão thượng sĩ đánh cho nhừ tử. Bị giải về trại cũ mới ô hô ai tai ra gã và 5 ông bạn qua trại bên kia để làm giấy tờ ra trại về Sài Gòn. Nhóm gã được thả nhưng thằng trưởng trại cóc cho hay vì sợ lộ…tiết lộ bí mật nhà nước.

      Bố khỉ! Nghe xong tôi cũng muốn “đủ…với thiếu” ngon ơ như gã!

      ***

      Mãn khóa Thủ Đức, gã chọn Sư đòan 23 thuộc Vùng 2 chiến thuật. Đứng bên cạnh, vợ bạn đồng khóa đang vác ba-lô ngược, ỉ ôi vì chồng bị ra Sư đoàn 1. Gã búng tay một cái tách làm cú hoán chuyển cho đẹp mắt. Về nhà, gặp khi ông cụ đang ngó chừng TV qua những trận đánh ở miền Trung. Nghe vậy ông cụ gã mắng cho một trận tươi tát và chạy tới ông chú quan to súng ngắn trong Bộ Tổng Tham Mưu chạy thuốc. Cha đời, nói không ai tin, có 10 ngày phép mới tới ngày thứ 7, gã đã cuốn gói ra Huế để trốn ông cụ.

      C130 đáp xuống Phú Bài, bước xuống gió thổi mù mịt, nom nhòm thấy hàng hàng lớp lớp quan tài phủ cờ ba sọc đỏ, gã lạnh…mình bèn vỗ trán: “Mình ngu thật!”. Nhưng chẳng ngu gì, 6 tháng sau bạn đồng khóa hy sinh vì tổ quốc ở Tuyên Đức.

      Ra vùng một chiến thuật, trình diện Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 54. Một ngày như mọi ngày gã dẫn lính vào nơi gió cát, tới tận Quảng Trị. Ở đây gã gặp lão thượng sĩ nhất thường vụ đại đội, người xứ Quảng. Quần nát địa đầu giới tuyến một thời gian được lệnh kéo lính về Huế, và được điều động tới căn cứ Bastogne để giữ chốt, đóng đồn.

      Nói xa nói gần chẳng qua nói thật là chuẩn úy mới ra trường, lão “chỉ huy” gã chứ ông cố nội gã nào…dám chỉ huy lão. Thảng như một tối gã cho lính đóng chốt ở tọa độ “A”. Lão cho hay ở đây thế nào cũng từ chết đến bị thương nên “ra lệnh” rời qua chỗ khác. Nhân bảo như thần bảo, nửa đêm nghe ì oành, I oành, đất trời rung rinh tóe lửa. Sáng hôm sau trở lại chốn cũ, gã tóe khói ra là tọa độ A bị pháo tan bành xí quách.

      Ngay cả chuyện lon lá của gã, lão nguých ngoác rằng thêu thùa ở cổ áo làm khỉ gì, cứ gắn miếng thiếc ở túi áo cho tiện bề đôi việc. Lỡ gặp ngày trái nắng trở trời, bị Việt Cộng rượt chạy có cờ thì quẳng bu nó đi cho đỡ mất công có cái màn lỉnh kỉnh…hòm gỗ cài hoa. Gắn lon vào túi áo xong, gã bèn…gắn bó với lão cho phải phép cái đạo tửu đồ. Vì nhà lão quanh quéo gần đấy, gã ký phép miệng cho lão về thăm nhà. Sợ lão dù mất tiêu thì bỏ bu nên gã đeo theo, tiện thể gã theo lão vào thôn ấp lỳ một lam làm một ly đế Kim Long. Vì vậy mới có chuyện gã cõng thằng con lão và nó nhè đái lên đầu là thế.

       Là người hay vọ vậy với địa dư với sử ký, tôi dục dặc hỏi gã trận địa của gã có hung hăng như tướng Patton đánh chiến xa với Đức Quốc Xã ở thành phố Bastogne chăng? Gã ngần ngật vậy vậy thôi vi sau khi từ Quảng Trị kéo về Bastogne là đánh nhau…cầm chừng. Bố khỉ! Nghe lạ, gì mà đánh nhau cầm chừng, câu giờ như cụ cố Lã Vọng…câu cá chờ thời! Bèn hỏi? Gã tung tẩy là hai bên đào hết giao thông hào “Zích-zắc”, đến hầm chữ “A”, hầm chữ “T” cách nhau mấy chục thước. Sau đó ngồi xổm nghe ếch nhái ồm ộp gọi tình. Lâu lâu ngửng đầu lên đì đọp, đì đọp mấy phát cho vui. Vui hơn nữa, ba ngày Tết ngưng bắn, nhưng không ngưng bắn nhau bằng mồm qua ống loa chạy “pin” như cái ống nhổ. Lại có mục “khạc nhổ” mấy câu chửi như chửi mất gà. Sau này ông cậu từ Bắc vào thăm, ông cũng kể chuyện hai bên réo cao tầng tổ khảo, cao tằng tố tỉ nhau qua giao thông hào ấy mới biết hai cậu cháu cùng một chiến tuyến. Lẽ dĩ nhiên hai cậu cháu không nhận ra nhau. Mà nhận khỉ gì vì 54, gã vào Nam còn mặc quần thủng đít cơ mà. Ấy mà may! May hai cậu cháu chưa bắn nhau…vỡ gáo.

       Tình trạng ì oạp, ì oạp như ếch gọi mưa chẳng kéo dài bao lâu. Chuối sau cau trước vì nhẩy dù được bốc vào Nam bảo vệ Sài Gòn, thủy quân lục chiến rút về Huế “tử thủ”, đơn vị gã thay dù lãnh trách nhiệm như địa phương quân. Chuyện đánh nhau như chơi ấy, theo gã bên ta vì…tiết kiệm đạn, còn bên địch làm như nhờ Hòa đàm Ba Lê, sẽ bất chiến tự nhiên thành nên bắn gì cho phí đạn. “Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh”, gã cho là vậy. Sau mới vỡ nhẽ ra khi nào địch để cho ta yên ắng, nên hiểu là địch đang sửa soạn những gì sắp tới. Giống như trước khi có bão biển, mặt biển bao giờ cũng lặng lờ nổi trôi, nào ai biết dưới lòng biển đang có những khuấy động. Riêng trận địa của gã chỉ lao xao như lá vàng rơi, khác gì…bão trong tách trà, hơi sức đâu lo chuyện bò trắng răng! Thế mà một buổi trưa, vừa tu đế Kim Long, lão vừa…tu hú với gã…

       – Tôi ở vùng này tôi biết, trước sau tụi mình cũng tiêu.

       Lão ngẫm nguột…Rồi nắn no, nho nhã:

       – Ông thầy nên tính đi, tam thập lục kế tẩu vi thượng sách.

       Gã bèn làm mặt nghiêm và buồn:

       – Ông bảo tôi đào ngũ.

       Ngỡ lão tầm phào, không ngờ lão quý xuống vừa lạy gã vừa khóc:

       – Ông thầy độc thân. Tôi còn 14 đứa con, ông thầy cho tôi về…

       Và gã không biết làm gì hơn là làm thinh. Hiểu theo nghĩa là…làm ngơ. Nhưng trước khi lão…về quê, gã cũng không quên đưa cho lão cái đồng hồ Seiko mặt vuông và dặn dò lão đưa cho ông cụ bà cụ nếu gã có cái màn lủng củng…hòm gỗ cài hoa.

       Thêm một lần nhân bảo như thần bảo, buổi trưa lão biến, tối đến địch pháo ì ầm. Gã còn nghe được tăng T-54 âm ì đâu đây. Gã nói thằng truyền tin gọi máy về trung đoàn để gã nói chuyện với “Đại bàng” cho mấy khẩu M-72 để bắn chiến xa cho…đã.

       Gọi mãi trung đoàn trưởng chỉ thấy im ắng, ắng im đến lạnh người.

       Buông ống liên hợp xuống một cái cốp, thằng truyền tin hô hoán:

       – Không xong rồi trung úy.

       Nhìn cái bi đông hồi trưa lão thượng sĩ để lại. Thằng truyền tin rẽ ràng:

       – Trung úy không dọt. Em dọt.

       Không xong thật! Sáng hôm sau chưa kịp uống cà phê vì lão thượng sĩ già “dzu-lu”mất đất rồi. Và trong quân sử của trận địa chiến trên thế giới, ngay cả những phim về chiến tranh Việt Nam của Hollywood, từ Coming Home đến The Deer Hunter hay Go Tell the Spartans, v…v…đều không có “clip” như thế này đây, hiểu theo nghĩa chuyện gã bị bắt chẳng có “action” khỉ gì: Đại loại vào một buổi sáng trời quang mây tạnh, gã đang chớp chớp mắt tỉnh dậy, bỗng thấy trời đất khi không êm ru bà rù. Bỗng dưng có mấy khẩu AK dí vào người. Mấy thằng chết bầm cũng không thèm vén môi hỏi cho một câu: “Hàng sống chống chết…Hàng sống chống chết” mà khơi khơi bắt gã làm tù binh.

       Khỉ thật! Nghe gã còng cảnh kể chuyện cứ như…truyện phong thần. Tôi buồn miệng ngứa răng rằng sao gã không ria tụi nó một tràng cho đã điếu. Gã trả lời gọn lỏn:

       –  Còn đạn đâu mà bắn…

       Khi không tôi lớ quớ rằng khi đó gã có sợ chăng? Gã thở như trâu hạ địa nào có thì giờ để sợ nữa, chỉ biết ngớ ra thôi. Nhưng trong đầu cũng lẫn đẫn: “Đến đâu thì đến…”.

       Chung sự gã được đưa đến…cầu Hiền Lương thật!

       Gã bị bắt tháng 11 năm 1974. Và được tống tiễn ra Bắc ngay tức thì. Về Nam lại năm 1976, đi tù tiếp thêm 5 năm nữa, vừa tù binh, tù cải tạo 7 năm có lẻ. Mặc tình gã kể gì thì kể, tôi cứ quấy quá với chỉ vì ba mớ khoai mì mà gã dính chấu thêm 5 năm cải tạo. Và lại thèm được nghe gã chửi vung cán tàn “Đủ má”. Chỉ hai chữ buông lẻ không thôi, vừa day dứt, vừa hả hê gì đâu chẳng biết nữa.

       Trở lại chuyện về Nam cho văn vẻ, thực ra ấy là trại cải tạo Ái Tử-Bình Điền. Gã thở ra như bò thở rằng…vui hơn nữa vào đây, gã gặp cố nhân “Đại bàng” trung tá trung đoàn trưởng. Gã bèn hỏi cho ra nhẽ ngày ấy, năm nọ gọi máy ông ở mô?.

      Ông ta trả lời ngon lành:

       – Ở…Đà Nẵng.

       Rồi ông nói ngon ơ:

       – Ngu gì mà ở lại.

       Gã định hỏi tiếp sao bây giờ  “đại bàng” lại chui vào đây như…gã, nhưng nghĩ sao lại thôi. Thấy người ăn khoai cũng vác mai đi đào, tôi hỏi bỡn gã đi tù ra Bắc, có…ngon ăn chăng? Gã không trả lời. Già hay đái tật, gã vào trong làm một bãi…

       Để bắt đầu bằng vào mảnh đời tù binh của gã.

       ***

       Gã được đưa tới sông Bến Hải, qua cầu Hiền Lương, địa giới đầu tiên tên Ba Bình, nỗi buồn chạm mặt với ngẫu sự gặp “hàng quân” Phạm Văn Đinh, nguyên trung tá trung đoàn trưởng của Sư đoàn 3 dàn chào. Ông chơi nguyên con quần áo bộ đội, mang quân hàm trung tá hai sao đó, hai gạch. Ông trấn an trước 500 tù binh trước sau mình cũng…thua. Cứ phấn đấu học tập, sẽ được như…ông và ngày về chẳng bao xa.

      Sau đấy, làm như Bắc tiến đến nơi không bằng, ông “hàng binh” trang bị cho hơn 10 anh em tù binh nào là ba-lô, quần áo “treillis”, có người có cả “poncho” nữa, chỉ thiếu mũ sắt, “botte de sault”. Gã chắc mẩm chuyến này đi mút mùa lệ thủy, chẳng có ngày về. Nhưng buồn tình ngẫm ngợi những bộ quần áo “treillis” từ lỗ nẻ nào chui lên đây? Gã ớ ra phải chăng quân trang của anh em Sư đoàn 3 bị bắt làm tù binh đã bỏ xác trên đường ra Bắc? Gã ớ thêm cái nữa thế này thì chắc…chết quá. Nhưng cũng tặc lưỡi một cái bép, ra cái điều chín đụn mười trâu, chết cũng hai tay cắp đít, tới đâu thì tới.

      Và tiếp: Ngày về đâu chưa thấy, chỉ thấy…tới Quảng Bình, Đồng Hới…Bỗng dưng như ăn khoai môn ngứa miệng, tôi hỏi gã có bị ném đá như trong những sách truyện chăng! Gã trả lời ngay đơ là “có” và “không”. Nghe lạ vì gì mà “có” là “không“ với ”không” là “có”? Tôi bèn hỏi cho ra môn ra khoai, gã râm ran một ngắn hai dài:

      Khi gã đi qua một huyện nhỏ có đám con trai, con gái đứng bên đường (*), dưới chân là đống sỏi đá chỉ trỏ đám tù binh. Một đứa con gái khoảng 16 tuổi nói lớn: “Anh ni thiếu úy, anh nớ trung úy”. Gã hỏi người đi trước: “Sao nó biết cập bậc của tụi mình”. Chưa kịp nghe trả lời, đám tàn binh đã bị bị mấy viên đá chọi lộp bộp vào người như gà mổ mo cau. Nhưng vừa may có một người đàn ông đi tới đuổi lũ nhóc ấy đi và dẫn đứa con gái về. Đám tù binh ngừng lại người này hỏi thăm người kia một lát, rồi bị vệ binh giục đi. Đi được một quãng gặp đứa con gái ngồi trước hiên nhà. Một tên vệ binh vào nhà. Gã ngỡ nó vào “làm việc” với người đàn ông hồi nãy vì chuyện ném đá. Nhưng lát sau ông ta ra. Người đàn ông liếc nhìn đám tù binh và nói lớn:

      – Thứ đó đem bén bỏ cho rồi. Nước đâu mà cho uống.

      Đợi tên vệ binh qua quán nước bên kia đường. Người đàn ông kề tai nói nhỏ với cô con gái. Lát sau cả hai mang hai gầu đầy nước cho đám tù binh…

      Bỗng điện thoại gã “réc réc” như dế kêu, gã đi vào nhà. Tôi ngồi như Bụt mọc để cái đầu thả rong về sự thể vừa rồi. Chuyện là tôi đọc được một bài bài viết của một người làm văn hóa ở Hà Nội. Sau 75 vào Sài Gòn đi dọc theo Quốc lộ 1 “tham quan” có nhắc tới chuyện ném đá vào những toa xe lửa chở anh em cải tạo ra Bắc. Ông ngúc ngắc là chiến tranh đã chấm dứt, sao cũng là người Việt lại đối xử với nhau như thú vật vậy!?

      Thêm một người viết trẻ tại Mỹ viết truyện “giả tưởng”: Năm 75, quân đội VNCH bắc tiến, thêm một trùng hợp ngẫu nhiên là quân miền Nam chiếm được…Thanh Hóa (ẩn dụ cho Huế). Thừa thắng kéo rốc tới Hà Nội. Miền Bắc được “giải phóng”, Việt Nam thống nhất. Sau đó dĩ nhiên không có chuyện trả thù với cải tạo. Hiểu theo nghĩa chữ nghĩa chiến tranh tàn lụi theo cuộc chiến, không có những bài viết về chiến tranh dai dẳng cho đến mãi tận bây giờ. Ngay cả như thằng tôi lúc này chẳng hạn, cứ rỗi hơi gom góp chuyện “góp nhặt sỏi đá” về chuyện…ném đá trên của gã như vừa rồi.

      Điện thoại xong, gã quay quắt trở lại với vùng đất Đồng Hới, Quảng Bình, gã lõ mắt chỉ thấy hố bom với hố bom, nhà cửa xiêu vẹo đổ nát nên chẳng có gì để…kể lể. Vào Nghệ Tĩnh, cuốc bộ qua Đèo Ngang, gã bồi hồi tới bà Huyện Thanh Quan với nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc, thương nhà mỏi miệng cái gia gia. Tiện thể gã hoài cố nhân tới lão thượng sĩ già, chả biết bây giờ lão ở nơi nao? Tôi nghĩ ông anh vợ này cũng hoài đồng vọng gớm với người muôn năm cũ hồn ở đâu bây giờ. Nghĩ quấy quá thế thôi…

       Thế nhưng đến Nghệ An, qua Quỳnh Lưu, gã xăn xò dân công giáo nghèo khổ, rách rưới không chữ nghĩa nào tả cho hết! Ếch vào cua ra, tôi nghếch ngác họ rách thế nào, rách như tổ đỉa là cùng chứ gì? Gã hâm hâm rằng nói rách rưới thế thôi chứ có quần áo đâu mà…rách! Vì họ mặc…khố! Nhìn tù binh mặc quần áo tù họ thèm thuồng thấy rõ. Họ đi lao động chỉ vì bát cơm vậy mà họ muốn đổi miếng ăn lấy cái quần đùi của tù. Chẳng lẽ tù đổi quần rồi…đóng khố sao? Vậy mà sau có anh tù cởi quần đưa cho một anh nông dân, thay vì đeo khố anh lấy cái bao cát làm quần đùi. Khi ấy, tù binh và dân được điều động vét đất con kinh Ba Ra Đô Lương thuộc huyện Nông Cống. Họ đào vét lòng kinh hình thang đáy 2m x 5m, dài cả mấy cây số tới tận chân núi tên Kinh.

       Là người công giáo thuần thành, đợi gã đào vét xong con kinh tôi mới líu ríu hỏi người công giáo Quỳnh Lưu bây giờ còn đức tin không? Gã ngẫm ngợi một hồi lâu. Lâu lắm, mới cho hay họ còn đức tin. Nhưng không tin tù binh mình có…đường với kẹo.

       Gã trở lại với núi Kinh nói…kinh thật, vì một ông tướng ôn vật đầy ”tư duy” và “sáng tạo” chỉ ngọn núi và mắng thằng Tây nó ngu, làm đường gì mà ngoằn nghoèo như đèo Hải Vân, làm bộ đội ông leo đèo chóng cả mặt. Với sức người sỏi đá cũng thành cơm, ông bèn cho làm đường hầm xuyên qua núi. Cứ một thằng tù, một thằng dân với một cái cuốc chim xẻ sơn phá núi cả tháng mới được một cái hốc bé con con. Sẵn thuốc nổ TNT của Mỹ Ngụy để lại, ông cho nổ tung núi thành hang sâu hun hút.

       Thêm một lần, đợi gã vác mấy thùng mìn lên núi đâu vào đấy rồi. Nhân khi gã ngồi bên đường nghỉ mệt. Tôi hỏi khi nào gã biết mình “tan hàng”. Gã cười cái hậc là nằm trong rừng, nhìn hoa mai nở còn không biết xuân về hay chưa nữa là. Chỉ Quốc lộ 1 trước mặt: Cũng ngay chỗ này, gã dòm thấy mấy thằng nón cối từ Nam về Bắc. Trên xe đạp buộc mấy con búp bê cũ xì cũ mốc  thì biết mình “đứt phim” rồi chứ còn khỉ gì nữa.

       Mìn nổ thêm mấy quả nữa, đúng lúc này, lệch lạc thế nào chẳng biết, ông tướng ôn vật mang Molotova bốc tù binh ngược lên Thanh Hóa. Còn lại dân với xe cải tiến chui vào hang chở đá vụn ra. Đám tù binh xuống núi, nửa đường nghe một tiếng ầm kinh thiên động địa. Cứ theo gã nhẩm chừng khoảng hơn 200 dân nằm chết vùi chết giập trong hang…Đoàn tù rời núi Kinh khá xa, ngẩn ngơ, hụt hẫng nhìn lại thấy đá cát, bụi đất bốc lên như cụm mây hình đĩa sôi vẫn còn vất vưởng ngang ngang đầu núi.

       ***

       Nghe gã sắp được trâu rong bò giắt đi Thanh Hóa…Chợt nhớ gã hạnh ngộ …cô gái 16 tuổi bên đàng, lại được cả gầu nước. Tôi tếu táo hỏi gã có mối tình lớn, mối con nào rơi rớt chăng. Gã giầy thừa dép thiếu rằng sau này trại cải tạo có lán, có buồng, còn trước 75 ở ngoài Bắc, họ đang “phấn đấu” đánh cho Mỹ té Ngụy nhào. Nên họ đâu có quởn “khẩn trương” dựng trại cải tạo cho một nhúm 500 tù binh đang lêu bêu nay đây mai đó. Vì vậy gặp rừng xanh um là đốn cây làm nơi tạm trú. Ban ngày trời nóng cách mấy, nhẩy ùm xuống suối là phẻ. Đói gặp mối chúa, mối vua là xong tuốt, cứ con gì nhúc nhích là nhai bằng thích, trừ con…“bù-long”. Nhưng đêm về với cái lạnh cóng da buốt thịt của rừng núi thì trốn ở đâu cho thóat. Lạnh teo…“bu-di” thì còn làm ăn gì nữa.

Đất sinh cỏ già sinh tật, cái tật của tôi vướng víu với tầm chương trích cú nên cũng muốn nặn véo chữ nghĩa với gã tí ti. Chòm hỏm nhìn chai Heneesy, trộm nghĩ ‘’rượu không say, say vì chén’’, thế là tôi làm nguyên chén và tôi bốc một tấc tận giời là ngoài cụm từ ngụy quân, ngụy quyền có từ thời Gia Long. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện,chúa Nguyễn Phúc Khoát dành hai vùng Thủy Xá phía đông và Hỏa Xá phía tây núi Bà Nam nằm đâu đó ở miền Trung giáp Lào cho người Chàm mất nước. Nhà chúa ‘’cải cách’’, ‘’tạo dựng’’ làng cho người Chàm, mới có từ cải tạo. Từ làng có láng. Láng đây là tiếng Chàm, nay thiên hạ sự gọi là lán.Con đường “tù binh” gã đi từ Quảng Trị, qua Quảng Bình tới Thanh Hóa, không ngoài…lịch sử là cuộc tái diễn không ngừng.

       Minh Mạng sai Trương Minh Giảng đánh Chân Lạp, đưa Nặc Ông em lên làm vua. Bắt Nặc Ông anh và cận thần quan lại làm tù binh, trong đó có Nữ vương Ang Mey. Bầu đoàn thê tử triều chính và Nữ vương Ang Mey bị đưa về Quảng Bình, cón Nặc Ông anh và tù binh bị đưa ra Bắc tập trung ở rừng núi Thanh Hóa cho tuyệt hậu hoạn.

      Tất cả đã thuộc về quá khứ, những người miền Bắc đang “tạo dựng” lại. Nhưng tôi không nói cho gã nghe vì gã đang là tù nhân của quá khứ, đang đi tìm thời gian đã mất. Như nhà văn Marcel Proust mặc dù nói đi tìm một thời gian đã mất, ông chỉ loay hoay tìm kiếm mãi hình ảnh một cái làng, làng Combray. Ngược lại, gã ngược đoạn đường chiến binh bằng vào con đường tù binh từ Quảng Trị đến Thanh Hóa. Nếu như quá khứ là ký ức, theo một nhà văn ở Úc: “Ðã có vô số người viết về chiến tranh nhìn từ góc độ lịch sử và ký ức. Từ góc độ lịch sử, người ta xem chiến tranh đã kết thúc, ở đó, đã biết rõ ai thắng ai bại. Từ góc độ ký ức, người ta nhìn chiến tranh như một cái gì đang tiếp diễn, ở thì hiện tại, ở đó, họ vẫn là chiến sĩ, đứng hẳn trong một chiến tuyến nhất định”.

      Vì thế khi qua Quảng Bình, gã chẳng quên nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc là thế.

      Lúc này đây gã đang sửa soạn khăn gói gió đưa về vùng rừng núi Thanh Hóa. Chạy trời không khỏi nắng, gã sẽ được đưa đến nơi chốn hoang địa xưa kia những tù binh Chân Lạp (tức Cao Mên bây giờ) đã có mặt ở đấy. Gã có thể nằm lại tại đây, ở một tha ma mộ địa nào đó, gã sẽ nát bàn với Nặc Ông anh cùng thế Chiến quốc, thế Xuân thu, gặp thời thế thế thời phải thế. Thế nên trong hương tàn khói lạnh, tôi biết gã chép miệng một cái bép…và không nói nữa. Nhưng tôi chứng ngộ ra rằng với gã chân không đến đất, cật chẳng đến giời thì…”thì đến đâu thì đến”. Tôi vẫn hằng tâm đắc với “triết lý củ khoai” của gã từ nãy đến giờ. Mặc dù gã không thích…khoai mì.

      Đến đâu thì đến…Chuyện là khi nghe nói gã sắp…đến vùng đất chó ăn đá gà ăn muối chỉ toàn đá với đá của ông nhà thơ Hữu Loan ở núi Nga Sơn. Lúc này nhà thơ đang ở đấy, đang đẩy chiếc xe cải tiến lên núi xuống núi, tay cầm cái cuốc chim thì sao đây? Tôi đoán chừng gã chẳng còn hơi sức đâu thương nhà mỏi miệng cái gia gia và chắc như đinh đóng cột gã sẽ…đục đá như nhà thơ nữa. Thế nhưng không, gã trẹo trọ là được đưa tới huyện Như Xuân thuộc đất Thanh giáp biên giới Lào, thay vì đục đá phải lên rừng đốn cây như lính thú đời xưa với trân thủ lưu đồn “Chém tre, đẵn gỗ trên ngàn – Hữu thân hữu khổ, phàn nàn cùng ai” rồi gặp lụt lột vì mưa thui trời thối đất…

      Nghe trần ai khoai củ với lụt lội, tôi biết thế nào cũng có rắn trong hang, lỗ chui ra. Bèn hỏi. Gã ngoằn nghoèo không phải rắn mà là trăn. Tiếp, gã thao tác về một anh tù đang chém tre, đẵn gỗ trên ngàn bị trăn quấn muốn…nghẹt thở. Tay đang bắt chuồn chuồn, sắp về chầu ông bà ông vải, chợt chui vào tai anh tù chuyện nghe nói cứ cắn đuôi trăn, nó sẽ nhả ra. Anh tù há mồm nghiến răng cắn đuôi trăn thật. Sau đó chửi thề quá mạng vì toàn bịa, vì đuôi trăn cứng như…đá. Tôi bèn bốc gã kể chuyện quá đã, vì gã nói rắn trong lỗ cũng phải bò ra. Gã nhúm nhó tôi là lại bịa nữa, vì rắn đâu có…tai.

       Xoay xỏa lại chuyện đốn cây, chỉ vì chuyện đội đá vá trời để nới rộng sông Mực làm hồ chứa nước, tù binh phải đốn cây làm đập để lập…nhà máy thủy điện. Tôi lại được thể so đo là đập nước làm nhà máy thủy điện với bê tông cốt sắt dầy cả chục thước lắm khi còn bị bể. Huống chi mấy mảng gỗ buộc giây thừng lỏng le. Y như rằng, theo gã đâu đó ít lâu, vùng biên giới Lào bị một cơn bão rừng kéo dài cả tuần. Cây trên rừng bị đốn, không chặn được nước mưa. Nước ập xuống làm đập cây bị vỡ, cây đè đám tù đang làm đập chết khoảng hơn ba chục người. Như những cận thần quan lại Chân Lạp cả mấy trăm năm trước, hơn ba chục tù binh, quan cũng như lính bỏ xác bên sườn núi đìu hiu hoang vắng. Trong một cõi đi về với 1000 năm trước, 100 năm sau nữa,  thôi thì cũng đành ngậm ngùi “Mấy kẻ công danh nhàn lẵng đẵng – Mồ hoa cỏ lục thấy ai đâu”.

      Thế nên tôi không kể chuyện giả tưởng quân đội VNCH chiếm Thanh Hóa vừa rồi là vậy. Vì rằng ông anh vợ hiền như khoai, lành như Bụt của tôi sẽ thở ra nếu vậy thì hơn ba chục bạn bè tù binh của ông đã không bỏ xác oan uổng ở nơi chốn này.

      ***

      Năm hết Tết đến, nghe gã quan quả toàn những chuyện tha ma mộ địa, tôi không thể không lay lắt tới những “cái chết vô tình” và chẳng thể thiếu những…“cái chết cố tình” trong cuộc chiến. Thảng như với “cái chết vô tình” qua một nhà thơ miền Nam:

      Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo

Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo

Xem cuộc chiến như tai trời ách nước

Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước

Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi

Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi

      Với nhà thơ, cái chết chỉ là trò chơi súng đạn vô tình. Nhưng với “cái chết cố tình”, tôi lại phải nhờ vả đến nhà văn ở Úc một lần nữa: “Ở đâu có chiến tranh là có hiện tượng phi-nhân hoá nhắm vào kẻ thù: hành động giết kẻ thù không những được miễn trừ đạo đức mà còn, hơn nữa, được thẩm mỹ hoá thành một cái đẹp. Giết người là đẹp. Máu chảy là đẹp. Thời 1954-75 ở miền Bắc, Phạm Tiến Duật mô tả cái đẹp của “Ðường ra trận mùa này đẹp lắm”. Xuân Diệu mô tả cảm giác sung sướng: “Ôi, êm ái khi tay cầm vũ khí”. Và có vũ khí với Tố Hữu: Giết…giết và…giết.

       Cùng một vắn hai dài, chuyện đi lính, đi tù được nghe kể rời rạc, đứt quãng đâu đó ít nhất hai lần. Những tôi không quan hoài cho mấy, vì cuộc chiến đã qua 40 năm, nếu lấy cái mốc thời gian của riêng gã từ1974 đến 2014. Vần lay lắt theo nhà văn ở Úc: “Có thể nói những ai đã từng trực tiếp tham dự vào chiến tranh sẽ không bao giờ thoát khỏi cuộc chiến tranh ấy. Những người lính từng “giã từ vũ khí” gần ba mươi năm trước vẫn tiếp tục sống trong tâm thế lính tráng cho đến tận bây giờ. Người ta tiếp tục đánh nhau trong ký ức. Ðiều này phần nào giải thích tại sao người ta cứ viết về chiến tranh mãi. Kẻ thắng viết, đã đành; kẻ thua cũng viết, thậm chí, còn viết nhiều và viết hăng hơn những kẻ chiến thắng nữa. Tại sao thế nhỉ?”. Với tôi chẳng có câu hỏi: Tại sao thế nhỉ?. Vì với tôi viết chẳng phải vì cắp nắp “ký ức”: 9 tuần Quang Trung, 8 tháng Đồng Đế. Mà vì nếu tôi không viết, tay chân cứ ngứa ngáy khó chịu làm sao ấy, vậy thôi, thế đó.

       Thế nên, từ lúc ngồi xuống, tôi lấy sổ tay ghi ghi chép chép những gì gã kể lể…

       Gã kể…đi đâu có chết chóc đến đấy, vậy mà gã vẫn sống nhăn răng. Nghe quái! Nếu sống chết có số, chuyện gã có thể viết thành truyện được. Nhưng chuyện phải có đầu có đũa, nên tôi trở lại khúc đầu hỏi thêm một phùa nữa cái ngày gã bị AK dí gã có “rét” thật chăng. Hỏi cho có thế thôi. Ý đồ tôi muốn hỏi qua một mảnh đời chiến địa của gã, đánh đấm cầm chừng, câu giờ như Lã Vọng…câu cá! Ngoài ra đánh nhau như chơi với “Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo”, như đùa với “Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo” cùng rượu đế Kim Long cũng trong veo nốt, chẳng thấy máu me gì sất cả.

       ***

       Gã cười te tái là rét thì không, nhưng lạnh cẳng thì có. Nhưng gã chấp nhận số phận…đến đâu thì đến. Vì ngay sau đấy tụi nón cối đưa gã…đến ven rừng.

       Trời chưa tối đất, đám tàn binh đang ngồi xổm chuyện trò thì xuất hiện một thằng bộ đội răng hô mồm cá ngao. Thằng này dắt ba sĩ quan thủy quân lục chiến bị trói dây hàng một đi ngang qua chỗ gã. Nhờ ánh sáng chiều chênh chếch qua tàn cây, gã nhìn lên thấy ba sĩ quan thủy quân lục chiến người nào người nấy đều cao lớn. Riêng người đi sau cùng, mặc dù không thấy rõ mặt, nhưng vóc dáng kềnh càng như con gấu.

       Bỗng không hiểu sao, thằng bộ đội quay ngoắt lại và nhìn gã chằm bằm. Gã vội lấy dây ba chạc che cái lon ở ngực áo, lúc này gã mới phục sát đất lão thượng sĩ dậy khôn gã. Nhưng với con mắt cú vọ, nó cũng nhìn ra lon lá, bắt gã đứng dậy và trói gã. Kiểu trói này không như thằng du kích con lão thượng sĩ với hai tay đằng sau lưng còn ngọ nguậy, còn có đôi chút thỏa mái. Kiểu trói của thằng bộ đội này khác, nó vặt cánh tay trái gã vắt qua vai, bẻ ngược cánh tay phải ra sau lưng rồi trói gô lại. Kiểu trói “ngoặt ngọeo” này vừa đau hai khớp xương bả vai, vừa không cục cựa, nhúc nhích gì được.

       Xong, nó trói gã dính liền với anh thủy quân lục chiến sau cùng.

       Trong khi hai người bị trói lại với nhau, anh quay lại nhìn gã với đôi mắt nửa lặng lẽ, nửa hững hờ. Vì đứng sau không thấy cấp bậc, nhưng nhờ anh để râu quai nón như Trương Phi. Gã nhận ra ngay anh là đại úy thuộc Tiểu đoàn 2 Thủy quân lục chiến. Vì tiểu đoàn anh và gã có cùng số 2 với nhau, nhưng gã không biết anh. Vì khi cần được cứu viện hay yểm trợ, tiểu đoàn anh nhập trận đánh ào ào xong là rút ngay.

       Trói xong, thằng bộ đội giắt một chuỗi bốn người đi vào rừng. Đang len lỏi qua rặng cây, gặp con đường mòn ở khúc quanh có một hòn đá tảng. Đột nhiên thằng bộ đội quay lại, gã nghĩ mọi người được nghỉ chân thì…

       Thì…gã choáng người vì nhìn thấy tay phải nó lăm lăm cái lưỡi lê hồi nào không hay. Rồi từng người, từng người một. Rất thành thạo, tay trái nó nắm tóc kéo xuống như lấy điểm tựa. Và cũng rất quen thuộc với nhanh và gọn…

       Thằng bộ đội bậm miệng, lụi vào bụng mỗi người hai, ba nhát lưỡi lê.

       Người này vừa xong đến người kế tiếp. Chỉ trong bốn, năm giây…Cũng vẫn động tác quen thuộc, thành thạo, tay nắm tóc ghì xuống, bậm miệng, tay đâm vào bụng hai, ba nhát rất gọn gàng và không hơn. Cả hai người đều xụm ngồi xuống, đầu gục vào giữa hai đầu gối… Giữa cái êm ả của rừng rậm, gã nghe tiếng xào xạc của lá cây trộn lẫn tiếng rên rỉ lúc dài, lúc tắc nghẹn. Những người đứng sau trong đó có gã, chưa kịp phản ứng gì, không ai bảo ai, đồng loạt gào thét, la hét vang vọng cả một góc rừng …

       Cũng chỉ trong bốn, năm cái chớp mắt đến lượt…anh đại úy thủy quân lục chiến. Như theo quán tính, anh co chân lên. Gã không hiểu là anh định đạp thằng bộ đội hay định chạy nhưng…không còn kịp nữa rồi. Rất gọn và nhanh,…hai,…ba tiếng “phập”,…“phập”,…ngọt lịm. Gã chỉ kịp nghe một tiếng…”hự” đau đớn hoà nhập cùng những tiếng rên rỉ của hai người trước. Gã nghe rõ mồn một tiếng…“cóc” khi cả thân hình to lớn của anh…lảo đảo rồi …đổ xuống, đầu anh đập vào tảng đá.

       Một tiếng…“cóc” thật khô.

       Chỉ một tiếng…“cóc” khô khan không thôi, nghe rất nhỏ như đập vào đầu gã.

       Và thằng bộ đội tiến tới…gã.

       Nhưng lần này có hơi lâu lắc hơn một chút. Vì thân xác anh ngáng chân nó, nó đạp anh, hay bước qua người anh gã cũng không hay biết nữa. Mà chỉ biết rằng khi anh vật xuống, sợi giây thừng nối giữa hai người kéo gã chúi theo. Gã vội khom người, chùn lại, mười đầu ngón chân bấu vào mặt đất để khỏi bị chúi thêm. Cũng vì vậy người gã lệch qua một bên, thành thử thằng bộ đội cũng phải xoay qua một bên để đối mặt với gã.

       Nhưng vì đầu gã hơi cúi xuống, nó không nắm tóc gã nữa. Vì gã khom xuống, cái đầu che đi một phần cái bụng. Lại nữa, vì người gã kheo khư, còm nòm nên lần này, thằng bộ đội cầm lưởi lê phải đâm ngược lên…mặt gã. Theo phản xạ, gã định…nhắm mắt lại. Nhưng chưa kịp nhắm mắt, thi…thì…nhìn thấy bàn tay ai đó…giữ cánh tay nó lại. Ai đó…giằng lấy cái lưỡi lê. Gã nghe tiếng gằn giọng:

     – Tôi cảnh cáo đồng chí vi phạm nội quy. Đợi về, tôi kiểm thảo đồng chí.

     Gã nói với tôi sau này gã mới biết người cứu gã là một chính trị viên, người cũng còm nòm, kheo khư như gã. Hay là…Hay là…Tôi vội vàng xua đuổi cái ý nghĩ ấy đi, không cho len lỏi vào đầu. Thay vào đó, bằng vào với mỗi người một nết, đến chết cũng không chừa, tôi óc ách hỏi gã trong lúc thập tử nhất sinh ấy thì gã…Không cho hỏi hết câu, gã bàu bạu là trong hỗn mang không nhớ rõ lắm. Rồi ngần ngừ và tiếp trong lúc thập tử nhất sinh ấy mỗi người mỗi phản ứng khác nhau. Với phản ứng giữa ngã với ngã tâm linh…Và gã cười ngượng ngập: Trong cõi u u minh minh, u mê ám chướng…

      Gã thấy gã rơi xuống…địa ngục. Cùng lúc, trong một sát na, gã lại bò lên…niết bàn.

      ***

      Vừa lúc cạn xong chai Henessy…Trong cái đầu củ chuối tôi cứ quanh quéo niết bàn với địa ngục, quớ quãng với…ngã này…ngã kia. Hôm nay là ngày hóa vàng, tôi lễnh đễnh bước tới bàn thờ thắp nén nhang khấn ông cụ. Đập vào mắt tôi ở bức tường bên kia treo tấm ảnh chụp gã đội mũ sắt ngập ngụa mờ nhân ảnh. Có thể vì bức ảnh đã hơn 40 năm nên ố vàng, khuôn mặt gã đeo kính trắng nhạt nhòa mờ nhân ảo trong một cõi đi về. Ngước mắt nhìn bức chân dung cụ còn mới, tôi chẳng thấy hình bóng cụ đâu.

      Mà chỉ thấy gã nấp sau bát nhang nhìn con gà khỏa thân…

                                                                                                   Thạch trúc gia trang

                                                                                           Mồng ba tết Giáp Ngọ 2014

                                                                                           Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

(*) Đoạn này người viết vay mượn trong truyện “Tết trong

trại cải tạo” của tác giả Bồ Tùng Ma. Xin cảm tạ tác giả…

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

1 Trackback / Pingback

  1. Cái lưỡi lê – biển xưa

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: