Advertisements
Bài mới trên VĂN TUYỂN

Bọ ngựa chống xe

Một hôm Trang công nước Tề xa giá đi săn. Xe ra khỏi thành, đi trên đường cái, có con bọ ngựa cứ đứng giữa đường, giương càng chực chống lại với cái xe. Tả, hữu thấy thế kêu lên rằng: “Chết! chết!” Trang công nghe tiếng tưởng sự gì nguy hiểm, vội vàng bắt xe dừng lại hỏi. Tả hữu thưa:

“Có con bọ ngựa thấy xe sắp đến, không tránh lại giơ càng lên muốn chống lại. Giống bọ ngựa quái lạ, chỉ biết tiến lên, chớ không lui, không chịu lượng sức mình khỏe hay yếu, hễ gặp cừu địch thì xem thường, xem khinh, cứ lập tức xông vào. Xin cứ để cho xe đi, xem bọ ngựa sống hay chết thế nào?!

Trang công nói: “Hãy khoan! Giống bọ ngựa thế mà đáng kính. Giả thử bây giờ có một người bị kẻ tàn bạo hà hiếp, không ngại gian nan , không sợ nguy hiểm, nhất quyết chỉ tiến lên, chọi với cường địch, chết cũng không thoái tị, thì chẳng đáng nên tôn kính lắm ư?”

Nói đoạn, Trang-công bảo tránh xe đi sang một bên.

Từ hôm đó, bọn tướng sĩ Trang công nghe tháy câu chuyện, khi phải đi đánh giặc, là liều chết tiến lên, chớ không chịu không bằng con bọ ngựa./

Hàm thi ngoại truyện

Lời bàn

(của Ôn như Nguyễn văn Ngọc và Tử an Trần lê Nhân)

Có kẻ cừu địch trước mật, không biết lượng sức người ta yếu hay khỏe thế nào, cứ liều xông vào chọi có khi như trứng chọi với đá, nồi đất chọi với nồi đồng, thì cũng là khờ dại đáng tiếc.

 

Tuy vậy, có kẻ hà hiếp mình thậm tệ, mà mình còn đủ chí khí chống lại, thế là mình hiểu được cái lẽ tự vệ, chết cũng không chịu nhục. Nhất là mình lại quả quyết phấn chấn tiến lên, không chịu nhẫn nhục lùi lại, thế là có dũng khí đáng khen.

 

Ôi! Giống bọ ngựa là giống sâu bọ còn biết thế, huống chi là giống người ta là bậc tinh anh, lại chịu kém bọ ngựa hay sao! Trang công thực là khéo biết dạy, mà tướng sĩ Trang công thực là biết nghe ra vậy.

 

            Thầy giáo dạy sử cho tôi năm lớp Nhì, khi giảng về ông “Lý Thường Kiệt phá Tống bình Chiêm” lấy câu chuyện “Bọ ngựa chống xe” để ví với sức mạnh của nước ta thời bấy giờ với quân Tống, giải thích rằng sức mạnh của vũ khí phải kết hợp với sức mạnh tinh thần. Chính cái “tinh thần Đại Việt” đời Lý đã tạo nên chiến thắng ở Châu Ung, Châu Khiêm, cũng như chiến thắng của quân Lý trên sông Như Nguyệt, trận quyết định thắng bại gữa quân hai nước.

Dĩ nhiên, chiến thắng của Lý Thường Kiệt và binh lính của ông được vua tôi và dân chúng Đại Việt ca ngợi. Và đó cũng là nguồn gốc của câu ca dao:

Nực cười châu chấu đá xe,

                        Tưởng là chấu ngã ai ngờ xe nghiêng.

 

Sau đây là phần phụ lục nói về chiến công “Phá Tống” của Lý Thường Kiệt và binh tướng của ông, trích trong Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim.

            “Nhà Tống Lấy Đất Quảng Nguyên. 

 

Tống-triều đươc tin quân nhà Lý sang đánh-phá ở châu Khâm, châu Liêm và châu Ung, lấy làm tức-giận lắm, bèn sai Quách Quì làm Chiêu-thảo-sứ, Triệu Tiết làm phó, đem 9 tướng quân cùng hội với nước Chiêm-thành và Chân-lạp chia đường sang đánh nước Nam ta.

 

       “Tháng chạp năm bính-thìn (1076) quân nhà Tống vào địa-hạt nước ta.  Lý-triều sai Lý thường Kiệt  đem binh  đi cự địch. Thường Kiệt  đánh chặn quân nhà Tống ở sông Như-nguyệt (làng Như-nguyệt ở Bắc-ninh, tức là sông Cầu bây giờ).  Quân nhà Tống đánh trận ấy chết hơn 1.000 người, Quách Quì tiến quân về phía tây, đến đóng ở bờ sông Phú-lương.

 

       “Lý thường Kiệt  đem binh-thuyền lên  đón  đánh không cho quân nhà Tống sang sông.  Quân Tống mới chặt gỗ làm máy bắn đá sang như mưa, thuyền của ta thủng nát mất nhiều, quân-sĩ chết hàng mấy nghìn người.  Lúc bấy giờ quân nhà Tống đánh hăng lắm, Lý thường Kiệt hết sức chống giữ, nhưng sợ quân mình có ngã lòng chăng, bèn đặt ra một chuyện nói rằng có thần cho bốn câu thơ :

 

                        Nam-quốc sơn-hà Nam đế cư

                        Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

                        Như hà nghịch lỗ lai xâm -phạm

                        Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

 

       “Quân-lính nghe  đọc mấy câu thơ ấy, ai nấy đều nức lòng đáng giặc, quân nhà Tống không tiến lên được.  Hai bên cứ chống giữ nhau mãi.  Lý-triều sợ đánh lâu không lợi, bèn sai sứ sang Tống xin hoãn binh.

 

       “Vua Tống thấy quân mình không tiến lên  được, mà lại  đóng  ở chỗ chướng địa, quân-sĩ trước sang hơn 8 vạn, sau chết đến quá nửa, cho nên cũng thuận hoãn-binh lui về, chiếm-giữ châu Quảng-nguyên (bây giờ là châu Quảng-uyên, tỉnh Cao-bằng), châu Tư-lang (bây giờ là châu Thượng-lang và Hạ-lang, tỉnh Cao-bằng), châu Tô, châu Mậu (ở giáp-giới tỉnh Cao-bằng và tỉnh Lạng-sơn) và huyện Quảng-lang (Ôn-châu, tỉnh Lạng-sơn).

 

        “Đến năm mậu-ngọ (1078) Lý nhân Tông sai Đào tôn Nguyên đưa voi sang cống nhà Tống và  đòi lại những châu huyện  ở  mạn Quảng-nguyên. 

 

            “Vua Tống bắt phải trả những người châu Khâm, châu Liêm và châu Ung mà quân nhà Lý bắt về ngày trước, rồi mới trả châu huyện cho nhà Lý.  Sang năm kỷ-mùi (1079) Nhân-tông cho những người Tàu về nước , tất cả chỉ có 221 người. 

 

Con trai thì thích ba chữ vào trán, từ 15 tuổi trở lên thì thích: “Thiên-tử binh; 20 tuổi trở lên thì thích: Đầu Nam-triều; còn con gái thì thích vào tay trái hai chữ: Quan-khách.

 

            “Đất Quảng-nguyên từ khi bọn Quách Quì lấy được, cải tên là Thuận châu và có 3.000 quân Tống ở lại giữ, nhưng vì đất lam-chướng, mười phần chết đến năm sáu.

 

            “Đến khi nhà Lý cho những người châu Khâm, châu Liêm và châu Ung về Tàu, vua nhà Tống trả lại châu Quảng-nguyên. Nhưng vì có người nói rằng châu ấy có nhiều vàng, người Tống tiếc của, làm hai câu thơ rằng:

                                                  

                        Nhân tham Giao-chỉ tượng.

                        Khước thất Quảng-nguyên kim.

   

            “Đến mùa hạ năm giáp-tí (1084) Nhân-tông sai quan binh-bộ Thị-lang là Lê văn Thịnh sang nhà Tống bàn việc chia địa-giới.  Lê văn Thịnh phân-giải mọi lẽ, nhà Tống trả nốt cả mấy huyện mà trước còn giữ lại.  Từ đó nước ta và nước Tàu lại thông sứ như cũ.

 

            “Năm  đinh-mão (1087) vua nhà Tống phong cho Nhân-tông là Nam bình-vương.

 

            “Nhà Tống bấy giờ đã suy-nhược, đến năm bính-ngọ (1126) nước Kim (Mãn-châu) sang lấy mất cả phía bắc nước Tàu, nhà Tống dời đô về đóng ở Hàng-châu (thuộc Chiết-giang) gọi là Nam-tống.

(Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử lược)

Advertisements

Quảng cáo/Rao vặt

1 Comment on Bọ ngựa chống xe

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: