1. Vĩnh biệt Tổng thống Gerald R. Ford
Tin Tổng thống Gerald R. Ford qua đời lúc 6h45 chiều ngày 26 tháng 12, 2006 đến với người Mỹ gốc Việt tại Hoa kỳ, đánh thức dậy một dĩ vãng bi thảm khốc liệt trong đời người với những khắc khoải ưu tư.
Ngày 23-4-1975, Tổng thống G. R. Ford đến đại học Tulane thành phố New Orleans thuộc tiểu bang Louisiana để đọc một bài diễn văn đã được soạn thảo thật kỹ; bài diễn văn hàm súc bóng bẩy văn chương ẩn dụ, hầu tuyên bố chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Tại sao Tòa Bạch Ốc lại chọn đại học Tulane? Lý do thứ nhất, đại học Tulane là một trong 50 đại học danh tiếng tốt nhất Hoa Kỳ, được sắp ngang hàng với đại học Harvard, MIT (thuộc tiểu bang Massachussetts), đại học Stanford (California), đại học Rice (Texas). Lý do thứ hai, người Hoa Kỳ vô cùng hãnh diện trận chiến ngày 08 tháng 1 năm 1815 tại New Orleans, trận chiến thắng vẻ vang trong công cuộc giành độc lập, quân đội Hoa Kỳ chỉ với một lực lượng tham chiến gần 5000 người đã đánh bại quân Anh với quân số 14,450 người, gây thiệt hại cho quân Anh 2,000 người, trong khi quân lực Hoa Kỳ chỉ có 13 người tử thương. Tướng Andrew Jackson, người anh hùng của chiến thắng này, đã được dân chúng bầu ông vào chức vụ Tổng thống thứ 7 của Hoa Kỳ và sau đó được tái đắc cử nhiệm kỳ thứ hai.
Vì vậy, đây là nơi tốt nhất cho vị Tổng thống thứ 38 Hoa Kỳ, G.R. Ford, vị Tổng thống không phải do dân bầu lên, trong bài diễn văn dài 26 phút ngày 23-4-2975, tại đại học Tulane, New Orleans, Tổng thống Ford tuyên bố: “Ngày hôm nay Hoa Kỳ có thể lấy lại niềm hãnh diện tự hào đã từng có, trước cuộc chiến Việt Nam. Nhưng Hoa Kỳ không thể đạt được thành công cho một cuộc chiến mà Hoa Kỳ xem như đã chấm dứt.” (Nguyên văn: “Today America can regain the sense of pride that existed before Vietnam. But it cannot be achieved by refighting a war that is finished as far as America is concerned.”)
Lời tuyên bố của Tổng thống G.R. Ford đã dập tắt hy vọng mong manh cuối cùng vào sự viện trợ của Hoa Kỳ để Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục chiến đấu sống còn.
Ngày hôm nay, sau gần 32 năm bỏ nước ra đi, nhờ đọc nhiều tài liệu lịch sử được giải mật, ngồi bình tâm lại, riêng cá nhân tôi, tôi thấy rõ hơn Tổng thống G.R. Ford: một con người trung thực, thẳng thắn và nhân ái.
Trong lễ tuyên thệ nhậm chức Tổng thống ngày 09 tháng 8 năm 1974, ông Ford nói: “Nếu dân chúng đã không chọn tôi bằng phiếu kín, và tôi cũng không nhận chức vụ này với bất cứ lời hứa hẹn nào. Tôi đã không có cuộc tranh cử cho chức vụ Tổng thống hay Phó Tổng thống. Tôi không mang nợ ai, ngoại trừ một người đàn bà, người vợ yêu dấu của tôi khi tôi bắt đầu nhiệm vụ khó khăn nầy.” (Nguyên văn: “If you have not chosen me by secret ballots, neither have I gained office by any secret promises. I have not campaigned either for the presidency or the vice presidency. I am indebted to no man, and only to one woman, my dear wife, as I begin this very difficult job.”) Ông G.R. Ford đã rõ ràng minh bạch như vậy, ông nhậm chức Tổng thống vào một thời kỳ quốc gia Hoa kỳ đang đương đầu với những khủng hoảng cực kỳ khó khăn chưa từng có, ông nói: “Đây là một giờ phút lịch sử làm nhức óc và đau tim chúng ta.” (Nguyên văn trong bài diễn văn nhậm chức: “This is an hour of history that troubles our minds and hurts our hearts.”)
Lúc bấy giờ, nhiều người Hoa Kỳ đã thất vọng bất bình Tổng thống G.R. Ford về hành động ông ân xá Tổng thống Richard Nixon vì vụ tai tiếng Watergate, cũng như nhiều người Việt Nam oán hận ông về bài diễn văn tuyên bố chấm dứt chiến tranh Việt Nam tại đại học Tulane. Hai vụ mưu sát Tổng thống G.R. Ford vào những ngày 05-5-1975 và 22-9-1975 không thành, ông thoát hiểm nhờ những bất ngờ may mắn. Vì vậy, trong tháng 10-1975, Tổng thống G.R. Ford đến trại Fort Chaffee, tiểu bang Arkansas, thăm viếng 20 ngàn người Việt Nam tỵ nạn đang tạm trú ở đây, cơ quan bảo vệ yếu nhân Tòa Bạch Ốc đã áp dụng một biện pháp an ninh vô cùng gắt gao chặt chẽ, an tòan khoảng cách, nhưng Tổng thống Ford đã bất chấp rẽ đám bảo vệ, đến bắt tay một số người cao tuổi, khuôn mặt ông đượm nét u buồn, xót xa, chia xẻ, thương người.
Gia đình chúng tôi đến trại tỵ nạn Fort Chaffee vào ngày 09-5-1975, 12 ngày trước khi Tổng thống G.R. Ford ký đạo luật dành một ngân khoản 405 triệu đô la cho Chương trình Định cư Người tỵ nạn Đông Dương. Theo cuộc trưng cầu dân ý lúc bấy giờ, tháng 5-1975, có đến 74% dân số Hoa Kỳ chống đối người tỵ nạn Việt Nam, vì những hình ảnh xấu xa do những phóng viên chiến tranh thiên tả gởi từ Việt Nam về Hoa Kỳ. Tại thành phố Fort Smith gần trại Fort Chaffee, dân chúng tụ tập biểu tình chống đối liên miên, nhiều hình ảnh biểu tình đăng trên báo chí thành phố Fort Smith, với những khẩu hiệu xúc phạm đau đớn sâu xa đến người Việt Nam tỵ nạn chính trị vừa mới đến quốc gia nầy với hai bàn tay trắng. Tôi thảo luận với một số người hiểu biết và quyết định tình nguyện đứng ra đương đầu giải thích với nhóm biểu tình chống đối người tỵ nạn Việt Nam. Lúc đầu Ủy ban Điều hành Trại tỵ nạn không đồng ý, nhưng sau đó với sự giúp đỡ giải thích của ông Dave Lewis, một cựu đại úy Thủy quân lục chiến đã từng tham gia chiến trận tại Việt Nam, hiện làm Giám đốc Cơ quan Thiện nguyện Công giáo Hoa Kỳ tại Fort Chaffee, Ủy ban Điều hành Trại tỵ nạn đã nhờ hai quân cảnh Hoa Kỳ lái xe đưa tôi ra thành phố Fort Smith gặp nhóm biểu tình. Khi tôi đứng trên khán đài với bộ quần áo đơn giản bạc màu chỉ có trên người khi vượt thoát ra đi, đoàn biểu tình họ biết ngay tôi là người tỵ nạn Việt Nam.
Trước sự im lặng chờ đợi của hơn 200 người chống đối đó, tôi dõng dạc:
“Thưa quý vị, trong quý vị hôm nay ở đây, có ai đã từng thăm viếng hay làm việc ở Việt Nam?”
Có một số bàn tay giơ lên, tôi liếc mắt nhìn đảo qua và chọn mời hai người Mỹ có vẻ hiền hậu trí thức nhất lên đứng bên cạnh và tôi bắt đầu phỏng vấn.
Cuộc phỏng vấn hai người Mỹ kéo dài hơn nửa giờ, khi họ trả lời với những nhận xét tốt về đất nước Việt Nam, con người Việt Nam, tôi cướp lời họ để quả quyết nói với đoàn biểu tình rằng, người tỵ nạn chính trị Việt Nam đã liều chết bỏ nước ra đi với hai bàn tay trắng, nhưng một dân tộc cần cù, chịu khó, kiên nhẫn như người Việt Nam, nhất định chúng tôi sẽ sớm tự túc tự cường, nhất định không là một gánh nặng cho ngân sách Hoa Kỳ và sẽ đóng góp vào quốc gia nầy về mọi mặt.
Tôi hùng hồn say sưa trình bày giải thích và được sự hỗ trợ của hai nhân chúng, nên dần dà nhóm biểu tình từ từ giải tán. Ngày hôm sau tôi lại được xe chở ra thành phố Fort Smith để nói chuyện thảo luận với số người chống đối, vắng vẻ ít hơn nhiều và tiếp tục làm việc như vậy vài ngày sau đó, cho đến khi chấm dứt hẳn, không còn nhóm biểu tình chống đối. Tin tức tốt đẹp nầy được nhật báo thành phố Fort Smith đăng tải và sau đó đã được Tổng thống G.R. Ford đến Fort Chaffee tán thưởng khen tặng.
Từ đó tôi ý thức được một điều: phải nói, phải viết, phải làm bất cứ điều gì trong khả năng của mình để giải thích, trình bày nền văn hóa, văn minh Việt Nam, đánh tan những ngộ nhận của dân chúng Hoa Kỳ do sự bóp méo xuyên tạc của những người phóng viên báo chí, truyền hình phản chiến thiên tả đưa vào trí óc người Hoa Kỳ trước năm 1975.
Và tại trại tỵ nạn Fort Chaffe, bài thơ đầu tiên bằng Anh ngữ tôi đã sáng tác như sau:
The Vietnamese Refugee
The Vietnamese Refugee
What does he bring to American room?
A rose planted itself on the rock
And learning to bloom…
Dịch nghĩa:
Người tỵ nạn Việt Nam
Người tỵ nạn Việt Nam ra đi
Họ mang những gì đến Mỹ
Một cây hồng tự mọc trên đá
Và biết cách nở hoa đâm chồi kết lá…
Hoa hồng, một loại hoa ưa thích tượng trưng cho vẻ đẹp Việt Nam, bài thơ ý nghĩa đã được hiểu ngay là người tỵ nạn Việt Nam với truyền thống tinh thần đầy ý chí kiên nhẫn nghị lực và dầu gặp nhiều khó khăn nhưng biết làm cho đời sống phát triển nở hoa. Nhưng bài thơ còn gửi một ý nghĩa thứ hai ẩn dấu như nhiều bài thơ Việt Nam khác. Hoa hồng tượng trưng cho nền văn minh tinh thần Việt Nam và đá là tượng trưng cho văn minh kỹ thuật vật chất Hoa Kỳ. Cùng nhau bổ túc phát triển cả hai nên văn hóa sẽ tạo ra cái tốt nhất cho một cuộc sống đẹp hơn, đầy ý nghĩa phong phú hơn.
Bài thơ nầy đã được tác giả đọc trước cử tọa sinh viên đại học Tulane vào cuối tháng 4-1981, sáu năm sau khi Tổng thống G.R. Ford đến đây để tuyên bố chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Bài thơ nầy cũng được in trên nhiều tạp chí lớn Hoa Kỳ và trong tập thơ “America my first feelings” của tôi xuất bản vào cuối năm 1981; được gửi tặng Tổng thống Ford cùng nhều vị Tổng thống khác Hoa Kỳ. Sau khi gửi thư cảm ơn tôi với lời nồng nhiệt chúc mừng, Tổng thống Ford còn yêu cầu người bí thư gọi điện thoại cho tôi biết ông rất thích bài thơ The Vietnamese Refugee.
Ngày 30-4-1975, ngày buồn thảm nhất của dân tộc Việt Nam, không có một lãnh tụ nào, chỉ có Tổng thống G.R. Ford, ông đã tuyên bố: “Đó là ngày giờ buồn thảm nhất của tôi tại tòa Bạch ốc.” (Nguyên văn: “It was the saddest hour of my time in the White House.”) Trong niềm cảm thông sâu xa đến sự bất hạnh của một dân tộc, Tổng thống G.R. Ford đã hành động nhanh chóng với một tấm lòng quảng đại, rộng lượng để giúp người tỵ nạn Việt Nam. Tôi xin ghi lại một câu trong bài diễn văn của tôi đọc đón tiếp Tổng thống G.R. Ford tại trại tỵ nạn Fort Chaffee tháng 10-1975, như một lời đưa tiễn ông đến nơi an nghỉ cuối cùng:
“Thưa Tổng thống, cảm ơn ông và lòng tốt của ông sẽ mãi mãi ở trong tim của người Việt Nam tỵ nạn can trường.”
Huy Lực Bùi Tiên Khôi