1. Vài kỷ niệm văn chương
Dâu bể đời người biến đổi thay
Đầu xanh thoắt bạc có ai hay
Trăm năm cuộc sống là bao nhỉ
Gởi lại đời sau chuyện kiếp này….
Trước năm 1975 tại Sài gòn tôi có một tủ sách quý luôn luôn được khoá kỹ và chìa khoá cất giữ một nơi thật kín đáo. Tủ sách gồm vài ba trăm cuốn có chữ ký của tác giả đề tặng, và quý hiếm nhất là có khoảng hai mươi bức thơ tình của một nữ văn sĩ gởi nhà văn Võ Phiến và nguyên thảo bản thủ bút của Nhất Linh khi ông viết truyện dài “Giòng sông Thanh Thuỷ”. Bản thảo truyện dài “Giòng sông Thanh Thuỷ” do nhà văn nữ của Tự Lực Văn Đoàn Nguyễn Thị Vinh trao tặng, trước khi Sài gòn sụp đổ tôi đã giao lại cho con trai của văn hào Nhất Linh.
Trong khoảng 300 cuốn có chữ ký của tác giả đó, có hơn mười cuốn của nhà văn miền bắc Nguyễn Hiến Lê và hơn mười cuốn của nhà văn miền nam Bình Nguyên Lộc. Ông Nguyễn Hiến Lê là nhà văn đầy nhân cách, một học giả thận trọng làm việc không ngừng nghỉ, cả đời ông để lại hơn 100 tác phẩm vô cùng hữu ích cho kiến thức con người. Khi tôi cưới vợ, ông mang tặng một tá sách do ông viết với dòng chữ đề tặng trân quý chứa chan cảm tình. Sau đó khi tôi xuất bản tập thơ “Lên Bảy” dành cho thiếu nhi, ông viết cho “Lời giới thiệu” vô cùng nồng nhiệt, tôi thích thú như lời đề tựa của thi sĩ Vũ Hoàng Chương trên thi phẩm “Trời thơ bao la” của tôi xuất bản năm 1965.
Nhà văn Bình Nguyên Lộc tên thật là Tô Văn Tuấn sinh ở Tân Uyên, Biên Hoà, ông thường đến thư viện của Bộ Canh Nông, một trong những thư viện toàn sách Pháp văn lớn nhất Sài gòn, để tham khảo và thường ghé thăm tôi tại văn phòng làm việc. Cuộc di cư vĩ đại năm 1954 hàng triệu người bắc vào nam, hai nền văn hoá khác biệt va chạm hoà hợp lẫn nhau đưa cuộc sống tiến lên tốt đẹp hài hoà. Hai tác phẩm tiêu biểu văn chương mô tả sâu sắc sinh hoạt đời sống trong giai đoạn này là quyển “Trăng nước Đồng Nai” của nhà văn miền bắc Nguyễn Hoạt xuất bản năm 1958 và “Đò Dọc” của Bình Nguyên Lộc xuất bản năm 1959. Quả thật lúc ấy tôi thích những nhân vật thanh niên Bắc kỳ của Nguyễn Hoạt và yêu cái đẹp chân thành giản dị của các cô gái Đồng Nai qua những nhân vật trong “Đò dọc” của Tô tiên sinh. Có lần sau khi đọc quyển “Những bưóc lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc” do ông viết năm 1966, tôi tinh nghịch hỏi ông: có phải ông là hậu duệ của thi sĩ Tô Đông Pha, là con cháu dòng dỏi họ Tô, đã ra đi trên 50 chiến thuyền chở 3000 binh lính gia quyến thân tộc do Tổng binh Trần Thượng Xuyên chỉ huy, vượt biển qua Việt Nam vào năn 1679, khi nhà Minh sụp đổ? Ông chỉ yên lặng mỉm cười. Khi đọc quyển “Từ Thức về trần” do ông viết năm 1969, tôi thấy mơ hồ câu trả lời đó.
Khoảng năm 1967 danh hài lừng danh trên thế giới Bob Hope đến Việt Nam để giúp vui cho quân đội Hoa Kỳ tại căn cứ quân sự trong tỉnh Biên Hoà. Cùng đi với Bob Hope có nữ danh ca Raquel Welch với giọng hát truyền cảm đa nghệ đa tài. Trung tá Bill Legro mời tôi và nhà văn Bình Nguyên Lộc tham dự cuộc trình diển hiếm hoi này gọi là chút đáp lễ cho Tô tiên sinh đã hướng dẫn ông thăm viếng chùa Long Thiền tại Biên Hoà được xây dựng vào năm 1664, một ngôi chùa cổ với lối kiến trúc theo kiểu chữ “Tam” chạm trổ công phu.
Mở đầu cho cuộc trình diễn, Bob Hope đã hài hước nói ngay:
-Thưa các bạn, tôi đến đây theo lời mời của các bạn, còn các bạn đến đất nước Việt Nam xa xôi nầy là do lời mời của ông Hồ Chí Minh, Chủ Tịch Miền Bắc Việt Nam, ông ta mời các bạn đến đây bằng súng đạn, bằng sự xâm lăng vào lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hoà..
Tiếng vỗ tay, tiếng cười hoan hô vang dậy của hàng ngàn quân nhân Hoa Kỳ làm Bob Hope dừng lại đứng lặng yên thưởng thức sự hài hước tế nhị của mình.
Nhà văn Bình Nguyên Lộc lên tiếng: “Bob Hope là mẫu “người Mỹ sâu sắc” chứ không phải “người Mỹ xấu xí” như tên tác phẩm của William Lederer và Eugene Burdick, một quyển sách đã bán hàng triệu bản, quyển sách viết trào lộng về sự sai lầm của chánh sách ngoại giao Hoa Kỳ ở Đông Nam Á.”
Rất tiếc Tô tiên sinh sang Hoa Kỳ sau năm 1990, tôi không được gặp ông một lần nào nữa, trước khi ông mất, tôi chỉ gặp được anh Lâm Sĩ Đắt, người đồng hương với ông.
Một văn hữu tuy tôi chỉ có vài ba quyển sách của ông trong tủ sách quý, nhưng chúng tôi có duyên gặp gỡ nhau rất nhiều lần ở Houston, đó là nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Tôi đã cùng con trai của anh nhờ hai Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ tại tiểu bang Texas can thiệp với chính quyền hữu trách, để anh sớm ra đi đoàn tụ với gia đình. Trong thơ gởi hai Thượng nghị sĩ Hoa kỳ tôi đã ví Doãn Quốc Sỹ là nhà văn Soljenitsyne Việt Nam. Trong buổi họp mặt thân mật tại nhà tôi, sau hai tuần anh đến vùng đất tự do, chúng tôi đã ôm nhau vui mừng rớm lệ. Anh là nhà văn hiếm hoi có bằng Cao học tại đại học Hoa Kỳ, một nhà văn có tài, can đãm và đầy nhân cách.
Trong trường thiên tiểu thuyết “Khu rừng lau”, Doãn Quốc Sỹ đã xây dựng một nhân vật theo khoa tâm lý học: một người lúc thiếu thời đã hành động dâm ô du đảng thì cá tính xấu xa nầy sẽ theo y suốt cả đời….
Cuối năm 1960, Bộ Canh Nông và Điền Địa Việt Nam Cộng Hoà tổ chức hội nghị Lương nông Quốc tế tại Sài gòn, anh Doãn Quốc Sỹ đã tặng tôi một tập tài liệu của Viện nghiên cứu dân số Pháp quốc viết về dân số thế giới để tôi soạn bài “Dân số và thực phẩm” đăng trên tạp chí Bách khoa. Dân số trên toàn thế giới năm 1000 vào khoảng 300 triệu người và năm 1960 đã lên đến 3 tỷ người. Cách tính toán của các nhà nghiên cứu Pháp đã phù hợp với con số của Cơ quan Điều tra dân số Hoa kỳ, dầu tài liệu của Hoa kỳ được công bố vào tháng 3 năm 2006, 46 năm sau:
Dân số trên thế giới Dân số nước Việt Nam
Năm Số người Năm Số người
1000 310 triệu
1400 645 triệu 1407 9 triệu 300 ngàn (1)
1900 1600 triệu (1) Theo Đại Việt Sử ký toàn thư, năm 1407 nhà
1960 3000 triệu Minh sang chiếm nước ta, họ đã kiểm kê tất cả số
1987 5000 triệu hộ Việt Nam là 3129500 hộ trong 48 phủ châu và
1999 6000 triệu 168 huyện. Người viết phỏng tính mỗi hộ trung
bình 3 người.
2006 6500 triệu 2006 85 triệu
Năm 1960 khi tôi gặp nhà văn Doãn Quốc Sỹ thế gìới chỉ có 3 tỷ người, năm 2005 đưa Doãn tiên sinh du xuân vào tuổi 82 thế giới đã hơn 6 tỷ người, tôi thấy ông quả thực đã lạc lỏng giữa “khu rừng lau”….